Mùa Gió Chướng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 29

❊ ❊ ❊

Út Đợ được đề bạt làm xã đội trưởng. Châu thay anh làm xã đội phó. Sáu Linh giữ chức bí thư chi bộ, lo gây dựng cơ sở ở vùng ngoài. Vọng gác dưới lùm xoài, Út Đợ giao lại cho Châu với Lâm và Dũng. Ra vọng gác, ngày trước, ngày sau, Châu đã dọn xong bãi tập, vừa để tập quân sự, vừa để dạy võ cho anh em.

Út Đợ trở về văn phòng xã đội. Tôi cũng theo anh trở lại cái sàn nhà nhỏ trong vườn xoài, gần nhà ông Hai Cờ.

Với nhiệm vụ xã đội trưỏng, Út Đợ bắt đầu làm quen với giấy tờ, tôi thấy anh lóng ngóng đến tội nghiệp! Mỗi khi nghiên cứu một chỉ thị hay viết một bản báo cáo, thì giấy tờ để ngập cả bàn. Tôi để ý thấy, trước khi bày giấy tờ, lần nào anh cũng cởi tấm vải dù bông quấn cô trải lên bàn. Tôi tưởng anh bắt đầu nhiễm lấy cái bệnh thích bàn giấy. Một lần, sau khi trải tấm vải dù lên bàn xong, quay lại thấy tôi nhìn, anh hỏi:

– Sao anh cười?

Tôi cười chứ không trả lời.

– Anh tưởng tôi làm điệu chắc. Tôi làm vậy là tôi bắt chước anh Năm Bờ với anh Cổi bí thư! Làm vậy, nếu tụi trực thăng nó tới đổ quân thì túm lại cho gọn. Mùa này là mùa chúng càn mà!

Ở làng này, năm nào cũng vậy, khi nước rút, mặt đất bắt đầu khô ráo, đã lâu, ngưòi ta không gọi mùa khô hay mùa gió chướng nữa, mà gọi là mùa chống càn! Ngày nào cũng phải chuẩn bị chống càn. Mọi ngưòi, ngày cũng như đêm, luôn luôn với tư thế sẵn sàng. Khuya dậy nấu cơm ăn sớm. Võng không nằm không giăng, phải cuốn gọn và lúc nào cũng đeo sát bên hông. Sợi dây nịt thắt ngang lưng phải có đủ thứ cần thiết cho cuộc sống. Võng, ni lông, đèn, bình toong nước, hộp lương khô, hoặc muối sả, hoặc đường, hoặc thịt hay cá chà bông, đèn; đèn thì chai đèn dầu và đèn pin. Súng đạn sát bên mình, cả lúc ngủ cũng phải nai nịt sẵn sàng! Và bắt đầu vào mùa khô thì du kích lo nạo vét hầm cũ, đào thêm hầm bí mật, xây đắp lại công sự chiến đấu, dọn thêm bãi lựu đạn gài.

Buổi trưa, sau khi cơm nưóc xong, không ai nghỉ. Đội nữ du kích của Bé Ba kéo nhau ra mí vườn, dọn bãi lựu đạn. Hai cái hầm trong sàn nhà bị sạt lở. Tôi vét hầm, Út Đợ ra vưòn chặt cây mù u. Hai đứa đang lui cui lấy nắp hầm thì có tiếng hỏi:

– Ai làm gì lạch cạch ở trong nhà đó?

Tôi nhận ra tiếng ông Hai Cờ, nhưng Út Đợ đã lên tiếng trưóc:

– Bác Hai đi đâu đó?

Ông Hai Cờ bước vào, quần ống thấp ổng cao, áo bà ba màu cháo lòng, đầu bịt khăn khấc, vai vác cuốc:

– Tao đi rẫy mà con đầm già mắc dịch đó nó cứ liếc tao.

Con đầm già đang quần đảo ngoài cánh đồng, chắc là đang nhìn vào những cái chòi hoang mới mọc lên, tiếng bay của nó dội lại lúc gần lúc xa.

Ông Hai Cờ để cuốc xuống sàn nhà, lấy cán cuốc làm ghế ngồi, quấn thuốc hút. Tôi với Út Đợ nghỉ tay, ngồi trên cái leng.

Ông Hai Cờ phà một hơi khói.

– Nói vậy là chú nhà báo đó chịu theo mình? - Ông hỏi tôi.

Tôi chưa nói thì Út Đợ nói trước:

– Theo mình, nhưng đứng trong mặt trận thứ ba.

– Thứ ba, thứ tư hay thứ năm gì cũng được, miễn là cùng với mình đánh Mỹ là được rồi. Vậy là mừng cho chú rồi! Còn chuyện này, bác muốn hỏi thằng Út.

– Dà!

– Hôm rồi chú Năm Bờ với con Sáu đi họp ỏ quận về, tao thấy mặt mày của nó, tao biết trước sau gì cũng có chuyện, tao hỏi nó nhưng nó giấu tao. Nó chỉ bảo tao đào thêm hầm hố. Hầm hố thì mùa chống càn nào mà tao không đào. Út, mày làm xã đội, có gì mày nói tao nghe coi!

Út Đợ liền nhìn tôi, tôi tảng lờ như không thấy, muốn để anh nói.

– Anh Năm Bờ với chị Sáu cũng nói với xã đội như nói với bác, chớ có nói cái gì đâu!

– Dóc! Mày giấu tao. Tao đoán là trên đang rục rịch, phải không chú Thắng?

– Dà!...

Thực ra, tôi cũng không hiểu gì hơn ông. Cách đây mấy hôm, trên cho liên lạc hỏa tốc về gọi Năm Bờ và Sáu Linh đi họp. Hai ngưòi không lên quận như ông biết, mà đi thẳng về tỉnh cùng với đồng chí bí thư quận ủy và đồng chí quận đội trưởng, đến ngày trở về, tôi thấy hai ngưòi phấn khởi ra mặt. Tôi cũng đoán là có chuyện gì sắp xảy ra, nhưng không biết được cụ thể. Sau cuộc họp của Năm Bờ, Sáu Linh với ban chỉ huy xã đội (Út Đợ và Châu) thì qua ngày hôm sau, không khí của xã đội đã thấy khác. Mọi việc như đào hầm bí mật, nạo vét hầm cũ, đào xây thêm hầm mới... mọi việc đều khẩn trương hơn! Ngoài những công việc thông thường của xã đội, còn có một vài việc khác như: đốn cây chặt lá cất kho, đào những cái hầm rộng có thể kê giường, kê bàn để làm việc, xuồng úp dưới sàn nhà được lệnh kéo ra, trét lại và mua sắm thêm xuồng mới. Công việc chuẩn bị cho chiến trường đang bắt đầu. Tôi tò mò muốn hiểu, Năm Bờ chỉ hở cho tôi có một câu “Mình đang chuẩn bị”... Năm Bờ với Sáu Linh từ cuộc họp ở tỉnh trở về làng, hai người chỉ ghé qua một đêm, ở chơi một ngày, qua hôm sau, hai người lại trở ra ngoài ấp, tôi không có dịp tìm hiểu thêm.

Đêm cùng nằm dưới sàn nhà - có hai anh em, tôi hỏi Út Đợ, anh nói úp mở.

– Anh nhớ cái đêm, tôi, anh với anh Năm Bờ nằm ở vọng gác không?

– Nhớ!

– Tôi hỏi ảnh cái gì, anh nhớ không?

Tôi nhớ, nhưng tôi làm bộ quên:

– Nhiều chuyện quá tôi nhớ sao nổi!

– Tôi hỏi ảnh chừng nào thì ảnh nói chắc phải tới mùa gió chướng, bây giờ gió chướng rồi đó, còn gì nữa! Kế hoạch quân sự của cấp trên thì ai mà biết được! - Tôi đoán, chắc anh cũng hiểu chung chung vậy thôi.

Ông Hai Cờ chắc cũng đang thấy những việc khác thường của xã đội, ông dò hỏi hai đứa tôi. Hỏi Út Đợ không được. Nhưng ông không bực tôi mà bực với Út Đợ. Lần đầu tôi thấy ông tỏ ra bực bội. Điếu thuốc đang hút, ông cắn đứt cái đuôi, phun nó đánh “phẹp” xuống đất.

– Mày giấu tao, nay mai có chuyện chi thì đừng có... -Ông không nói hết câu, ông lột khăn, quơ ra sau, đập xuống lưng như đập muỗi.

– Hai đứa bây không nói, nhưng tao xem qua cái binh tình của thằng địch, tao cũng biết rồi. Con đầm già - Sự bực bội của ông, ông đổ lên con đầm già - con đầm già mắc dịch đó, mấy hôm nay nó không nghỉ trưa. Trưa nào nó cũng “tì ti”. Tối nó cũng “tì ti”...

Vừa lúc đó, có tiếng của bé Thiều từ ngoài đưòng gọi vọng vào:

– Anh Út ơi, anh Út!

Bé Thiều đã thay cho Út Trầm, làm nhiệm vụ giao liên cho xã đội.

– Ơi!

Thiều bước vào sàn nhà thở hổn hển:

– Chú Thắng có khách.

– Chú hả? - Tôi hỏi lại.

– Dạ.

Tôi ngạc nhiên, tôi làm gì có khách ở đây?

– Hay là anh nhà báo ảnh vô nữa đó anh Thắng? Ông khách đó ra làm sao? Cao, ốm, miệng móm phải không? -Út Đợ hỏi.

– Dạ không, ông này lớn - Bé Thiều dang hai tay ra -mập lắm!

– Ai vậy cà?

– Sao không đưa ổng vô? - Ông Hai hỏi.

– Dạ, cháu sợ chú Út với chú Thắng không có ở nhà. Ông này, lúc đầu ông hỏi chú Năm Bờ, cháu nói chú Năm đi vắng, thì ổng hỏi chú Thắng.

– Thôi! - Ông Hai vẫy cái khăn - Ra đón người ta vào để người ta chờ.

Bé Thiều chạy vụt ra. Tôi chưa đoán được là ai thì Bé Thiều dẫn ông khách vào.

Tôi sững người! Ông khách to lớn đứng trưóc mặt chúng tôi là ông Chín Nghề, ông bác sĩ “Quì bông nông”.

Tôi đứng phắt dậy kêu to và lao đến anh.

– Anh Chín!

– Quì.

Bác sĩ Chín dang hai tay, ôm chầm lấy tôi.

– Vào đây, vào đây anh Chín.

Bác sĩ Chín bưốc vào nhà, khệ nệ mà lanh lẹ, anh bắt tay ông Hai, bắt tay Út Đợ.

Ông Hai, Út Đợ đều có vẻ lạ trước dáng dấp của ông, một con người to lớn, tuổi chưa già, nhưng tóc đã bạc trắng, lại cắt ngắn, trong như cái bông gáo, quần ka ki ống rộng, áo bludông màu cỏ chết, nhìn đến dáng dấp của ông, đã thấy vui vui.

– Ngọn gió nào đưa anh đến đây vậy anh Chín? - Tôi ngước nhìn anh, và hỏi.

– Có ngọn gió nào khác hơn ngọn gió hôm nay đâu! -Ông đứng cao hơn tất cả chúng tôi, gần sát cái sàn nhà, giọng to và sôi nổi, tôi biết là ông đang bắt đầu, ông xoay qua nhìn ông Hai:

– Thưa anh với hai chú! Hồi ngày xưa, không phải năm năm hay mưòi năm, mà hơn ba mươi năm trước, khi tôi còn đi học ở trường làng. Tôi nhớ mỗi năm, hễ đến mùa này, mùa gió chướng thổi về thì ở Côn Đảo anh em tù chánh trị xuống bè, nương theo ngọn gió mà trở về đất liền. Ghe bầu ngoài miền Trung căng buồm vượt qua biển, chạy trên con sông trước cửa nhà tôi. Bây giờ, tôi cũng nương gió này mà trở về đây. Tôi không đi bè cũng không đi ghe bầu. Cánh buồm của tôi là cái ba lô mang trên lưng, tôi vượt qua đồng chó ngáp.

– Nói vậy là chú ở xa mới về? - Ông Hai Cờ hỏi và phải ngước nhìn lên ông.

– Quì. Thưa anh, chỗ tôi ở, ca nông của Mỹ ba cây chập làm một bắn cũng không tới. Máy bay của nó, bay tới, liệng một vài trái bom rồi phải về ngay, ở lâu thì hết xăng...

Nghe cái giọng sôi nổi và hài hước của ông, ông Hai với Út Đợ cứ phải nhìn lên, miệng mở ra tròn như chữ O.

– Anh Chín đây là bác sĩ...

Tôi mới vừa giới thiệu ông đến đó, ông đưa một ngón tay lên miêng, suỵt một hơi gió.

– Pác đông. Xin lỗi! Tôi quên nói trước với ông. Ở đây chỉ có ba người. Xin anh với hai chú không nên giới, thiệu với ai tôi là bác sĩ giải phẫu. Vì cái nghề của tôi, tôi đi đến đâu là có chuyện đến đó.

Thế là điều tôi dự đoán, điều mà ông Hai sốt ruột muốn hiểu, sự có mặt của ông đã rõ.

Tôi nói thêm cho ông yên tâm:

– Không sao anh Chín! Anh Út Đợ đây là xã đội trưởng, còn bác Hai đây là ủy viên Mặt trận xã, trước sau gì anh cũng làm việc với bác, với anh Út.

Ông lại đưa tay bắt tay ông Hai, bắt tay với Út Đợ.

– Bông. Bông. Được vậy, tôi xin nói thêm, tôi về đây là để bắt thằng Nixơn phải ký... - Ông vừa nói, một tay thì đưa quả đấm, một tay thì xòe ra, dứt câu ông đánh bốp xuống một cái.

Bé Thiều chạy ra vườn báo với các cô.

Nghe có khách lạ, các cô du kích đang đào hầm, đang dọn bãi lựu đạn, kéo nhau vào. Tôi giói thiệu với bác sĩ Chín:

– Đây là cô Bé Ba, đây là cô Thon, cô Thả, cô Thanh, Út Trầm... là nữ du kích của xã.

Giới thiệu đến tên cô nào bác sĩ Chín cũng bông; sau khi bắt tay từng cô, ông lại chắp hai tay đưa lên trán xá từng cô, khiến các cô đỏ cả mặt. Bé Ba lanh lẹ, chạy lên nhà, mang xuống một cái ghế cho ông. Ông ngồi, còn chúng tôi thì đứng xung quanh, nhờ đó mà mọi người đỡ phải ngước cổ nhìn lên.

– Sao anh biết tôi với anh Năm Bờ ở đây, anh Chín?

Bác sĩ Chín ngồi xuống ghế, hai chân dạng ra, hai tay để lên đầu gối, xòe ra đủ năm ngón như ngồi trước máy ảnh.

– Chuyện biết được hai anh, tôi suýt trả bằng máu!

Các cô nhìn nhau cười chúm chím trước giọng đùa duyên dáng của ông.

– Vượt qua đồng chó ngáp. Sau đó một hai hôm, giao liên đưa chúng tôi đến một rừng tràm thưa. Chúng tôi đến trạm vào lúc nửa đêm, chẳng ai hay. Vào chòi, chúng tôi ngủ như bị chụp thuốc mê. Nửa đêm thì pháo nổ. Pháo nổ đầu này, pháo nổ đầu kia, pháo nổ trước mặt, pháo nổ sau lưng, pháo nổ bên trái, pháo nổ bên phải, đâu đâu cũng nổ, nhưng có điều là trên đầu trên lưng, và ngay cái chòi của mình thì pháo không nổ. Đầu hôm sớm mai về tới đồng bằng, mình đã rơi ngay giữa bãi pháo tụi nó rồi! Hầm hố không có, nhìn ra chòi, tối mù tối mịt, chỉ thấy có ánh chớp, thôi, đành phải thí thân mẹo dậu vậy, cứ nằm dán xuống mặt đất! Sau đợt pháo thì giao liên cầm loa: “A lô..! Các đồng chí nằm đâu nằm đó, đừng lộn xộn. Đây là pháo thực tập của đội pháo binh”. Hú hồn, hú vía! Sáng hôm sau tôi ra chòi, đi tìm đội pháo. Tôi toàn gặp các cô gái, tóc cắt ngắn, đẹp như các cô tiên.

– Đội pháo của chị Mai - Út Trầm nghe sướng quá, reo lên.

– Pháo của cô Mai. Quì. Đúng là pháo của cô Mai. Tôi đến thăm đội pháo, dò la thăm hỏi phải qua hàng trăm câu chuyện, tôi mới được biết, chính cô là ngưòi ở làng này, cô biết Năm Bờ, biết cả ông Thắng.

– Bác Hai đây là thân sinh của cô Mai.

Ông Chín bác sĩ ngước nhìn lại ông Hai, ồ lên một tiếng, bật đứng dậy rồi lại chìa tay ra bắt tay ông, lần này là lần thứ ba.

– Thiệt may mắn! Hôm tôi đi, cô ấy có nhờ tôi ghé thăm ông già. Bây giờ lại gặp anh ở đây, ngay phút đầu, đó là một điềm lành. Bông.

Thấy ông nhún người bắt tay ông Hai, vẻ kính cẩn, các cô lại gục đầu vào vai nhau cười rúc rích!

Cử chỉ bình thường của ông khiến cho mọi người vui thích, câu chuyện của ông khiến cho mọi người phải cười đến hả hê. Con người có một sức hấp dẫn không ai bằng.

Bắt tay ông Hai xong, ông nhìn quay lướt qua mọi người, rồi đưa tay xem đồng hồ:

– Ồ! Đã mười giờ. Xin lỗi các đồng chí! Tôi đến đây không phải chỉ có một mình, mà tôi đến với một đạo quân dao kéo hơn hai mươi người.

– Bây giờ các anh chị đang ở đâu? - Nhiều người cùng hỏi.

– Trạm giao liên phân cho chúng tôi ở mấy ngôi nhà trong ngọn. Anh chị em đang còn mệt. Còn tôi, một mình một ngựa đến đây để...

Bé Ba cắt lòi:

– Chú với các anh cơm nước gì chưa?

Ông bác sĩ già vui tính lại mọp đầu:

– Dạ rất tiếc là chưa!

Bây giờ ông Hai mới lên tiếng:

– Con Ba với mấy đứa bây chạy lo cơm nước cho anh em đi. Còn bác sĩ, rảnh thì xin về qua nhà tôi.

– Xin đa tạ. Bông.

Các cô lại cười rộ lên, rồi chạy túa đi...

Đêm ấy, Út Đợ họp du kích, bàn việc chuẩn bị chỗ ăn chỗ ở cho đội tiền trạm của trạm quân y dã chiến - còn tôi với ông bác sĩ già, mắc võng nằm dưới sàn nhà của xã đội.

– Chỗ của anh nằm là chỗ của Năm Bờ hồi chúng tôi mới về. - Tôi nói với ông.

– Từ sáng đến giờ, tôi chưa có dịp hỏi. Có đúng như tôi đoán là chú Năm có phiăngxê ở xã này phải không?

– Dạ đúng.

– Viên đạn ấy, đường đi của nó ra sao? Có phá vỡ nổi hạnh phúc của luy không?

Tôi vừa đưa võng vừa đáp:

– Khi tôi nghe anh nói, tôi luôn để ý.

– Quì.

– Trên đưòng đi, tôi đã biết. Người yêu của anh ở xã này.

– Quì.

– Tôi dự đoán bao nhiêu tình huống sẽ xảy ra: hoặc sẽ tan vỡ, hoặc sẽ giận hờn.

– Quì.

– Nhưng đến nơi khi hai người gặp nhau, thì mọi việc đều khác với dự kiến của tôi. Ở những chỗ khác, chỗ riêng của hai người thế nào tôi không rõ, nhưng trưóc mắt tôi thì không có gì phải tan vỡ, cũng không tỏ ra hờn giận! Tôi thấy có vẻ mặn mà nhưng cũng bình thường, như một điều hết sức dĩ nhiên là họ sẽ gặp lại nhau, không có gì khác! Cách đây mấy hôm, hai người cùng trở về, cùng đi lên tỉnh, rồi cùng trở ra ngoài ấy, tôi thấy, hai người vừa là đồng chí, vừa là người yêu. Tôi nghe nói, sau chuyến này, hai người sẽ tính.

– Bông. Còn ông?

Tôi hiểu câu hỏi của ông, tôi muốn hỏi đến Mai, nhưng tôi ghìm lại.

– Về đây, tôi cũng làm được một ít việc, đã thật sự là người ở đây. Còn ở trên Rờ, anh em mình ra sao, anh? -Tôi cố ý hỏi lại ông để lái câu chuyện sang hướng khác.

– Rờ vừa chật lại vừa thưa! Quân ta từ ngoài kéo về, trùng trùng điệp điệp. Một buổi trưa sau một ca mổ, đầu óc căng thẳng, tôi bước ra trảng. Nhìn cái trảng, tôi thấy lạ. Mới có mấy hôm mà cây cỏ đã khác rồi. Tôi thò tay vào túi, lấy kính đeo lên. Nhìn kỹ, tôi mới rõ, té ra là ngoài trảng, quân ta áo quần màu cây cỏ, trên mình đầy lá ngụy trang, nhìn kỹ nữa thì biết quân ta đang luyện quân. Đêm thì xe pháo chạy ì ầm. Xe chở gạo, xe chở đạn, xe chở quân... Còn dân ở Rờ mình thì lần lượt hạ phóng xuống chiến trường. Người già như tôi, đáng lẽ phải thủ trại. Nhưng anh em, người này, rồi người nọ cứ đến chia tay vói tôi. Tôi ngồi không yên nữa. Tôi xin đi “Tuổi già không mệt mỏi” - Ông nhắc lại một câu trong bài hát dành cho các chiến sĩ già. - A lê hấp, ba lô lên vai... - Giọng ông bác sĩ già đang sôi nổi bỗng trầm xuống.

– Nè ông Thắng! Hồi tôi ở Pháp. Một buổi trưa nắng ấm, tôi nằm bên bò sông Xen - Tôi ngủ. Có một con ngựa gặm cỏ gần đó, thè cái lưỡi liếm qua má tôi. Tôi mơ màng, tưỏng như bàn tay vuốt ve của mẹ tôi. Tôi giựt mình. Từ đó, tôi cứ nghĩ đến quê hương, vậy mà bao nhiêu năm tôi chưa được trỏ về với con sông; lần này, tôi quyết sẽ ra đứng bên bờ sông, vốc lấy một ngụm nước sông Cửu Long mà uống.

Nghe ông nói, cái giọng trầm ít có của ông, lòng tôi bỗng xao xuyến! Giữa ông và tôi, hai lứa tuổi khác nhau, hai cuộc đời cũng khác nhau, nhưng cùng một nỗi nhớ! Tôi ngồi dậy, đốt một điếu thuốc. Tôi nghĩ chuyện tâm sự của hai người sẽ kéo dài, và sẽ đến khuya, sẽ đến sáng. Nhưng con người sôi nổi yêu đời đang nằm bên tôi sau bao nhiêu ngày đường mệt mỏi và mất ngủ, vừa mới đó mà đã thiếp đi rồi! Ông ngủ quên cả bỏ mùng!

Nguyễn Quang Sáng Tiểu Thuyết MÙA GIÓ CHƯỚNG Thực hiện ebook : hoi_ls Rút trong tập “NGUYỄN QUANG SÁNG Tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chí MinhNhà xuất bản Văn học 2007
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.