Đêm ấy, Năm Bờ gặp một chuyện bất ngờ. Mười ra tận mí vườn đón anh. Sau khi Út Đợ và các cô du kích quay trở về. Mười đi trước, anh đi sau, mò mẫm từng bước theo bờ mương. Mưa vẫn tầm tã, bỗng có một người lao tới, không rõ mặt.
– Ai? - Giọng súng đã gí vào bụng anh.
Nhanh tay, anh nắm chặt nòng súng, gạt qua, hỏi lại:
– Ai?
– Tôi.
– Mày tên gì?
– Sườn.
– Con anh Hai Mậu hả?
– Dạ phải. Còn ông?
– Mày không nhận ra chú sao? - Năm Bờ nắm cái vai áo của Sườn kéo gần lại, nói nhỏ vào lỗ tai nó từng tiếng một:
– Chú là Năm Bờ.
Cái tên của anh khiến cho chú phòng vệ dân sự giật mình.
– Trời đất ơi! Chú Năm đồng khởi!
Mười một năm về trước, Sườn mới chín tuổi, nhưng chú vẫn còn nhớ. Nhớ cái đêm đồng khởi dậy trời chuyển đất ấy. Cả xóm, cả làng đều nổi mõ, nổi chiêng. Súng nổ. Cả làng đều đổ ra đường, đuốc đỏ rực trời. Những đứa trẻ con hàng xóm như chú, có đứa chạy theo người lớn quơ được cái gì cầm cái ấy, đứa cầm dao, đứa cầm củi, còn chú thì chú vác cái thùng đặt ra giữa sân, đánh nghe phèn phèn, đánh đến móp xẹp một bên, phồng cả tay. Chú nghe mấy anh, mấy cô, mấy dì kéo nhau theo bộ đội ông Năm Bờ chụp bót. Không được đi, chú đứng ở giữa sân, cũng xung phong, cũng gào thét đến khàn đặc cả tiếng. Đồn bót của bọn Diệm ở chợ Vàm bốc lửa, đỏ cả trời đêm! Sáng hôm sau, chú với bọn trẻ con hàng xóm chạy đua ra chợ để nhìn lá cờ xanh đỏ ngôi sao vàng, và tay chú cũng cầm một lá cờ, chú chạy đi coi bộ đội ông Năm Bờ. Ông Năm Bờ tưởng ai, hóa ra là một anh trai trẻ, người cùng xóm, gọi cha mình bằng anh. Chú với lũ trẻ con đứng thập thò ngoài cửa, rụt rè đưa bàn tay sờ lên cái bá súng - lòng bàn tay mát rượi! Và hạnh phúc thay! Chú được chú Năm Bờ chỉ huy nắm tay kéo vào lòng, lúc đó, được đứng dựa lưng vào người chỉ huy, nhìn những đứa bạn đứng chung quanh chú thấy mình thiệt ngon! Chú tiếc sao mình không phải là người lớn để được làm lính của chú. Mười một năm qua cái ngày ấy đối với chú không thể quên. Mấy năm sau này, trong câu chuyện với bà con hàng xóm, cha của chú hay nói: “Trước sau gì chú Năm Bờ cũng trở về. Đồng Khởi tới nơi!” - Và bây giờ, chú Năm Bờ đã trở về, đang đứng trước mặt chú. Đồng khởi đã tới nơi!
– Chú Năm ơi! Cháu bị bắt buộc! - Hai tay chú rụng rời. - Cháu xin nộp cây súng này cho chú!
– Cháu cứ giữ lấy cây súng này mà canh gác cho đằng mình.
– Dạ.
– Đêm khuya mưa gió như vầy, cháu đi canh đi gác với ai?
– Dạ, cháu đi chém cá.
– Ba cháu khỏe không?
– Dạ khỏe, ba cháu nhắc chú hoài.
Trời vẫn mưa, đêm trong khu vườn tối đen, không nhìn rõ mặt nhau.
– Cháu nhận ra ai đây không?
– Dạ... ạ... dạ...
– Tôi - Mười hạ nòng súng của mình xuống.
– Chị Mười hả?
– Ừ... à, tôi!
– Vậy mà chị không rủ tôi.
– Còn ai như cháu nữa không? - Năm Bờ hỏi.
– Còn chớ chú, nhưng mà... để cháu coi lại, còn bây giờ thì cháu biết chắc có một đứa.
– Ai?
– Thằng Bổn.
– Bổn con chú Tư Giàu?
– Dạ phải.
– Sao cháu biết?
– Dạ, có lần nó nói với cháu, nó muốn ôm súng chạy vô trong, đi tìm chú, nhưng nó sợ gia đình bị liên can.
– Nói là chú muốn gặp nó.
– Hay là để cháu chạy đi kêu nó. Hồi nãy cháu rủ nó đi chém cá, nó kêu lạnh, nó trùm mền nó ngủ.
– Được, cháu đi đi, chú đứng đây, chú đợi.
– Chú đứng đây mưa lạnh lắm. Chị Mười, chị đưa chú Năm vô cái chòi của em, chỗ đó kín. Cháu đi nghe chú Năm.
– Em tin thằng Sườn không? - Năm Bờ hỏi khi Sưòn đã đi xa.
– Em tin!
– Thấy sao mà em tin?
– Em thấy nó ghét em.
– Còn thằng Bổn?
– Cũng vậy! Hai đứa nó chơi với nhau...
Sườn cầm cây súng, đứng trưóc cửa nhà thằng Bổn bên kia lộ.
– Thím Tư ơi! Thằng Bổn ngủ hay thức!
– Thức, đứa nào đó?
– Cháu, Sườn.
– Đi đâu mà mưa gió như vậy, vô đây.
– Dạ thôi! Bổn ơi!
Bổn, một thanh niên hai mươi tuổi, khỏe mạnh, nước da đen giòn, từ trong buồng nhảy ton ra.
– Bổn ơi, ra đây mau lên. - Bổn vố lấy tấm ni lông choàng qua ngưòi, chụp cây súng dựng bên vách, nhảy ra cửa.
– Giờ này đi đâu mà súng ống hả? Rủ ren chuyện gì đó, Sườn? - Thím hỏi gắt.
– Dạ không đi đâu đâu thím.
Thím Tư ló ra cửa, nói với theo hai đứa:
– Đừng có làm gì bậy bạ đó, nghen!
– Dạ không có gì đâu.
Sườn kéo Bổn đứng dưới gốc xoài.
– Lạnh quá, chuyện gì vậy mày?
– Tao bữa nay mà làm biếng thì tụi mình đứt đầu cả đám.
– Sao? Mày nói sao?
– Lạnh quá, có thuốc cho tao một điếu. Thuốc tao ướt nhẹp hết rồi.
– Sao? Chuyện gì, nói đi!
– Xem có ai không mày?
– Không, chỉ có mưa, nói đi.
– Đồng khởi tới nơi rồi.
– Cái gì? Đồng khởi, hả?
Sườn nói gằn từng tiếng một, như sau mỗi tiếng là một dấu phẩy vậy.
– Tao, nói, là, đồng, khởi, tới, nơi, rồi!
– Sao mày biết?
– Tao mới gặp chú Năm Bờ.
Đến phiên thằng Bổn giật mình khi nghe đến tên anh. Sườn lấy đó làm thú vị.
– Thiệt chơi mày?
– Tao nói dóc mày làm gì!
– Tụi mình có sao không?
– Có tao, mày vững bụng đi. Tao giới thiệu mày với chú rồi.
– Thiệt hông?
– Sao lại không thiệt.
– Sao mày được gặp chú?
– Tao đi đón chú chớ ai.
– Sao hồi nãy rủ tao đi chém cá?
– Tao nói giỡn với mày vậy thôi, chị Mười chỉ đón về.
– Cái bà nội đó, hèn chi. Nghe bả nói bả cầm súng trả thù cha là tao biết ngay, tao biết từ đầu mà. Vậy mà bả giấu tụi mình ha!
– Phải giữ bí mật chớ mày. Thôi đi đi!
– Nè Sườn, tao hỏi thiệt, gặp chú có làm sao không mậy?
– Tao đã nói với mày là tao giới thiệu mày với chú rồi mà! Tao bảo đảm. Đi.
– Ừ, đi, mày đi trước đi.
Cuộc gặp gỡ bất ngà ấy, nếu anh không phải là Năm Bờ, nếu là một người khác, dù tài dũng có hơn mà không gọi đúng tên cha người lính phòng vệ dân sự ấy thì sẽ ra sao? Không thể nào lường trước được tổn thất hay hiểm nguy, và chắc chắn không thể có được cuộc họp trong chòi củi giữa khu vườn.
Trong chòi củi. Sườn, Bổn ngồi sát vào nhau. Cái chòi quá nhỏ, Mười phải ngồi ra ngoài, lấy ni lông trùm kín đầu. Năm Bờ được nhường cho một chỗ rộng giữa chòi, ngồi trên một gốc củi khô. Mưa như xối nước, đêm đen, không thấy rõ mặt nhau, nhưng sự có mặt của Năm Bờ đã cho họ thấy rõ được bụng dạ của nhau.
– Đêm nay, tôi xin tuyên bố chánh thức ba đồng chí: Mười, Sườn, Bổn là đội du kích mật của Cách mạng. Ba đồng chí là một tổ. Ba đồng chí bầu lên một ngưòi chỉ huy.
– Dạ. Chị Mười đi trước, cháu xin bầu chị Mười.
– Dạ, cháu đồng ý.
– Bắt đầu từ giờ phút này nữ đồng chí Mười là tổ trưởng, hai đồng chí phải thi hành theo mạng lịnh của đồng chí Mười. Là chiến sĩ cách mạng, các đồng chí phải yêu thương nhau, đùm bọc nhau, chết sống có nhau.
– Dạ.
– Dạ.
– Các đồng chí có cảm tưởng gì, cứ phát biểu.
– Dạ, cháu xin hứa vối chú Năm là cháu sẽ theo chú tới mút mùa.
– Cháu cũng vậy, chừng nào chết cháu mới thôi.
Cuộc họp đầu tiên của tổ du kích chỉ có vậy, trong chòi củi, dưới đêm mưa. Trời tối đen, nhưng trước mặt họ là con đưòng sáng, thiêng liêng.
Sườn trở về nhà, lòng rạo rực, quên cả con dao chém cá. Sườn vào buồng, nắm cái ngón chân cái của cha, lắc nhè nhẹ - Ông già giật mình, mở mắt, lồm cồm ngồi dậy.
– Gì đó?
Sườn nói nhỏ vào tai cha:
– Chú Năm Bờ về.
– Mày nói gì, hả?
– Đồng khởi tới nơi rồi! Chú Năm về.
Ông già nháy mắt mấy cái.
– Mày nói sao? Ai về? Chú Năm Bờ hả?
– Con nói vậy mà cha không nghe à?
– Sao mày biết?
– Con đi đón.
Ông già lặng người nhìn lại đứa con. Nỗi lo cho đứa con khắc khoải trong lòng ông bấy nay, giờ tan đi hết.
– Thiệt vậy hả con?
– Chú Năm chú gởi lời thăm cha.
– Sao từ trước tới giờ mày không nói với tao.
– Cha nói kỳ quá. Con phải bí mật chớ! Thôi cha ngủ đi. Con phải đi.
– Mày đi đâu nữa, giờ này, trời mưa gió?
– Công việc của con bây giò nhi... ều lắm.
– Có họp hành với chú Năm, nói tao gỏi lời tạ ơn chú, nghe không?
Sườn bỏ mùng, bước ra, rồi lại quay vào.
– Gì nữa đó?
– Hôm qua con nghe cha nói cha định dỡ cái chòi củi? Cha đừng dỡ.
– Sao vậy?
– Kỷ niệm của con đó!
Ông già chợt hiểu. Nãy giờ ông tưởng nó đi chém cá ỏ ngoài vườn. Hai giọt nước mắt rưng rưng!