Mùa nước rồi lại mùa khô. Không ai nghiêng nổi cánh đồng, cũng không ai tát, nhưng mỗi năm sau cơn nước ròng rằm tháng chín thì nước trên cánh đồng cứ một chiều đổ ra sông, sông đổ ra biển.
Nằm trên võng treo lắt lẻo trên cành cây, ngủ đêm sáng dậy, nhìn xuống thấy mặt nước đã giật xa còn để lại quanh thân cây cái chớn nưốc đêm qua, nhìn ra đồng đã thấy gò đất trồi lên mặt nước, đây đó lô nhô cái thấp cái cao.
Bờ ruộng, mặt đường rồi sàn nhà, nước cạn dần...
Vọng gác của chúng tôi, mặt đất trong khu vườn đã cạn nước, nhưng hãy còn lầy lội, lớp lá mục nát nhão ra như bùn.
Tôi với Út Đợ mỗi đứa một cái leng, vét lại hầm. Trời đổi gió đã mấy hôm - Gió sáng nay, mát lạnh miên man, gió thổi lan tràn qua khắp cả cánh đồng, thổi vào khu vườn, lá trong khu vườn xao động, ngửa nghiêng.
– Gió chướng non thổi về rồi đó anh Thắng!
– Ờ! - Tôi đứng yên lắng nghe ngọn gió rồi xắn cái lưỡi beng xuống đất - ngọt xớt! - Lúc nước về nước đỏ ngầu! Lúc nước đi, nước trong veo, nước để lại trên mặt
đất một lớp phù sa. Hạt phù sa đọng lại trong hầm chúng tôi đầy dâng lên, hầm cạn nhách, không thể nào chui được. Lật cái beng lên, màu đất trông thật ngon mắt tươi đỏ như thịt non. Đất của mùa dưa hấu và mùa đậu dây. Nhưng sáng nay thì chúng tôi đưa lớp đất ngọt ngào này đắp lại nắp hầm, che chở cho mình. Trong lúc này cũng như chúng tôi, cũng như những người du kích ở trong làng, làng ở cạnh bên và xa hơn, những người dân hai bên bờ sông Cửu Long, mọi người đều đang đào đất. Người vét hầm, người đào hầm, đắp hầm, ngưòi thì dọn rẫy trồng đậu trồng lúa.
Hai đứa tôi vừa làm vừa trò chuyện.
– Ai làm gì ì ạch trong vườn đó?
Có ai đó đang hỏi, chưa trông thấy người, nhưng Út Đợ nhận ra tiếng.
– Ai như tiếng chị Bảy, phải hôn?
– Chú Út đó hả?
Chị Bảy Thá từ ngoài đường bước vào. Chị đã sanh rồi, đứa con gái, người chị trở nên dong dải, xanh xao và thướt tha.
– Cháu khỏe không chị?
– Nó sắp lật rồi.
– Chị đi đâu qua đây giờ này vậy chị Bảy?
– Thì cũng có chuyện mới đi chứ.
Chị vừa đi vừa đáp lại, chị đứng lại bên chiếc võng của tôi:
– Chị qua bên này cho hai em biết, có một ông ở Sài Gòn mới xuống, ở ngoài ấp vô đây, ghé qua nhà tôi, nói là muốn qua bên này, kiếm chú Năm Bờ với chú Thắng. Chú nhờ tôi qua đây hỏi giùm.
– Người đó ra sao? - Út Đợ hỏi.
– Tôi nhớ, hôm mùa khô rồi, chú đó có quá giang xuồng bà con mình, vô trỏng một lần. Nghe chú nói là chú có ăn gà hấp rượu ở nhà ông Hai Cò.
– Thôi tôi biết rồi, - Tôi nói - cao nhồng, ốm nhách, móm xọm, phải không chị Bảy?
– Đúng vậy, có đeo cái máy chụp hình nữa.
– Anh có hẹn với tụi tôi, chị dẫn ảnh qua đây giùm tụi tôi.
Chị Bảy Thá đi rồi, Út Đợ hỏi:
– Ông nhà báo hả anh Thắng?
– Phải.
– Thôi anh đi rửa tay, mặc quần dài mặc áo vô đi.
Tôi với Út Đợ đang ở trần, mặc quần đùi, chân tay bùn đất lấm lem. Tôi với anh chạy ra đường, xuống kinh, rửa tay chân.
Hai đứa tôi vừa mặc xong quần áo thì nhà báo Trần Hoài Sơn cũng vừa tới. Nhà báo Trần Hoài Sơn vẫn thế, quần xám, áo sơ mi trắng, khoác bên ngoài chiếc áo bludông Mỹ, vai đeo máy ảnh. Nhưng thái độ của anh hôm nay khác hơn. Như một ngươi đi xa mới về và gặp lại bạn cũ, qua đến vùng du kích, bước chân anh không rụt rè, hướng về phía chúng tôi, anh bước nhanh, mặt hớn hở. Anh không bắt tay tôi mà ôm chầm lấy vai tôi:
– May quá! Còn gặp được Thắng ở đây, may cho tôi quá!
Sau lúc mừng nhau, tôi giới thiệu anh với nhà báo Trần Hoài Sơn. Lần này, trông anh cởi mở và gần gũi hơn. Tôi với Út Đợ nhường riêng cho anh cái võng ni lông, còn tôi với Út Đợ cùng ngồi trên chiếc võng ka ki. Có lẽ lần đầu ngồi trên chiếc võng kháng chiến, anh nhún thử mấy cái, ra vẻ thích thú, rồi đưa tay vo vo mấy sợi dây dù, hỏi cách buộc võng. Út Đợ thích vẻ tò mò ngây ngô của anh. Út Đợ bảo tôi đứng dậy, rồi anh giật dây võng, buộc lại cho anh xem. Út Đợ làm đi làm lại đến ba lần, cuối cùng Trần Hoài Sơn cầm dây, vòng qua cây, nắm lấy một mối, kéo lên, ghịt xuống. Rồi anh lại ngồi thử:
– Tôi phải tập lần cho quen! Trước sau gì tôi cũng nằm võng như mấy anh. - Đang vui, anh bỗng ngồi im, nhìn xuống. Tôi biết anh đang lựa lời để mở đầu cho câu chuyện mà anh vào gặp chúng tôi lần này. Anh ngẩng lên, trang trọng và giọng cũng khác hẳn:
– Hai anh! Lần này tôi trở lại đây với mục đích khác hẳn lần trước. Tôi đã quyết định, quyết định rồi. Trước khi nói về quyết định của tôi, tôi muốn đưa anh Thắng một lá thư của ngưòi bạn.
Anh móc túi áo trên, trao cho tôi lá thư giấy mỏng xếp làm tư.
– Anh Thắng với anh Út xem đi, rồi tôi sẽ nói sau.
Tôi giở lá thư ra. Thư viết chữ nhỏ hơi nghiêng.
Sơn thân mến!
Thế là đã ba năm, chúng ta xa nhau. Ngày ra đi tôi đến nhà Sơn, gõ cửa, nhưng Sơn đã đi vắng. Nhiều lúc tôi nghĩ, nếu lúc đó Sơn có nhà thì biết đâu giờ này chúng mình cùng một nhà. Nằm trên võng lắc qua lắc lại và ôn lại chuyện Sài Gòn, tôi tin như vậy, có thể lắm, nhưng tiếc là Sơn đã đi vắng. Và tôi, không thể chờ được và cũng chẳng kịp từ giã ai, kể cả cha mẹ của tôi. Bây giờ đã ba năm, càng ngày tôi càng khẳng định: mình làm đúng, đi đúng. Đúng với lòng “trời” và đúng với lòng mình! Bao nhiêu năm lận đận đến cay đắng chỉ vì một chỗ đứng! Mặt đất rộng mênh mông đứng đâu mà chả được, nhưng cái chỗ đứng đúng với vị trí của mình thì tìm mãi, chọn mãi, đầu đến hai thứ tóc rồi mới nhận thấy! Chỗ đứng mà tôi chọn - đúng với vị trí của mình: hẳn không phải là
cái bên kia thối nát, nhưng cũng không hẳn là phía “bên này”, chỗ đứng của mình là điểm giữa, trung dung; như bao nhiêu bạn bè ra đi sau Mậu Thân 68, tôi vào mặt trận thứ ba. Mặt trận Liên minh. Đúng là những mặt trận của những con người như chúng ta. Yêu nước và cứu nước.
Sơn! Chần chờ gì nữa! Bạn bè đang đợi Sơn. Mỗi lần nhắc đến Sơn, anh em cứ tiếc - Nếu trong anh em, một người nào đó được sự hiểu biết của Sơn thì đó là một cống hiến to lớn - Chỉ cần một quyển sách ghi lại sự thật của nhà tù mà Sơn từng chứng kiến, củng đủ rồi. Sơn suy nghĩ và quyết định đi. Chỗ đứng của Sơn không phải là ở ngoài kia, mà chỗ này, chỗ của chúng ta.
Tôi viết thư này, củng vừa thay mặt cho một số bạn bè, gởi đến Sơn lời tâm huyết.
Mong đợi Sơn.
Ký tên...
TB: Tôi không ngờ đã được gặp lại cô đào Mỹ Thanh. Bây giờ cô là diễn viên đoàn văn công Giải phóng. Mỹ Thanh có già dặn hơn, nhưng thanh sắc vẫn như xưa. Chúng tôi nói ở ngoài ấy, những đêm buồn, Sơn thường mở băng ghi âm nghe lại tiếng hát của Mỹ Thanh, Mỹ Thanh cảm động lắm...
Xem xong, tôi xếp thư trao lại cho Sơn.
– Đây là thơ của một giáo sư, vốn là bạn của tôi. Anh đi sau ngày Mậu Thân 68. Anh nói đúng. Nếu cái hôm anh đến gõ cửa nhà tôi trước khi đi, nếu tôi không đi vắng thì chắc bây giờ tôi đã khác rồi. Từ đó đến nay, mùa xuân sáu mươi tám đã trôi qua. Người Sài Gòn không còn nhìn thấy chiến sĩ giải phóng trên đường phố nữa, nhưng hình ảnh dũng cảm của các anh còn in đậm trong tâm trí của mọi người. Tiếng súng không còn, nhưng trong lòng ngưòi Sài Gòn, trong lòng tôi, tiếng nổ vẫn chưa dứt! Tiếng nổ đã phá vỡ những bức tưòng đã ngăn cách chúng ta. Bức tường của chính kiến, của những sự dị biệt bị phá vỡ. Đầu óc của con người đã trở nên quang đãng. Từ đó mà tôi hiểu. Từ đó mà tôi đi. Tôi đi đến đây. Tình cờ mà may mắn, tôi được gặp bác Hai, được nghe câu chuyện của một gia đình chống xâm lăng cứu nước. Rồi tôi trở lại Sài Gòn, trỏ lại đường phố và căn phòng. Những nơi đầy kỷ niệm, với tôi đã trở thành xa lạ. Tôi lại nhận được lá thư của người bạn từ Mặt trận Liên minh gởi về, lá thư mà hai anh vừa đọc đó. Tôi nghĩ, phải! Trong cuộc đấu tranh sống còn của dân tộc, là một đứa con, ta không thể chỉ là một nhân chứng! Mà phải dấn thân, phải dấn thân!
Anh gật đầu và gật đầu, hai lần. Có thêm được một người bạn chiến đấu, đáng lẽ chúng tôi phải tỏ ra mừng rỡ đối vói anh. Nhưng lúc đó, sau khi anh nói xong thì cả ba đều im lặng. Lúc ấy, cũng như sau này, mỗi khi nghĩ lại, tôi không cắt nghĩa được tại sao tôi với Út Đợ không reo không mừng, không vồ vập lấy anh? Có thể đó là phút im lặng trước bước thay đổi của con người? Hay là quyết định dấn thân của anh quá đột ngột đối với chúng tôi? Hay là giọng nói trang nghiêm vừa nhỏ nhẹ vừa buồn buồn như hối lỗi của anh?
– Tôi vào đây để nhờ các anh giúp cho tôi tìm đến cơ quan của Mặt trận Liên minh.
– Sơn định bao giờ thì đi? - Tôi hỏi Sơn.
– Tôi đã quyết định dấn thân rồi, quyết định ấy không có gì thay đổi, nhưng tôi chưa muốn đi ngay. Tôi đang tìm một nơi yên tĩnh để viết một quyển sách nói về những sự thật tàn bạo trong cái nhà tù mà tôi có dịp chứng kiến. So với anh em bạn bè, tôi là ngưòi đi sau, tôi không muốn gặp lại bạn bè với hai bàn tay trắng. Tôi đang mượn cái nhà bè của bà Út Nhỏ để ngồi viết. Tôi vào đây để xin phép các anh được ở đó trong thời gian ngồi viết.
Tôi muốn khuyên anh nên đi sớm, càng sớm càng tốt, rồi sau đó sẽ viết cũng không muộn. Nhưng tôi kịp nghĩ, lời khuyên của tôi sẽ không có kết quả và chỉ làm cho anh khó xử.
– Bắt đầu từ giờ phút này, xin các anh coi tôi là người của lực lượng thứ ba.
Tôi chưa chọn được câu trả lời thế nào cho hợp với câu chuyện. Tôi mới khẽ gật đầu, thì một chiếc đầm già bay thấp ào tới. Qua kẽ hở của khu vườn, chúng tôi thấy hai cái cánh của nó giăng ra, lướt qua ngọn xoài, đen sì, và nó quay trở lại, xoáy tròn qua khu vườn chỗ của chúng tôi.
Trong vòng bay của con đầm già lần này, tôi thấy Trần Hoài Sơn tỏ ra khác hơn lần trước. Lần trước - ở nhà ông Hai Cò, khi con đầm già xoáy tròn trên cụm vưòn, anh không tỏ ra sợ sệt, cũng không phải bình tĩnh mà dửng dưng. Anh dửng dưng vì trong ý nghĩ của anh, nó với anh chưa phải là kẻ thù. Còn lần này, nằm trong tầm bay của nó, anh theo dõi đường bay của nó trong tư thế tự vệ. Trong ý nghĩ của anh, trong lòng anh, anh là kẻ thù của nó. Chưa quen với bom đạn, anh không được bình tĩnh như chúng tôi, anh ròi khỏi võng và dớn dác.
Cái hầm mà tôi với Út Đợ vét từ sáng đến giờ không đủ chỗ cho ba ngưòi. Hai người thì chật, một ngưòi thì hơi rộng.
Con đầm già nghiêng cánh, cái độ nghiêng của nó như dựng lên, xoáy theo vòng khu ốc, mỗi lúc một siết chặt.
Út Đợ nhanh tay giựt lấy đầu dây võng, cuốn tròn lại một phía:
– Anh Thắng! Đưa anh Sơn xuống hầm! - Xuống hầm thì cần gì phải đưa đón?
– Xuống hầm đi anh Sơn! - Tôi bảo Sơn lúc Sơn đã ngồi sẵn dưới hầm rồi!
– Hầm của mấy anh đâu? - Sơn hỏi chúng tôi.
– Tụi tôi núp dưới gốc xoài được rồi!
Con đầm già vừa bay ra thì pháo vọt tới. Tôi với Út Đợ không núp theo gốc xoài mà nhào xuống mương vườn. Một chùm pháo ba trái, nổ trong khu vườn của chúng tôi.
Một chùm pháo nổ xong, nó nghiêng cánh nhìn xuống rồi lảng ra tè tè đi tìm một điểm khác. Chúng tôi trèo lên mương, quần áo ướt mèm. Cành, lá tả tơi khắp cả khu vườn.
– Anh Sơn ơi! Hết rồi, lên!
Sơn bước lên hầm, phủi áo, phủi quần, nhưng chưa thật yên tâm. Anh cứ ngước nhìn theo hướng bay của con đầm già.
– Nó đi rồi! Ngồi võng đi anh Sơn! - Út Đợ vừa bảo vừa buộc lại dây võng, quần áo anh bùn đất lấm lem. Trần Hoài Sơn trở lại bình tĩnh qua từng cử chỉ của Út Đợ. Sau trái pháo ấy, chúng tôi lại gần nhau hơn, vui hơn. Để Trần Hoài Sơn ngồi lại trên võng, hai đứa tôi chạy ào xuống kinh tắm rửa lặn hụp, thay quần áo.
Hai đứa tôi trở lên, thấy Trần Hoài Sơn đang đưa máy ảnh chụp lấy cái hầm anh vừa nấp.
– Cho tôi một tấm ảnh kỷ niệm, anh Sơn!
– Anh vô đứng đây, đứng đây!
Út Đợ chạy lại, đứng bên nắp hầm nhưng Trần Hoài Sơn vừa đưa máy lên, nghĩ thế nào, anh xòe tay đưa lên:
– Khoan! Chụp vầy không hay!
Bộ quân phục có cầu vai anh đang mặc, vừa gọn vừa chỉnh tề, anh không muốn. Anh cởi áo, cởi cả quần dài, mặc cái quần cụt đen, cầm cái leng.
– Anh cho tôi xin một “pô” đào hầm hay hơn!
Một cái chớp lóe lên.
Sau khi Út Đợ mặc lại quần áo, cùng với tôi ngồi trên chiếc võng ka ki, đối diện với Trần Hoài Sơn thì tôi bắt chuyện:
– Trong lá thư Sơn cho mình đọc, thấy có nhắc đến cô Mỹ Thanh, cô ấy mình biết.
– Vậy sao? - Cặp mắt ốc nhồi của Trần Hoài Sơn mở to ra, và vẻ mặt anh rạng lên.
– Thắng cũng biết? Thắng gặp hồi nào?
– Cơ quan của tôi cách Đoàn văn công của cô Mỹ Thanh một khu rừng.
– Thắng có hiểu gì về cuộc đời của cô Mỹ Thanh không?
Tôi biết, biết quá rõ, nhưng vì tò mò muốn hiểu anh với Mỹ Thanh quen biết nhau ra sao, hồi cô còn ở Sài Gòn, tôi lắc đầu:
– Tôi không được rõ lắm!
– Bây giờ nhắc lại, thật đau lòng! - Anh nhìn xuống gật đầu mấy lần, rồi mới nói: - Mỹ Thanh là một cô gái mồ côi, sống với ngưòi ghì ghẻ. Dì chiên chuối, cô bưng đi bán. Cô mê gánh hát. Ngày nào cô cũng bưng cái xề bánh chuối chiên đến bán cho đào kép của một gánh hát. Thấy cô là một cô gái nhỏ đẹp, duyên dáng, ai cũng thương! Mỗi lần cô bưng bánh đến, cả gánh chia nhau ăn. Hết bánh, cô không về. Cô ngồi bệt dưối thềm, nghe đờn ca. Đào kép tập tuồng. Cô vừa ngồi xem vừa lép nhép ca theo. Suốt mấy năm trời như vậy, từ năm lên tám đến năm mưòi sáu, tám năm bán chuối chiên cho đào kép của một gánh hát, chưa lên sân khấu, nhưng cô đã trở thành một diễn viên, cô thuộc hết bài bản! Một hôm, trong gánh hát có một cô đào bị bịnh bất ngò, cô bị đau bụng đang lúc tập tuồng, phải đưa đi nhà thương. Không biết thay ai, đang lúc rối rắm đó thì thầy tuồng thấy cô bưng chuối chiên tới. “Con nhỏ chuối chiên, để cái xề chuối đó, lên đây, lên đây cháu!”. Cô tập thử vai ấy. Rồi sao? Đêm biểu diễn ấy, khán giả không ngờ, cả đào kép trong gánh không ngờ, mà cả ông thầy tuồng cũng không ngờ! Dưới ánh đèn trên sân khấu, cô lộng lẫy như tiên, khiến cho khán giả mê hồn. Đêm đó tình cờ tôi cũng đi xem. Tôi chưa bao giờ nghe ai có một giọng ca kỳ lạ như vậy, giọng thổ và hơi rè. Khi cô cất tiếng thì cả rạp như nín thở. Sáng hôm sau, báo chí Sài Gòn rộ lên hình ảnh của cô. Tuổi mười sáu, cô bước lên sân khấu như một ngôi sao!
Nhà báo Trần Hoài Sơn kể lại cuộc đời của cô đào Mỹ Thanh vối vẻ sôi nổi đam mê. Rồi bỗng dưng anh dừng lại, hạ thấp giọng:
– Nhưng Nguyễn Du đã nói chữ tài liền với chữ tai một vần! Như một biến thiên của vũ trụ, ngôi sao ấy vụt tắt thật bất ngờ. Hai năm, đến cái tuổi mười tám của cô, có một tên nhà báo nào đó muốn chiếm cô, bị cô từ chối, nó trả thù! Một chuyện không ai lường được. Một hôm, trên một tò báo ở Sài Gòn có một hàng tít đậm đen “Đĩ Mỹ Thanh”, và phía dưới là những câu chuyện tục tĩu của cô với bọn đàn ông. Tờ báo làm xôn xao cả giới mộ điệu của Sài Gòn. Chuyện gì đã xảy ra sau khi tờ báo ấy được rao bán khắp nơi? Mỹ Thanh đến tòa báo, hai tay cầm chiếc guốc, cô định đập vỡ mặt kẻ vu cáo đã phỉ báng cô.
– Cô có đập đầu thằng đó không anh? - Út Đợ hỏi.
– Cô chẳng tìm được ai! Sau đó, ngưòi ta thấy cô cạo đầu. Rồi không ai biết cô đi đâu nữa!
– Cô Mỹ Thanh bây giờ ra sao anh Thắng? - Người hỏi tôi câu này, không phải của Trần Hoài Sơn mà của Út Đợ.
Tôi chưa kịp kể lại với Út Đợ và Trần Hoài Sơn về cuộc sống của cô và Đoàn văn công Giải phóng thì tiếng con đầm già đã vẳng tới! Con đầm già bay thấp, vừa nghe tiếng, đã thấy hai cánh của nó sà lướt qua ngọn cây.
Ba đứa chúng tôi rời khỏi võng, đứng với tư thế sẵn sàng. Nhưng con đầm già chỉ nghiêng cánh liếc qua khu vưòn của chúng tôi một vòng, rồi tè tè bay theo lòng kinh, bay thẳng ra chi khu.
– Tôi vào đây để báo và xin phép với hai anh, bây giờ tôi xin phép hai anh cho tôi trở ra ngoài. - Nhà báo Trần Hoài Sơn không ngồi lại võng, nhìn theo hướng bay của con đầm già, anh nói với chúng tôi.
Con đưòng đưa anh về đến cơ quan của Mặt trận Liên minh, nếu suôn sẻ, cũng phải mất hơn mười ngày, nghĩ đến chuyến đi của anh, tôi hỏi:
– Sơn định ngồi viết đến bao giờ thì lên đường? - Tôi gọi tên cũ của anh để dễ trao đổi với anh.
– Tôi sẽ viết đêm ngày, độ hai tháng, có gì tôi sẽ trở vào, tìm lại các anh. - Nói xong, anh lấy gói ảnh để sẵn trong túi, trao cho tôi, nhờ tôi gởi đến tận tay ông Hai, và nhắc lại lời anh đã hứa: Nếu tôi muốn ra ngoài ấp chiến lược bằng con đường “hợp pháp” anh sẽ tạo điều kiện giúp tôi.
Sau khi đưa Trần Hoài Sơn qua khỏi cây cầu khỉ bắc qua con rạch chia hai vùng, trở lại vọng gác, tôi với Út Đợ cỏi áo, cởi quần dài, cầm leng, tiếp tục vét hầm. Hai đứa vừa làm vừa nói chuyện:
– Anh nhà báo đó chắc mê cô Mỹ Thanh, phải không anh?
– Chắc vậy.
– Nếu ảnh về cơ quan của Mặt trận Liên minh thì liệu ảnh có gặp lại cô Mỹ Thanh không anh?
– Gặp!
– Lần này gặp nhau chắc dính quá?
– Cô Mỹ Thanh đã hứa hôn rồi.
– Ai vậy anh?
– Hứa với một đồng chí quay phim.
– Người đóng tuồng, người quay phim, ngon quá ha!
Hai đứa không nói gì nữa, anh vét hầm, tôi xúc đất đắp lại nắp. Mồ hôi trên lưng tôi đổ lấm tấm. Út Đợ vét mỗi lúc mỗi sâu vào bên trong. Anh từ dưới hầm chui lên, đứng sổng lưng, dựng cái leng trước mặt, đốt thuốc, nghĩ gì anh kêu tôi:
– Anh Thắng ơi!
– Ơi!
– Anh biết ai viết cái bài báo nói xấu cô Mỹ Thanh không?
– Nó giấu mặt, cô ấy không biết được!
Anh “hừm” lên một tiếng rồi cầm cái leng, giơ cao, xắn mạnh xuống.
– Khốn nạn quá!
Cái leng xắn ngập xuống đất đánh “ụp” một cái, bùn nước trào ngược lên, ngập cả leng.