Đứng từ xa, tôi cũng nhận ra anh ta, anh nhà báo Trần Hoài Sơn. Thằng Hơn móm, bạn học cũ, con chú Năm Nhiễu tiệm thuốc tây ỏ đầu phố. Anh ta theo xuồng của dân về thu huê lợi.
Cuộc đấu tranh đòi trở về thăm xóm vưòn cũ của đồng bào sáng nay - trước cửa nhà việc - thắng lợi dễ dàng đến nỗi không ai ngờ được. Long, Bá, Phiến, cái bộ ba ấy cùng một hành động, nhưng xuất phát từ mỗi quan điểm khác nhau. Từ lâu, đại úy Long không tán thành việc xúc dân. Theo hắn, cuối cùng rồi họ cũng nổi dậy phá ấp trở về. Ý của hắn, cứ cho dân trở về xóm vườn, rồi sẽ đưa lính đến chiếm giữ từng nơi, vừa chiếm dân vừa mở rộng cả đất đai. Cũng là ý kiến của một phái được cấp trên khen, nhưng chưa làm được vì thiếu quân! Thằng Bá thì nghĩ: không vườn, không đất, phải chạy gạo hàng ngày, họ có gì để tống tiền? Theo sự phân chia thì hắn ăn vào cái phần dân ấy. Có đánh đến hộc máu, họ cũng không có một đồng xu! Thằng đại diện Phiến thì nghĩ: ấp chiến lược như một quả bóng căng, phải mở vòi cho nó xì hơi! Chính nó bước ra, đứng trên thềm nhà việc, cầm một cái loa cuộn bằng giấy, nói vối mọi người:
– Bà con cứ về thu huê lợi. Chỉ xin bà con nhớ cho một điều, khi nào máy bay của chánh phủ kêu về thì đồng bào xuống xuồng, về cho đúng giờ. A lô - A lô...
Sáng nay con kinh lại nhộn nhịp mái chèo, hơn một trăm chiếc xuồng nối nhau xuôi theo con nước dưới tầm bay của con đầm già. Nhà báo Trần Hoài Sơn theo xuồng ghé bến, đứng nhìn cảnh trở về của chủ xuồng, lại theo một chiếc xuồng khác, cứ như vậy, anh đi dần vào trong. Cuối cùng anh ngồi trên chiếc xuồng của du kích, Bé Ba ngồi bơi lái, đưa anh đến tận bến nhà ông Hai, theo yêu cầu của anh xin gặp người chỉ huy cao nhất. Chúng tôi đưa Út Trầm báo tin từ lúc chiếc xuồng của anh ngồi quá giang bơi qua khỏi vọng gác của Út Đợ.
Tôi rời làng theo bộ đội từ năm một ngàn chín trăm bốn mươi tám - theo bộ đội từ năm mười bốn, tính từng năm thì đúng hai mươi ba năm, tôi mới gặp lại anh ta. Quần “tẹc gan”, áo sơ mi trắng, cao lêu nghêu, bên vai lủng lẳng cái máy ảnh, vẫn móm, vẫn đôi mắt ốc nhồi ấy.
– Đúng là nó, anh Năm. - Tôi nói với Năm Bờ.
– Có nên giới thiệu ông ngay với nó không? - Anh gỡ kiếng mát, bỏ vào túi áo bà ba, hỏi tôi.
– Đừng, để xem nó có nhận ra tôi không?
Từ lúc nghe tin, anh cứ băn khoăn. Với anh, đây là lần đầu tiếp xúc vối một đối tượng khác, anh chưa có kinh nghiệm, cũng chưa quen. Anh không lường được câu chuyện sẽ xoay chuyển đến đâu, đối đáp ra sao. Ngay cả việc ăn mặc thế nào cho hợp với đối tượng, anh cũng lúng túng. Đeo súng hay không đeo súng? Một con mắt bị hỏng, mang kiếng hay không mang kiếng?
Giữa anh với tôi, trước cuộc tiếp xúc này, ngang nhiên tôi là người thông thạo. Một dạo về công tác ở đặc khu Sài Gòn, tôi có gặp gỡ với một số sinh viên, trí thức, cũng đã quen.
– Dù chính kiến có khác nhau, khi họ bước chân vào vùng giải phóng, trong lòng họ ít nhiều đều có thiện chí. Nếu là một kẻ xấu, vào vối một động cơ xấu, họ cũng không dám ngang nhiên mà ngược lại: càng xấu càng rụt rè. - Tôi nói với anh kinh nghiệm của tôi.
Anh gật gù, nhưng vẫn bước tới bước lui, ngồi không yên.
– Mấy tay nhà báo hay hỏi ngoắt ngoéo lắm! - Anh vẫn cứ lo. Thế nhưng, khi anh nhà báo Trần Hoài Sơn theo hai cô du kích bước vào sân, thì anh lại bặt thiệp, chủ động, ngoài ý nghĩ của tôi. Anh bước tới bắt tay chào hỏi, tự giới thiệu mình là ngưòi sẽ tiếp chuyện. Còn tôi, tôi lại bồn chồn xúc động trước cuộc gặp gỡ. Những đứa cùng một lứa tuổi, không kể những đứa chết hoặc hy sinh bên này hay bên kia, những đứa còn sống, dù có đi trăm ngả khác nhau, rồi cũng có lúc gặp lại nhau chỗ này, không hẹn trước. Sau cái bắt tay chào hỏi, thằng Hơn vẫn chưa nhận ra tôi.
Nó không thể ngờ, tôi lại càng thấy thú vị. Năm Bờ đưa nhà báo vào nhà, nhà ông Hai. Không phải nhà sàn mà nhà đất nền cao, bộ ngựa gõ để tiếp khách là nắp hầm chống phi pháo. Nhà ông không phải là nhà bỏ hoang, sạch sẽ, tinh tươm, vẫn giữ được cách trang trí của một ngôi nhà kháng chiến.
Bàn thờ ông bà đặt giữa nhà. Khói hương tỏa ấm. Ảnh Bác Hồ trên cao, ở giữa nơi trang trọng nhứt. Dưới ảnh Bác, hai bên là bằng khen và huân chương được lồng kiếng, đóng khung. Dưới nữa là hình ảnh của bộ đội du kích chụp chung với gia đình.
– Thưa bác, bác cũng vừa mới về? - Nhà báo Trần Hoài Sơn chào hỏi chủ nhà.
– Không! Tôi ở đây từ ngày cha sanh mẹ đẻ tới giờ. Bà con vì hoàn cảnh bức bách phải đi, tôi không dám trách, nhưng còn về phần tôi, nói thiệt với cháu, nếu Mặt trận chỉ còn một cục đất bằng nắm tay thì tôi cũng “tàng hình” nhỏ bằng con kiến, tôi làm hang tôi ở, tôi không đi.
Ông Hai tuổi gần sáu mươi, không để râu, lúc nào cũng cạo sạch, tóc hớt cao, nhỏ người, trông rất gọn, nổi tiếng là ông già vui tính. Chuyện gì đối với ông cũng có thể biến thành chuyện vui được.
– Mấy cháu uống nước.
Nhà báo Trần Hoài Sơn hãy còn tò mò, nhìn tấm huân chương lồng kiếng.
– Thưa bác, huân chương này là của ai vậy?
– Huân chương của con nhỏ tôi.
– Thưa bác, huân chương đây ghi là thưởng cho chị Trần Thị Mai, chị Mai tức là Sáu Linh phải không? - Nhà báo Trần Hoài Sơn hỏi với giọng dè dặt.
– Con nhỏ tôi làm gì bằng cô Sáu.
– Chị Mai đi thoát ly hay là có gia đình, vừa nuôi con vừa công tác, hở bác?
– Chú hỏi thì tôi mới nói.
Tôi với Năm Bờ liếc nhìn nhau, không ngờ cuộc gặp gỡ lại mở đầu bằng chuyện của nhà ông Hai. Tánh của ông, nếu không ai hỏi thì không bao giờ ông nhắc tới, -chuyện của đứa con, - nhưng nếu có ai hỏi, dù có hỏi cho qua chuyện thì ông cũng không thể ghìm lại được.
– Con nhỏ của tôi, có một anh văn nghệ Khu định viết thành một vở tuồng. (Lần thứ nhất tôi nghe, cái đêm ông mang cá vồ đến mừng Năm Bờ, ông cũng mở đầu như vậy). Mới hơn hai mươi tuổi đầu mà đã góa hai đời chồng! Năm mười tám, tôi gả nó cho thằng Nhì, du kích xã. Hai đứa sống với nhau chưa đầy một năm, chưa kịp ra riêng, cũng chưa sanh đẻ gì thì chồng nó hy sinh.
Ông kể trong trận chống càn mùa mưa lũ, con rể ông một mình chống một chiếc xuồng với cây bá đỏ, bắn chìm hai chiếc tàu mủ của bọn Mỹ. Sau đó, một bầy trực thăng ba chiếc, bay thành hai tầng vây bắn anh. Anh thất thế, một mình một xuồng chơi vơi giữa đồng nước, bọn giặc bắc loa gọi anh đầu hàng; anh đáp lại chúng bằng tiếng súng, chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Xuồng anh bị đạn trực thăng rã tan ra từng mảnh. Còn anh, anh ôm chặt lấy súng, chìm sâu xuống đáy nước - Ông ngồi xếp bằng trên bộ ngựa gõ, một tay ấp vào chén trà, nhìn anh nhà báo, rồi nhìn ra cửa nói tiếp:
– Tôi nói với con nhỏ tôi: “Chồng mày nó không chịu đi trên mặt đất nữa, nó rửa chân, nó muốn ngồi trên bàn. Thôi, mày lập bàn thờ, mày thờ nó đi, đốt đèn đốt nhang cho ấm nhà”. Sau đó mấy tháng, một đoàn y tế ở trên quận về. Thấy mặt mày nó sạch sẽ, tay chân nó mềm mại, cô bác sĩ mới xin cho nó đi học nha y, làm nghề chữa răng. Nó muốn thoát ly, đi công tác cho khuây khỏa. Nó thành nghề. Trong quận này, ai cũng biết tên tuổi nó, người nào đau răng, cũng phải nhờ đến nó. Ba năm sau, đến ngày giỗ chồng, nó về thăm nhà, nó làm heo, nó mời anh em du kích với bà con hàng xóm. Trước khi đi nó xin tôi, xin gia đình bên chồng cho nó đi bước nữa. Nó hứa với anh bộ đội làm cán bộ trung đội. Thế mà...
Anh bộ đội, ngưòi con rể thứ hai của ông, chính là người chỉ huy một cánh quân đã bắt sống được xe tăng giặc. Anh có cách đánh riêng của anh, rất độc đáo. Anh ra lệnh cho chiến sĩ B.40, chỉ được bắn cháy chiếc xe đầu. Còn chiếc thứ hai, thì bắn trước mặt nó. Đúng như dự đoán của anh. Bọn ngồi trong hai chiếc xe sau thấy chiếc đi đầu bốc thành ngọn lửa xanh, chảy sụm như sáp, nó hoảng, thấy một đường lửa xẹt qua trước mặt, nó bỏ xe, nó nhảy. Cánh quân của anh vừa bắt được tù binh, vừa lấy được xe... Rồi trong một trận đánh trả lại bọn phản kích, anh để máu của mình thấm đậm trên đường phố.
Ông kể tiếp:
– Nó về đây, nó khóc với tôi, nói có người bảo là nó có số sát chồng. Tôi giận quá, tôi mắng: “Chồng của mày đứa thì bị trực thăng bắn, đứa thì chết vì pháo giặc, mày có cầm dao mày cắt cổ nó đâu mà sát chồng hả? Đồ mê tín dị đoan!”. Nó trở về quận, nó đưa đơn xin đi bộ đội. Trên không cho. Vì ở cái quận này chỉ có nó làm nghề chữa răng. Nghĩ thế nào, nó bỏ nó trốn. Có khổ không chứ? Trên mới chạy giấy cho khắp các trạm nói là nó tham ô một số tiền, trạm nào gặp phải bắt nó giữ lại. Chuyện đó tới tai tôi, tôi không tin, nhưng tôi nhục quá, không dám ló mặt nhìn bà con hàng xóm! Đường đất ở xứ này, nó đi ai mà bắt được, nó cần gì theo đưòng dây giao liên. Nó tìm được bộ đội của thằng chồng chưa cưới của nó. Anh em không bắt, không giải nó về quận, cũng không bắt giữ nó, thương tình là dâu bộ đội, anh em nuôi cơm, nhưng không dám nhận nó. May sao, nó gặp được chú Năm, chú là người tỉnh phái về, chú chỉ huy vùng này, chú hiểu nó. Đây, có chú ngồi đây, tôi nói có chú làm chứng. Chú giới thiệu cho nó đi học trường quân sự ở Rờ. Chú phê bình đồng chí làm giấy gởi theo trạm giao liên. Sau đó tôi được thư của đồng chí ấy ở quận gởi về cho tôi, đồng chí nói là đồng chí muốn giữ con nhỏ tôi ở lại công tác. Không có nó, cán bộ bị đau răng phải giới thiệu lên tỉnh. Đồng chí xin cán bộ chữa răng mà trên chưa cho, cuối cùng đồng chí tự phê với tôi. Cái thơ đó bây giờ tôi còn giữ đây. Nhờ cái thơ đó mà tôi mới dám ra khỏi nhà, lui tới với bà con hàng xóm. Chuyện con nhỏ của tôi như vậy đó.
– Thưa bác, bây giờ chị Mai đang công tác ở đâu? -Nhà báo Trần Hoài Sơn hỏi giọng rụt rè, lễ phép.
– Nó, làm nữ pháo binh, lưu động rày đây mai đó! Mấy cháu uống, để nguội hết.
– Dà. - Nhà báo Trần Hoài Sơn ngồi xếp bằng, đối diện với hai đứa tôi, nghe chuyện và thỉnh thoảng đưa mắt liếc nhìn Năm Bờ, có lẽ anh đã nhận ra dấu vết của sự hy sinh con mắt hỏng của Năm Bờ. Sau câu chuyện của ông Hai như đưa anh đến gần với chúng tôi, vẻ xúc động, hồi lâu, anh mới ngẩng lên, nói:
– Thưa bác với hai anh. Tôi vào đây thật đường đột, không xin phép trước hai anh, xin hai anh tha lỗi cho. Tôi không ngờ được đón tiếp như thế này, thân mật, ấm cúng và chuyện của bác Hai làm tôi hết sức cảm động. Tôi vào đây không có mục đích gì khác hơn là muốn tìm hiểu sự thật. Tôi là nhà báo. Không phải để viết, mà hiểu để cho tôi. Tôi đã trải qua nhiều chặng đường, tưởng đâu là mình hiểu mà mình đâu có hiểu. Tôi muốn hiểu vì sao các anh vẫn tồn tại. Tôi nhớ, từ năm một ngàn chín trăm năm mươi chín, hầu hết anh em kháng chiến đánh Tây còn ở lại đều bị bắt. Tôi có dịp đến thăm một vài nhà tù. Tôi nghĩ, các anh không còn gì nữa. Thì bất thình lình các anh lại nổi dậy. Là nhà báo, tôi hiểu vì sao Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Chính là vì cuộc nôi dậy ấy của các anh. Rồi đến quân Mỹ đổ quân, một đội quân vũ khí tối tân nhứt, tự hào là chưa hề chiến bại qua lịch sử chiến tranh của thế giới. Cũng có lúc, tôi tưỏng các anh bị đánh bạt đi. Thế rồi đến Mậu Thân năm sáu mươi tám, hôm đó tôi đang ngủ. Tôi bỗng nghe tiếng bom nổ, tôi giật mình, nhảy xuống giường, còn nghe cửa kiếng đang rung. Nhìn xuống đường tôi thấy bộ đội các anh đang tiến trên đưòng phố. Chiến tranh đã đến tận con đường trước cửa nhà mình rồi sao? Tôi nằm mơ chăng? Cánh cửa kiếng rạn nứt trả lời cho tôi. Tôi bàng hoàng. Tôi không hiểu, không thể hiểu. Tôi vào đây, chưa được gặp hai anh, thì tôi đã hiểu. Không ai trả lời cho câu hỏi của tôi mà chính cuộc sống trả lời cho tôi. Cuộc sống hùng hồn hơn tiếng nói. Tôi đứng nhìn bà con trở về xóm vườn cũ mà không cầm được nước mắt. Phía bên kia, họ có tất cả, tiền bạc, nhà cửa, xe cộ... nhiều vô kể, nhưng không có được một cử chỉ nhỏ như các anh. Họ dùng bom pháo không chỉ để giết người mà bắn phá cả vườn tược cây cỏ, còn các anh thì đi lượm từng trái xoài rụng cho nhân dân. Bà chủ xuồng cho tôi quá giang, bước vào nhà, thấy cô du kích chỉ cho những chỗ để xoài. Xoài giú trong lu vừa mới chín, xoài già còn đang giú dưới lớp lá chuối khô, xoài non được gom thành một đống riêng, bà khóc - “Vậy mà có lúc tao quên tụi mày!”, cảnh tượng này trả lời cho câu hỏi của tôi. Xin cám ơn. Cám ơn.
Anh dừng lại, hớp một hợp nước, để cái chén xuống, nhìn xuống mặt nước đăm đăm. Lần này, anh nói mà không nhìn chúng tôi:
– Tôi với đại úy Long, hai người có hai cuộc đời khác nhau, nhưng vốn là bạn. Chánh kiến có thể khác nhau, nhưng tình bạn không bao giờ quay mặt. Sáng nay, trước khi đi vào đây, tôi có nói với đại úy Long, tôi có giao hẹn trước, khi tôi về thì anh ấy không được quyền hỏi tôi một câu nào về mấy anh... Tôi đi vì mục đích của tôi. Và tôi cũng đã hứa với đại úy Long, tôi sẽ không cung cấp cho các anh một điều gì có hại cho Long. Đó là chuyện của đôi bên. Còn tôi, tôi là nhân chứng. Tôi hỏi thẳng: “Mày bằng lòng như vậy không?”. Long gật đầu, tôi mới đi. Bây giò hai anh cho phép tôi được giữ lời hứa.
Nhà báo Trần Hoài Sơn vẫn nhận thằng Long là bạn nhưng không ngẩng mặt nhìn chúng tôi, nói xong, anh vẫn cúi nhìn chén nưốc.
– Chúng tôi rất cần biết, nếu anh nói, chúng tôi rất muốn nghe. - Năm Bờ nói - Nhưng chúng tôi không ý định hỏi anh. Chúng tôi chỉ có ý định là tạo điều kiện thuận lợi cho anh thăm vùng giải phóng, không chỉ ở đây, kể cả những chỗ khác rộng lớn hơn, nếu anh muốn.
– Cám ơn! Cám ơn! - Nhà báo Trần Hoài Sơn gật gù, nhưng vẫn chưa ngẩng nhìn chúng tôi. Đôi mắt vẫn nhìn đáy chén đăm đăm, anh nói:
– Tôi chưa dám nghĩ đến một chuyến đi xa. Xin hẹn vào một dịp khác. Lát nữa, xin hai anh cho phép tôi được theo xuồng của đồng bào chở xoài để trỏ về. Và sáng mai tôi lên đưòng trở về Sài Gòn.
– Ở lại dùng cơm trưa với chúng tôi rồi hãy về. Còn sớm, từ đây tới chiều, vẫn còn xuồng trở về. - Ông Hai mời ông nhà báo.
– Cháu xin nhận, cháu xin ăn một bữa cơm với bác, với hai anh, trong vùng giải phóng.
– Út a, Út! - Ông Hai bước xuống bộ ngựa, xoay mặt nhìn ra sau bếp gọi con.
– Dạạ... ạ.
– Mày ra ao, xúc hai con cá vồ, nghe hôn?
– Dạạ... ạ.
Bên ngoài, một cơn gió thổi qua. Một trái xoài chín rụng đánh bẹp xuống sân. Ông Hai nhìn ra, nghĩ gì, ông cười lớn:
– Mấy hôm nay, tôi đi lo lượm xoài cho hàng xóm, không để ý tới cây xoài trước cửa nhà mình. Khi nó đã chín, không hái nó cũng rụng. Mấy cháu uống nước, bác chạy xuống bếp một chút.
– Thưa bác - Anh nhà báo Trần Hoài Sơn nói - Hai anh thì cháu chưa dám, nhưng riêng phần bác, cháu muốn xin bác một tấm hình, kỷ niệm.
– Ô! Tưởng gì, cái đó thì được. Cháu xem, bác đứng chỗ nào coi cho được nà?
– Xin lỗi hai anh, mời bác ra sân, mồi bác đứng trước cửa.
Ông Hai đứng trước cửa nhà, ngoài mái hiên, mặt hướng về ánh mặt trời, ông gài lại nút cổ, rồi đưa tay vuốt lại mái tóc. Nhà báo Trần Hoài Sơn mở máy, máy kê vào một bên mắt, cúi lom khom bước lên phía trước rồi lại lùi ra sau. Tách một cái.
– Xong! Xin bác cái nữa cho chắc. - Cái máy lại đánh tách một cái.
– Cám ơn bác!
Anh cười. Anh nhìn chúng tôi, không xa lạ nữa. Cả ba người đứng giữa sân. Đang lúc trò chuyện thoải mái về mùa màng, về cây cỏ, tôi vỗ vai anh:
– Hơn! Không nhận ra mình sao? - Lúc đó, tôi nghĩ gọi tên và xưng mình là tiện nhất.
Nghe gọi đúng tên cúng cơm, nhà báo Trần Hoài Sơn khẽ giật mình, hai con mắt ốc nhồi mở to, anh nhìn tôi, cái môi dưối trề ra, run run.
– Trời ơi! Thắng! Thắng phải không?
– Chú Năm có khỏe không? - Tôi hỏi lại.
– Đúng! Đúng rồi! Thắng. Con của chú Hai hớt tóc. Có ngờ đâu, có ngờ đâu! - Hơn xúc động đến cuống lên - Bao nhiêu năm rồi? Bao nhiêu năm rồi?
– Hai mươi năm có hơn!
– Lúc tôi ở Sài Gòn về, tôi hỏi thì nghe Thắng đi Vệ quốc đoàn. Biền biệt! Mình có lỗi, nãy giờ không nhận ra. - Anh xoay qua Năm Bờ - Thưa anh, đây là bạn cùng phố, mà cũng là bạn học của tôi, trường quận.
– Bây giờ hai anh vào nhà nói chuyện chơi, còn tôi, tôi xin phép đi thăm bà con. - Ý của Năm Bờ muốn để tôi tiếp anh nhà báo. Anh đi rồi, hai đứa tôi vào nhà. Tôi hỏi đùa nhà báo Trần Hoài Sơn:
– Hơn bây giờ làm nhà báo. Hơn vào đây để tìm hiểu. Còn tôi, nếu tôi cũng là nhà báo, và nếu tôi muốn ra ngoài đó cũng để tìm hiểu như Hơn, thì liệu tôi có được an toàn, được giúp đỡ không.
Nhà báo Trần Hoài Sơn cười:
– Mình hiểu câu hỏi của Thắng. Với tư cách cá nhân, tôi có thể giúp Thắng, nếu Thắng muốn. Chuyện đó không dễ, cũng không khó.
Trong lúc tôi với Hơn ngồi ôn lại chuyện cũ thời thơ ấu, thì bên ngoài, vì thương những đứa nhỏ trong ấp chiến lược mới trở về, trồi nổi một cơn dông. Tôi và Hơn thời thơ ấu cũng như những đứa nhỏ ở đây, ở những làng xoài, hễ nghe ngọn gió của cơn dông lao xao thổi tới, dù có làm gì, cũng buông ra, đổ ra đường, kêu réo nhau chạy về các vườn xoài, giành nhau từng trái. Giành được một trái xoài trong tay - chẳng đáng giá là bao nhưng sướng vô cùng. Cầm trái xoài, quẹt vào ống quần cho sạch mủ đưa miệng cắn làm đôi, nhai rào rạo, vừa nhai vừa nhăn mặt. “Độp” đâu đó một trái vừa rụng xuống, thế là cả lũ lại ùa tới chen lấn, đứa này chụp lên tay đứa kia, có đứa vừa nắm được, không kịp quẹt vào ống quần cho sạch mủ, cứ thế mà đưa lên nhai luôn. Dông không thổi tới thì mỗi
đứa một gốc, ngửa cổ lên nhìn, chu miệng huýt gió gọi cơn dông.
Mấy chị gái ở nhà chờ mấy thằng em đi lượm xoài trở về, làm sẵn một tô nước mắm đường. Xoài chấm nước mắm đường, vừa chua, vừa mặn, vừa ngọt là món các chị gái ưa nhất.
Nếu dông không thổi tan những đám mây đen nghẹt thì trời đổ mưa. Thật sướng, lũ nhỏ của hai đứa tôi lúc đó, cũng như lũ nhỏ bây giờ; lấy lá chuối bó thành trái banh, đá dưới mưa. Mưa tạnh, lạnh run cầm cập, vẫn thấy chưa thỏa lại nhào xuống sông lặn hụp đuổi bắt nhau cho đến lúc có cha mẹ cầm một cây roi đứng trên bến hò hét mới chịu lên.
Bên ngoài trời đổ mưa. Chúng tôi trò chuyện và nghe tiếng reo của lũ nhỏ.
– Ba tôi sau này bị sạt nghiệp - Hơn nhìn mưa nói - vì cái tính kiêu căng. Khoảng năm một nghìn chín trăm bốn mươi chín, ba tôi lại mở một lò thợ bạc. Làm thợ bạc dòm đâu cũng thấy vàng. Mỗi sáng quét nhà, rác cũng phải đổ vào một chỗ, để đó, trước sau gì cũng có người tới hỏi mua. Cái chậu nước rửa tay của thợ gọi là con heo, cũng bán được. Giấy nhám với giấy vải dùng để đánh bóng, cũng bán được. Ba tôi muốn làm giàu, nhưng lại không biết nghề. Ba tôi mới hùn với một ông thợ bạc già, mở lò, có hơn mười tay thợ. Đã làm chủ lò thì phải mua vàng. Anh biết, người mua vàng nào cũng vậy, trong tay phải có một cái chìa khóa. Trên đầu khóa có cục vàng nho nhỏ, từ vàng sáu vàng bảy cho đến vàng mười. Khi nhận hàng của khách đem bán, người mua phải cọ cái món hàng đó vào một cục đá xanh, rồi lại cọ vàng trên chìa khóa của mình, sau đó bôi axít lên. Hai thứ vàng cùng hiện lên, nhìn theo đó mà so sánh. Vàng giả đụng phải a xít, nó sôi lên ngả màu đen. Thông thưòng, ngưòi ta xem vàng, người ta chỉ nói vàng này là vàng tám, vàng chín hoặc vàng mười. Ít có ai dám nói vàng này là vàng tám rưỡi, hay chín rưỡi, lại càng không dám nói là vàng tám hai hay tám tư. Nhận ra được mặt vàng tinh vi như vậy, phải là tay sành lâu đời. Ba mình biết gì, thế mà, mỗi lần coi vàng là ông cứ oang oang nào là vàng tám ba, vàng tám rưỡi... Dân thợ họ ghét. Họ chơi xỏ. Họ đổi mất chai a xít đặt trên bàn cạnh bên cây cân tiểu ly. Thế là họ cho người của họ đem vàng giả đến, họ bán. Vàng giả gặp a xít giả nó không sôi màu đen. Họ bán rẻ. Ba mình ham, cứ đổ tiền ra mua. Đến lúc dồn lại đem đi nấu mới té ngửa ra! Mình phải thôi học. Nếu không, mình còn đi học xa. Tôi ít khi trở về làng cho nên không có dịp gặp chú Hai. Làng mình với tôi bây giờ buồn lắm. Nói cho cùng, trên trái đất, với tôi, chẳng có chỗ nào vui!
Tôi chớm hiểu anh qua câu cuối cùng ấy. Con người chưa tìm được lý tưỏng, chưa thể tìm được niềm vui. Tôi thấy thương anh.
Bên ngoài mưa to. Tròi đã vào mùa mưa rồi.
Giây phút im lặng, hai ngưòi nhìn bụi mưa bay mờ trắng.
Trên giữa mái hiên nhà ông Hai, có một cái đuôi lá buông thõng dẫn theo một dòng mưa. Từng đợt đọng trên đuôi lá rơi xuống, đánh tách một cái, tự mình bắn tan ra. Hơn cúi nhìn những giọt mưa ấy, một vũng ưốt nhỏ tròn tia nước - Từng giọt nối nhau, rơi xuống, tách... tách... đều đều..