Tôi ngủ trong tiếng bay của chiếc đầm già đang xoáy tròn trên vùng cỏ sau cánh đồng. Tiếng bay của chiếc trinh sát L19 này rất lạ, khi nghe nó người ta hồi hộp, đứng ngồi không yên, nhưng mi mắt lại nặng cứng, thiu thiu muốn ngủ, và khi đang ngủ thì tiếng bay rền rĩ của nó như để người ta chìm sâu xuống giấc ngủ say.
Tôi muốn choàng dậy mấy lần nhưng không dậy nổi. Nhưng lại mơ thấy vươn vai, ngồi dậy, vắt mùng ngang qua dây, xách thùng theo con đường mòn đổ ra suối. Rồi tôi lại thiếp đi. Đến lúc có một tiếng nổ lớn tôi mới thoát ra khỏi vòng vây của giấc ngủ. Tôi ngồi bật dậy, bừng mắt mới biết mình đang ngủ dưới sàn nhà của chiến trường đồng bằng. Người ê ẩm. Năm Bờ, Sáu Linh, hai người đã dậy từ lúc nào, cuốn võng đi đâu mất. Tôi đưa tay xem đồng hồ, đã chín giờ. Nắng rơi đầy ngoài khu vườn. Nắng đồng tươi vàng như lõi mít. Tôi vội rửa mặt. Quay trở vào, thấy Sáu Linh bước vào sàn nhà, để đỡ ngượng vì dậy muộn, tôi hỏi lớn:
– Anh Năm đâu rồi, chị Sáu?
– Bé Ba dẫn ảnh đi thăm anh em với bà con rồi.
– Sao chị không gọi giùm tôi.
– Ảnh có công việc của ảnh, còn anh có công việc của anh. Việc của anh là ngủ. Hồi hôm tôi với ảnh nói chuyện rì rầm làm anh mất ngủ, phải để cho anh ngủ chớ!
Vậy là cô biết đêm qua mình thức để nghe lén. Có lẽ vì vậy mà hai người chưa tiện nói đến chuyện riêng? Tôi hơi ngượng.
Nhưng Sáu thì vẫn tự nhiên.
Bây giờ tôi mới để ý thấy dưới cái bàn làm việc của Sáu - kê cạnh bên cái hầm - có để một cái lu. Sáu khom người, đưa tay lấy ra ba trái xoài chín vàng để lên bàn:
– Anh ăn xoài lót lòng, rồi tôi với anh bàn chút việc.
– Chị ăn đi.
– Tôi, anh Năm với Bé Ba ăn rồi.
– Mấy chị ở đồng bằng sướng thật. Lúc nào cũng có chất tươi.
– Cũng có lúc vầy lúc khác, sướng như vậy tôi không ham.
– Sao vậy chị?
– Nó xúc dân đi hết, những bữa đang ăn, nghĩ tới, ăn cơm mà như ăn rơm. Anh ăn đi.
Xoài thanh ca thơm ngọt, chỉ muốn ngửi chớ chẳng muốn ăn. Tôi cầm trái xoài, cắn cái cuống lấy răng lột vỏ, tôi quay mặt ra vườn - cho lịch sự - cầm trái xoài mà cạp như hồi còn nhỏ. Tôi ăn hai trái, còn một trái để vào túi quần, cho thơm.
Tiếng đầm già vẫn còn đang xoáy tròn ngoài cánh đồng sau vườn, tôi hỏi:
– Hồi nãy nó bắn đâu vậy chị?
– Nó bắn mấy cái nhà ngoài đồng ấy mà! Về đây thì ngày nào anh cũng nghe nó. Bây giờ anh đi với tôi, xem địa hình địa vật, xem hầm bí mật.
Sáu đưa tôi đến hầm bí mật trong vườn xoài. Sáu đưa tay quét lớp lá xoài khô sang một bên.
– Anh có thấy sợi dây chì này không? Dây nắp đây. Anh kéo nắp lên thử xem. Tôi nghe anh Năm nói là ở Rờ không cần hầm bí mật, hồi sáng ảnh dặn là phải chỉ cho anh thật kỹ.
Tôi cầm sợi dây chì, kéo cái nắp lên, hơi nặng. Cửa hầm nhỏ, tôi ghé mắt nhìn xuống, mùi đất xông lên âm ẩm.
– Anh xuống thử xem.
Tôi làm theo lời của cô. Tôi thò hai chân xuống, đứng dưới đất, rồi thu hai vai chui xuống. Cái cửa hầm vừa khít với người tôi. Tôi bật hộp quẹt để xem. Một cái hầm khá rộng, có thể ngồi được ba người. Trong hầm có hai chai nước trắng, một cái hũ cơm khô. Bốn góc hầm có bốn cái lỗ thông hơi là ống nhôm cuộn tròn, lỗ thông hơi vừa tròn khít trái lựu đạn. Tôi cầm cây tre nhỏ đưa theo lỗ thông hơi, nhớ đến trận đánh thoát thân của cô mà cô đã kể lại với Năm Bờ, đêm qua.
– Xem xong chưa anh, lên đi.
Tôi chui lên khỏi hầm, phủi áo, phủi quần.
Tôi hỏi:
– Anh Năm có hầm chưa chị?
– Ảnh với Bé Ba trốn chúng. Ảnh thì khỏi lo, ảnh quen rồi. Hầm này là hầm của tôi với anh. Có chuyện gì thì tôi với anh trốn chung.
Nói xong, cô ngước nhìn tôi, như đoán được ý tôi, cô tiếp :
– Du kích tụi tôi có kinh nghiệm, một cái hầm toàn là nam hoặc toàn là nữ thì dễ bị ngộp lắm. Còn một cái hầm có nam có nữ thì dễ thở hơn.
Điều này tôi mới nghe lần đầu, tôi kêu lên:
– Ngộ quá ha. Sao vậy?
– Trời sanh ra vậy ai mà biết, tôi không cắt nghĩa được, nhưng kinh nghiệm là vậy. Hôm nào có càn, anh sẽ biết.
Năm Bờ với cô một hầm, tôi với Bé Ba một hầm, có hợp lý hơn không?
Biết mình nghĩ bậy, chẳng biết làm gì cho đỡ ngượng, tôi bước tới rồi nhảy qua bên kia mương.
Trong lúc đó, cô đậy lại nắp hầm, khỏa hai lớp lá khô, cô hỏi:
– Hồi hôm anh có nghe tôi kể bọn nó bươi hầm không?
– Có! - Tôi thú nhận - Chỗ đó ở đâu?
– Ở tận ngoài kia, xa lắm.
– Nó khui hầm như vậy, sao bây giờ mình vẫn ở hầm.
– Lâu lâu cái tụi moi hầm nó mới đến một lần, không phải trận càn nào cũng có. Với lại, lúc nào bí lắm, mình mới xuống, phải ở trên mà đánh nó chớ anh.
Tôi với Sáu cùng ngồi dưới bóng một cây xoài, nhưng cách nhau một con mương vườn.
Tôi ngồi bệt xuống đất, nhìn sang. Cô ngồi bên nắp hầm trên lớp cỏ non xanh, bó gối, tấm vải dù bông khoác từ vai phủ đến chân.
– Tôi nghe Bé Ba nói anh là người ở bên kia sông?
– Dà!
– Nghe nói lâu lắm anh chưa gặp lại gia đình?
– Dà!
– Cha mẹ anh em anh còn đủ không?
– Má tôi mất từ hồi tôi còn nhỏ. Cha tôi hiện nay nghe nói là ở Sài Gòn, chị tôi với mấy đứa em đều có chồng có con, mỗi người một nơi, chỉ còn có chị tôi ở lại làng thôi!
– Chừng nào anh muốn thăm anh cho tôi biết, tôi nhờ người đi đón về.
– Tôi cũng định vậy, nhưng để thư thư một chút.
– Từ trước tới giờ anh có qua lại đây lần nào không?
– Có, hồi còn nhỏ. Chú tôi có vợ trong ngọn Đốc Vàng. Tôi nhớ, năm một nghìn chín trăm bốn mươi bốn, bà nội tôi chết, tôi đi đò qua đây, tìm chú thím tôi. Cái chợ ở ngoài Vàm, hồi đó, tôi nhớ chỉ có hai dãy nhà lá, lèo tèo lắm.
– Bây giờ là chi khu, lớn lắm, phố ngói, có đèn điện. Dân chúng dọc theo kinh, bị xúc ra đó, chật cứng.
– Tôi làm sao ra đó được?
Tôi muốn biết cái ấp chiến lược nó ra làm sao!
Tôi nói cho có chuyện, để tìm cách dò hỏi chuyện giữa cô với Năm Bờ - Bây giờ tôi mới nhìn rõ cô. Một cô gái không đẹp, cũng không xinh xắn, nhưng ở cô lại có một vẻ riêng hết sức đặc biệt. Sáng nay cô mặc áo bà ba vải nhưng nở nang, nước da bánh ít, trông mặn mà. Cái vẻ riêng của cô không phơi bày ra trong làn da nước tóc, như ẩn như hiện lên trong đôi mắt của cô. Đôi mắt đen màu hột nhãn, đôi mắt lung linh, thăm thẳm lại mênh mông. Đôi mắt cô đang xôn xao một niềm vui thầm kín, cô muốn che giấu nhưng không giấu nổi, nó chợt tắt rồi chợt sáng, mỗi lần cô chớp mắt, nó lại sáng lên anh ánh. Tôi chưa biết bắt đầu từ đâu để gợi chuyện của hai người thì cô nói:
– Anh muốn ra ngoài cũng được. Có hai cách, một là bí mật, hai là đi theo con đường hợp pháp.
– Tôi có thẻ căn cước của nó.
– Vậy à? Hai con mắt cô mở to, nhìn tôi - Anh có đó không? Cho tôi xem.
Tôi móc bóp, lấy cái thẻ căn cước, xích tới bờ con mương, với đưa cho cô.
– Giống quá! - Cô cầm cái thẻ căn cước bằng nhựa của tôi xem - Của mình làm hay của nó vậy anh?
– Của mình.
– Giống quá! - Cô tặc lưỡi - Anh làm hồi nào vậy.
– Hồi tôi theo bộ đội vào Sài Gòn năm sáu mươi tám, phòng lúc bị lạc đường.
– Giấy này đi được đó, tôi mà có cái thẻ như vầy tôi cũng đi - Cô cầm cái thẻ, với tay đưa lại cho tôi:
– Anh cất đi, khi nào có dịp, tôi sẽ tổ chức cho anh đi. Nói vậy chớ cũng khó lắm. Thằng cảnh sát Bá này ác ôn lắm. Nó có một cái lưới để dò xét người lạ mặt, ở bến xe, bến tàu, ngoài chợ, trong tiệm nước, đâu đâu cũng có người của nó. Người ở Sài Gòn về, thấy lạ mặt là nó mời vô bốt, tống tiền rồi mới được đi.
- Nó là người ở làng hay ở đâu?
– Nó là người ở xứ khác tới, nó với anh Năm, hai người như có duyên nợ.
– Vậy à? Nó với ảnh có bà con họ hàng với nhau hay là nó có nợ máu với ảnh?
– Chuyện đó anh phải hỏi ảnh, tôi cũng nghe ảnh nói lại thôi.
Nghe cô bảo vậy, lúc đầu tôi cũng có ý định sẽ hỏi Năm Bờ, nhưng ngay lúc đó tôi lại hiểu. Chuyện của Năm Bờ cũng chính là chuyện của cô. Vả lại, tôi đang muốn ngồi lại dưới bóng cây xoài giữa con mương vườn yên tĩnh, và muốn nghe cô nói.
– Thì chị cứ kể cho tôi nghe đi.
Cô nhìn tôi, đôi mắt ấy niềm vui trong cô lại ánh lên. Tôi biết cô muốn nói, muốn nhắc đến chuyện, đến người và tên của Năm Bờ.
– Chuyện này tôi nghe ảnh kể lại trong một cái chòi lúc tôi với chị em du kích đi đón ảnh về.
Tôi nhớ cái chòi ấy rồi, cái chòi mà Năm Bờ đã kể với tôi đêm đầu tiên anh gặp người con gái dũng sĩ này.
– Tôi với ảnh tuy là người cùng làng, nhưng ảnh ở ngoài sông, còn tôi thì ở trong kinh, kinh này. Tôi nghe nói mà không biết mặt ảnh. Nhưng thôi! Tôi không kể cho anh nghe nữa đâu!
– Sao vậy? Mới mở đầu rồi sao lại thôi!
– Anh biết rồi!
– Chuyện đó tôi chưa biết thiệt mà.
– Sao anh lại cười. Tôi biết, chuyện gì mà ảnh không kể với anh - Sáu bật đứng dậy, xoay mình đi, như muốn giấu vẻ sung sướng và xấu hổ.
Tôi không muốn nài nỉ, nhưng tôi vẫn muốn ngồi lại và nghe cô nói. Với lại chuyện của Năm Bờ tôi không háo hức bằng chuyện của những người khác, chuyện của bà mụ vườn.
– Cô không kể nữa thì thôi, nhưng cô ngồi lại đi, tôi muốn hỏi chuyện khác.
– Chuyện gì, anh nói đi! - Cô nói nhưng vẫn chưa ngồi xuống, và ngước mắt nhìn lên cây xoài đang đơm trái.
– Tôi muốn hỏi chuyện của bà Chín.
– Anh muốn hỏi bà mụ vườn ở ngoài ấp phải không?
– Phải!
– Tối mai tôi sẽ bố trí cho anh gặp.
– Thiệt hả? - Tôi vui mừng hỏi lại.
– Tối mai. À! Còn chuyện này tôi định bàn với anh.
Cô ngồi lại chỗ cũ, nhìn lại tôi.
– Sáng nay tôi có bàn với anh Năm. Ngoài ấp chiến lược có một nhà báo ở Sài Gòn mới về. Ông nhà báo này nghe nói cũng là người cùng làng với anh, ở bên kia sông. Ông ta là bạn của thằng Long, đang ở trong nhà nó. Ông này lạ lắm, ổng muốn vô vùng du kích của mình để tìm hiểu kháng chiến. Mấy hôm nay tôi lúng túng quá. Ổng muốn gặp tôi nhưng tôi thì lại đi ra đi vô, cho ổng gặp không tiện. Ổng chạm mặt tôi một lần rồi, đêm trăng dưới bến sông, tôi cũng hỏi ổng một vài câu, nhưng ổng có biết tôi đâu. Bây giờ có anh với anh Năm, nếu ổng có vào thì anh với anh Năm tiếp chuyện với ổng.
– Ông ta chừng bao nhiêu tuổi.
– Nhỏ thôi, cũng cỡ với anh.
– Là người cùng một làng với tôi.
– Tôi nghe nói vậy.
– Người cùng làng, lại cùng một lứa tuổi, rất có thể là bạn học của tôi cũng nên. Ông ta tên gì?
– Hoài Sơn.
– Chắc không phải là tên cúng cơm?
– Mấy ông nhà báo, ông nào tên nghe cũng hay.
– Tướng tá ông ta ra làm sao?
– Cao nhòng, ốm nhách, móm xọm trông như thằng ghiền.
– Hay là...
– Anh nhớ ra rồi hả?
– Không chắc lắm. Hồi nhỏ tôi có một thằng bạn học, tướng tá cũng như vậy, nhưng không phải tên Hoài Sơn, mà tên Hơn. Tụi tôi gọi là thằng Hơn móm.
– Hay ông ta đổi tên đổi họ, thời buổi bây giờ, bên nó cũng như bên mình hay đổi tên đổi họ lắm.
– Sao cô biết nó muốn vào vùng mình?
– Ông ta nói với thằng Long, bà Chín nghe được, bà Chín kể lại với tôi. Ông ta dự định, nếu không tìm được người đưa đường thì ông ta đi đại cho du kích bắt. Gặp được bà Chín, anh sẽ rõ hết mọi chuyện.
– Nghe cô nói, tôi sốt ruột quá.
– Tối mai.
– Tối mai? - Tôi mừng rỡ hỏi lại.
– Tôi có hẹn, tối mai bà sẽ đến chỗ hẹn để đưa tôi ra ngoài. Anh Út Đợ xã đội phó sẽ đưa anh đi. Chuyện ngoài ấp chiến lược, anh cứ hỏi bà Chín, còn chuyện du kích chuyện trong làng, anh cứ hỏi anh Út Đợ.
– Anh Út Đợ? Phải anh tối hôm qua ôm anh Năm Bờ nhấc bổng lên đó không?
– Phải. Ảnh vui tánh lắm.