Buổi chiều trong công sự chỉ huy, qua tin tức của con đầm già rè rè lượn đi lượn lại trên cánh đồng, qua những cuộc hành quân thăm dò, qua tin tức của đơn vị thám báo, qua tình hình chiến sự đã xảy ra, đại úy Long khẳng định: mặt trận ở đây là mặt trận nghi binh của đối phương. Theo cách nói của hắn, khi hắn nói với kẻ chung quanh: “Ở đây, họ định thừa nước đục thả câu, chẳng có gì!”. Tin vào sự nhận định của mình, hắn ngả ngưòi ra ghế, thở khoan khoái. Sau khi cạo râu xong, hắn cởi bộ đồ da cọp, gói cuộn lại, ném cho tên lính bảo vệ ra lịnh một tiếng gọn lỏn:
– Giặt!
Thay bộ quần áo dân sự, quần xám áo sơ mi trắng, bước ra khỏi công sự, hắn khoát tay:
– Tự do!
Bọn lính đứng chung quanh hắn, có đứa nhảy cẫng lên. Bằng cử chỉ ấy của hắn, binh sĩ được lệnh trở lại sinh hoạt bình thường. Các quán rượu trong chợ lại đầy lính. Sòng bạc với những con bài kéo bọn lính bu lại từng nhóm, vòng ngoài vòng trong.
Còn hắn, hắn trở về nhà với vợ con. Trước khi bước chân lên xe, hắn ra lệnh bắn một chùm pháo vào xóm trong cho vui tai!
Hắn trở về đúng hẹn! Sau này, theo cách nói của nhà báo Trần Hoài Sơn, đó là sự sai lầm may mắn của hắn. Xe đỗ vào sân, hai ngọn đèn rực lóa lên trong tiếng máy rú to trước khi tắt.
Trước đó không mấy phút, thằng Mịnh đã bị bắt! Sau một tuần bị chôn chân trong đồn bót, nó tắm rửa, chải đầu bằng sáp thơm, bôi nước hoa lên cổ áo, cổ tay, quẹt nước hoa lên lông mày; như ngựa quen đường cũ, nó lên xe chạy thẳng đến xóm Đình. Không như ngưòi ta, đi vào xóm nó không xuống xe, vẫn ngồi trên xe, mở đèn nổ máy nhỏ chạy trên con đưòng nhỏ cặp theo hàng rào bông bụt, vào cổng, chạy qua sân nhà của Mười. Nó cố ý cho bánh xe đụng vào chân bàn đặt dưới cây vú sữa trước khi tắt máy.
Cũng như mọi người, mọi đêm nó đến chơi, Mười với Sườn và Bổn ra tiếp đón và quây quần xung quanh nó. Nhưng đêm ấy, trong con mắt của thằng Mịnh, Mười có vẻ khang khác.
Với Mưòi không phải lúc nào cô cũng được gặp người yêu, nhưng từ cái đêm gặp lại Phải, lúc nào cô cũng chải chuốt, lúc nào cũng làm đẹp để đợi anh! Cô mặc chiếc áo bà ba vải nin phờ răng trắng có viền đăng ten, cổ đeo sợi dây chuyền vàng, mặt dây chuyền hình trái tim nhỏ, cẩn hột đá, treo tong teng trên giữa ngực. Cô không đánh phấn nhưng đôi má lúc nào cũng ửng hồng.
Thằng Mịnh đặt chai rượu xuống bàn, qua ánh sáng của ngọn đèn dầu, hắn nhìn cô không chớp mắt. Lòng hắn thấy nôn nao thèm khát. Hắn thổi tắt ngọn đèn:
– Đêm nay có trăng, đèn đuốc làm gì!
Hắn đưa tay vòng qua phía dưới bàn, bấm vào vế thằng Sườn, ý muốn bảo Sườn và Bổn nên kiếm cớ lảng đi. Cái bấm ấy khẽ thôi, nhưng Sườn lại nhổm lên. Hắn rót rượu ra bốn ly. Nhưng hắn chưa kịp uống thì Châu đã đứng sát bên lưng hắn. Nghe có hơi thở của người đứng sau lưng mình, hắn vừa quay lại thì bàn tay của Châu đã siết lấy cổ hắn. Hắn giãy nhưng hai tay đã bị bẻ ngoặt ra sau. Và cái mồm hôi thối chứa những lời trơ trẽn của hắn bị đầy giẻ. Hắn bị lôi ra vưòn.
Từ trong bóng cây vú sữa, tổ du kích của Châu và tổ du kích mật của Mười tiến lại nhà thằng Long. Trận đánh đang bắt đầu, nhưng trong con mắt của thằng Long, vùng bình định và xóm Đình của hắn vẫn yên tĩnh. Đêm ấy, đêm trăng non thượng tuần tháng cuối năm. Một đêm mờ ảo, đầy gió và dòng sông gầm thét.
Trong xóm Đình, có người lăn cối ra sân, và trai gái thi nhau giã bánh phồng. Thằng Long bước xuống xe trong tiếng chày gõ nhịp một cách yên bình đang chuyển đi khắp xóm.
Theo sau hắn là hai tên lính bảo vệ, cứng đơ trong bộ quân phục màu da cọp bó sát ngưòi, đầu đội mũ sắt, mặt lầm lì, hai họng súng chĩa về phía trước. Hai tên lính dừng lại dưới chân cầu thang, như hai con cọp đứng thẳng lưng.
Còn hắn, hắn bước lên cầu thang.
– Con đâu? - Đó là câu hắn hỏi vợ. Vợ hắn, người đàn bà nhỏ nhắn trong bộ quần áo lụa mỏng màu hột gà đang đứng trực trên sàn nhà, đáp lại:
– Con đang nằm trong buồng, con đang sốt!
– Má em đâu?
– Má em đi chơi ở nhà bà Chín.
Tầm thước và gọn gàng, hắn tỏ ra là người đang mãn nguyện vừa làm xong nhiệm vụ.
– Cho đến hôm nay tôi mới thở được! - Giọng kiêu căng, hắn vừa nói vừa đưa tay, bước đến nhà báo Trần Hoài Sơn. Hắn bắt tay, lắc mạnh và nhìn khách lạ với vẻ mặt niềm nở.
– Đây là bạn đồng nghiệp của tôi, tôi rủ về chơi!
– Hân hạnh!
Hắn tiếp khách lạ trong thái độ của người chủ đang sung sướng. Hắn nhìn lên bàn ăn đã dọn sẵn:
– Hai bạn đợi tôi có lâu không?
Hắn hỏi mà không đợi trả lời. Hắn đưa một bàn tay hạ xuống, bảo khách ngồi:
– Xin lỗi, chờ tôi một chút!
Hắn bước vào gian nhà trong, vợ hắn bước theo sau. Hắn trở ra với đứa con bế trên tay. Bé Giang con của hắn đã gần một tuổi. Một đứa bé khỏe mạnh kháu khỉnh và hiếu động. Mới chập chững và bập bẹ được tiếng bà với tiếng ba. Nó không bao giờ chịu ngồi yên. Nhưng đêm nay, đầu răng bị sốt, nó nằm thiêm thiếp. Long cúi nhìn con - lòng của một người cha của đứa con trai đầu, không thể không bối rối. Hắn bế con trên hai tay, vẻ vụng về, đứng giữa nhà... ru con, hắn hát:
– Đại bác đêm đêm dội về thành phố[1]
Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe.
…
Hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng
Hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng...
Giọng hắn trầm nghe như lời kể lể...
Bữa ăn tối của ba người ở ba vị trí khác nhau, theo Trần Hoài Sơn là một bữa ăn lý thú không kịp xảy ra, và bài hát mà hắn đang hát để ru con chưa dứt thì tổ phòng vệ dân sự của Mười đã bước vào sân. Theo sau tổ phòng vệ dân sự là cô gái trong dáng dấp Út Sương, chiếc khăn rằn che kín mặt. Mười với chiếc áo bà ba nin phờ răng trắng viền đăng ten, súng khoác vai. Sườn với Bổn đi hai bên, dưới ánh trăng non, cô đi thẳng đến cầu thang.
– Ai như cô Mười vậy? - Một tên lính hỏi, giọng lẳng lơ.
– Trời sáng trăng vầy mà không nhận ra sao? - Giọng của cô gái đáp lại vừa nhão vừa kéo dài.
Tổ phòng vệ dân sự bước dần tới, và phía sau, dưới sàn nhà, tổ du kích của Châu có Lâm với Dũng tràn tối.
Nghe có tiếng ịch đụi dưới cầu thang. Long dừng tiếng hát, hỏi vọng xuống:
– Cái gì đó?
Dưới sàn nhà, không có tiếng trả lời. Nhưng có linh cảm, hắn quay mắt vào trong, muốn trao con lại cho vợ, không tìm thấy vợ, hắn nhìn dáo dác! Vừa lúc đó, Sáu Linh trong dáng dấp của Út Sương, áo bà ba màu hột é, chiếc khăn rằn choàng kín mặt, vượt lên cầu thang.
– Cô Út đi đâu đó? - Hắn hỏi với giọng bực bội không bình tĩnh.
Cô Út mà hắn hỏi, tràn tới như một ngọn gió! Cô đứng trước mặt hắn, đưa tay kéo chiếc khăn trợt xuống ót. Mặt đối mặt với kẻ thù. Chợt nhìn thấy họng súng chĩa về phía mình, hắn “a” lên một tiếng, miệng há hốc!
– Đứng im!
Không thể hiểu nổi giây phút đó, hắn nghĩ gì. Chỉ thấy hắn ôm đứa con sát vào người, khiến đứa bé giật mình, thét lên. Có lẽ tiếng thét của đứa con càng khiến cho con hắn thêm bối rối.
– Long! Đêm nay là đêm đền tội của mày! - Lòng căm thù của dân làng dồn nén trong giọng nói của Sáu. Tôi tưởng họng súng trong tay Sáu sẽ nổ, và tên ác ôn sẽ gục xuống mà tay vẫn còn ôm con. Nhưng việc lại xảy ra khác với ý nghĩ của tôi.
Cùng trong lúc ấy, tổ du kích của Mười từ dưới cầu thang tràn lên. Mười, Sườn với Bổn, ba họng súng dài như ba ngọn gươm đưa sát vào người hắn. Có lẽ, đến lúc đó, hắn mới hiểu ra. Ánh sáng của ngọn đèn nê ông (riêng nhà của hắn mới có) mặt hắn tái nhợt với vẻ sẵn sàng nhận lấy cái chết! Vì đứa con đang bế trên tay, hắn không thể chống trả nhưng cũng không tỏ ra hèn hạ đến run rẩy hay cuống cuồng! Hắn bế con dựng lên, áp mặt con sát vào mặt mình.
– Cô Sáu! - Hắn đã nhận ra ngưòi con gái đang đứng trước mặt mình là Sáu Linh - Tôi hiểu rồi! Cô cho tôi xin một điều. Trị tội, tôi xin cô đưa tôi ra sau vườn. Con tôi đang bịnh. Xin cô đừng nổ súng trước mặt con tôi.
Trước lời van xin ấy, họng súng trong tay Sáu Linh hạ xuống:
– Tao tha chết cho mày, nhưng mày phải chuộc tội.
Đứa bé trên tay hắn giãy giụa, thét to. Hắn ôm con vụng về bối rối, loay hoay.
Mười xuống đạn, khoác súng qua vai, bế lấy đứa bé trên tay hắn. Mười trao đứa bé cho vợ hắn đang đứng chết điếng ở cửa buồng.
Sau đó một việc xảy ra, hầu như không có ý nghĩa gì, nhưng tôi vẫn cứ nhớ mãi. Sáu Linh và đội du kích mật của cô đưa thằng Long xuống nhà, dẫn ra sau vườn rồi, mà nhà báo Trần Hoài Sơn vẫn còn bàng hoàng trong tư thế đứng nghiêm như một người lính. Ngơ ngác với gian nhà trống lạnh dưới ánh sáng trắng của ánh đèn, anh hỏi tôi:
– Chuyện gì vậy, anh Thắng?
– Thằng Long bị du kích bắt đi rồi.
– Vậy sao?
Anh vẫn chưa tin.
– Cô kia là phòng vệ dân sự!
– Du kích của mình.
– Vậy sao? Tôi tưởng là vùng hẻo lánh này đang có một cuộc đảo chánh.
Việc trừng trị bọn ác ôn ngay trong vùng chiếm đóng xảy ra như vậy là một chuyện thường. Nhưng đây là lần đầu, anh chứng kiến. Nghe tôi nói, anh thở phào như vừa tỉnh dậy sau một giấc mơ.
Từ vọng gác dưới lùm cây xoài, Năm Bờ nhận ra ánh đèn đỏ từ cây đèn năm pin trong tay của Sáu Linh phát ra. Anh ra lệnh tiến quân. Và anh ra lịnh theo cách của anh - người chỉ huy du kích, anh kêu to:
– Đợ ơi! Mai ơi! Các đồng chí ơi! Nó chết rồi. Mau lên đi.
Những người mà anh kêu đều đứng bên cạnh anh, chẳng đâu xa.
Một trận đánh như một cuộc chiến tranh được thu nhỏ lại. Người chỉ huy dù là một thiên tài cũng không thể lường hết mọi tình huống, thuận lợi hay khó khăn sẽ xảy ra. Trận đánh chiếm lại làng lần này đã được chuẩn bị xong, nhưng phải chờ lệnh nổ súng, vì còn phải đợi một đơn vị chủ công. Và đơn vị ấy đang trên đường hành quân. Nhưng một tình huống đang xảy tới. Khi được tin thằng Long có thể trở về, anh rời khỏi nhà ông Sáu Đương từ lúc trời vừa nhọ mặt ngưòi. Anh gặp Sáu Linh ngay trong khu vườn sau hè nhà của Mười. Mười và tổ du kích mật của cô canh gác cho cuộc họp ngắn ngủi giữa hai người. Sau đó, một mình anh, anh tắt qua cánh đồng về vọng gác dưới lùm xoài, triệu tập hội nghị đề ra phương án tác chiến, chờ đợi và nắm lấy thời cơ. Thời cơ ấy đã được báo hiệu bằng ánh đỏ của Sáu Linh.
Đội pháo của Mai đã ngồi sẵn dưới đoàn xuồng chờ lịnh. Xuồng đi đầu gắn chiếc máy đuôi tôm, vòng theo bốn chiếc. Xuồng đi đầu nổ máy.
Chiến sĩ và du kích như dậy lên từ dưới mặt đất.
Tổ du kích mật của Mười, của Đoan cô chủ tiệm, bắt đầu xuất phát từ xóm Đình. Theo lịnh của Sáu Linh, vì cần phải bảo vệ nhà báo Trần Hoài Sơn nên tôi với anh đi ngược lại con đưòng tiến quân.
Tôi với anh dừng lại trước một cây cầu khỉ đợi để một đoàn quân tiến ra.
– Út Trầm đâu?
– Dạ, em đây!
– Cứ dẫn mấy anh đi thẳng qua bầy vịt, nó kêu kệ nó! Tôi nhận ra tiếng Út Đợ. Bầy vịt đối với anh không còn một trở ngại nữa. Dưới ánh trăng non, tôi nhận ra anh đang đứng trước đầu cầu đưa tay đỡ lấy từng chiến sĩ.
– Khỏi! - Tiếng của một chiến sĩ đã quen đi cầu khỉ nói với anh. Rảnh tay, nhìn lại, anh nhận ra tôi:
– Anh Thắng hả?
– Tôi!
Anh xô tới, ôm chầm lấy tôi, miệng anh kề sát vào tai tôi:
– Trận này anh có công lớn lắm!
– Công gì?
– Anh báo tin thằng Long thật kịp thời, nhưng anh giấu tôi.
– Giấu gì đâu?
– Anh gặp chị Mai chưa?
– Làm sao gặp được?
– Tụi tôi biết hết rồi.
– Biết gì?
– Cái bồng của anh gởi lại, bị một mảnh pháo, văng ra quyển nhật ký, con Bé Ba nó đọc.
– Thiệt sao?
Quyển nhật ký của tôi có nhiều trang, nhiều đoạn, nhiều ngày ghi lại tình cảm của tôi đối với Mai! Mối tình âm thầm vừa chớm nỏ, chưa thổ lộ với ai! Tôi giật mình hỏi lại. Anh nói:
– Con Bé Ba đưa chị Mai, chỉ đọc hết rồi!
– Trời đất!
– Tôi gặp chỉ, chỉ hỏi thăm gia đình anh, tôi kể cho chỉ nghe chuyện anh đi móc ông già.
– Thiệt hay chơi vậy Út Đợ?
– Thiệt!
– Cổ có nói gì tôi không?
– Chỉ nói: tội nghiệp!
Nói vậy rồi anh quay lại cây cầu:
– Hết chưa các đồng chí?
– Hết! - Anh chiến sĩ cuối cùng qua khỏi cầu vừa đáp vừa xốc lại súng.
Út Đợ chụp lấy hai vai tôi, bóp mạnh:
– Tôi đi nghen! - Anh vụt chạy đi.
Chuyện mà Út Đợ nói với tôi lúc đó không có ý nghĩa gì đối với trận đánh và đang trên đường tiến quân, chuyện anh nói tưởng như lạc lõng nhưng tôi lại nhớ đến một lời: Khi người ta yêu nhau người ta thường hay hỏi nhau: “Sao em yêu anh”, “Sao anh yêu em” hay là “Anh yêu em từ lúc nào”… Mùa gió chưóng năm sau trước khi tôi trở về Rờ, Mai tiễn tôi đến trạm giao liên. Đó là cái chòi hoang trên cánh đồng Tháp Mưòi. Một cái chòi nhỏ với hai cái mái bện bằng bưng đã ngả màu như màu nắng. Nền chòi không đắp cao, cũng không đào sâu, bằng phẳng như mặt đất, được rải lên một lớp cỏ khô. Mái chòi được ngọn đưng ngả theo chiều gió phủ qua. Vách chòi là cọng rau muống bò theo mặt nước đã khô đi, rủ xuống lua tua. Trước cửa chòi là bãi rau muống đồng. Rau muống đồng đã quá mùa, nhưng lác đác hãy còn hoa. Ngồi trong chòi nhìn ra, chúng tôi như đang ngắm nhìn một vườn hoa tím. Đó là nơi chia tay của chúng tôi. Trong cái chòi hoang vắng ấy, trong câu chuyện giữa hai người, Mai hỏi tôi:
– Anh yêu em từ lúc nào?
– Từ lúc mới gặp.
– Sao vội vậy!?
– Còn em, sao em yêu anh?
– Nghe anh Út Đợ kể anh đi đón cha, em tội nghiệp!
... Nhưng lúc đó, tôi đâu có ngờ. Niềm vui chỉ rộn lên trong giây phút khi tôi nhìn theo bóng anh Út Đợ chạy vụt đi dưới ánh trăng.
Tôi cầm tay Trần Hoài Sơn dẫn qua cầu. Châu và tổ du kích của anh giải đại úy Long về vọng gác trước chúng tôi.
Tôi muốn chứng kiến cảnh thằng Long đứng trước mặt Năm Bờ, và cuộc đối thoại giữa hai người. Nhưng không kịp! Tôi với Trần Hoài Sơn vừa qua khỏi cầu thì gặp Lâm và Dũng chạy ngược lại. Tôi hỏi:
– Anh Năm đâu? Thằng Long đâu?
– Đang đi xuống bến.
– Lâm với Dũng bây giờ đi đâu?
– Anh Năm lịnh cho tụi tôi trở ra rước vợ con nó, đưa vô bịnh xá, cho nó yên tâm.
Lâm, Dũng bước lên cầu, chạy qua, cây cầu khỉ lắc rung lên. Lâm quay lại:
– Anh Thắng ơi!
– Ơi!
– Anh Năm dặn tụi tôi, gặp anh, nói với anh đưa ông nhà báo vô chỗ ông bác sĩ.
– Chạy xuống bến đi Sơn! - Tôi nắm tay Sơn, kéo anh chạy theo.
Tôi với Trần Hoài Sơn xuống đến bến thì xuồng đã nổ máy ra xa rồi. Tôi nhận ra Năm Bờ vói bộ bà ba đen ngồi trước mũi, Long ngồi giữa, Châu ngồi sau. Ngưòi lái máy là ông Hai Cò. Dòng kinh trải dài dưói ánh trăng. Sóng ọc ạch vỗ vào bờ.
Trần Hoài Sơn không quen đi giày trên đường ruộng, anh mở giày, buộc lại, treo lên cổ. Cái máy ảnh đeo xệ một bên vai. Tay ôm chồng bản thảo. Hai chiếc giày nằm xuôi theo hai bên ngực. Anh nhìn theo chiếc xuồng đang lao đi, anh tắc lưõi:
– Tiếc quá... Không được gặp nó để nói với nó một câu!
– Nếu gặp nó thì Sơn nói với nó câu gì?
– Nếu gặp nó, chắc nó sẽ ngây ra không nói được một lời. Qua sự im lặng kinh ngạc ấy, tôi hiểu nó muốn hỏi tôi: “Mày đó hả Sơn!”. Tôi sẽ nói với nó: “Long! Có gì lạ! Cuốu cùng rồi chỉ trừ một vài thằng, còn tất cả sẽ như tao với mày. Hoặc dấn thân, hoặc đầu hàng!”.
Qua đêm sau, đài phương Tây loan tin: “Một vùng bình định kiểu mẫu thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long bị Việt cộng đánh úp”. Đài phương Tây mô tả: “Một nhân viên tình báo của Việt cộng đóng vai ký giả đã bắt cóc viên đại úy chỉ huy chi khu - Đại úy chỉ huy chi khu đã phát loa kêu gọi binh sĩ buông súng đầu hàng trước khi nổ súng. Như rắn bị mất đầu, chi khu bị thất thủ nhanh chóng”.
Tin của đài phương Tây không có gì phải bình luận thêm.
Tôi, người ghi lại vài câu chuyện về một bên bờ sông Cửu Long qua một chuyến đi, trước khi kết thúc, tôi xin phép bạn đọc được nói thêm một điều cuối cùng.
Sáng hôm sau, vui với niềm vui làng được giải phóng, người ta tìm nhau để hỏi nhau việc làm của mình. Qua chuyện của nhau, ai thấy mình cũng có công. Có người chỉ cầm cái cây củi đánh cái thùng thiếc, kể lại cho người khác nghe, cũng thấy sướng. Công ấy tuy nhỏ nhưng không thể thiếu. Có một ngưòi hỏi bà Chín:
– Chị Chín ơi! Đêm qua chị làm gì ở đâu?
Bà Chín đáp:
– Tôi nghe súng tôi sợ quá! Tôi lôi con Út xuống mương, lạnh muốn chết.
– Chị nhát quá!
Người ta chê bà với tấm lòng rộng lượng, đang vui. Một cái công nhỏ nhất là đánh thùng thiếc để hỗ trợ cho anh em bà cũng không làm nổi!
Ba hôm sau, quân địch trở lại với một sư đoàn thủy quân lục chiến, một bầy trực thăng, năm chiếc tàu chiến với nhiều khẩu pháo. Chúng đóng lại bót. Tên chỉ huy chi khu là một tên cấp tá. Thay cho thằng cảnh sát Bá là tên an ninh tỉnh, gốc là dân di cư. Thay cho thằng đại diện Phiến là một tên chiêu hồi rút ra từ một đoàn “bình định” gốc là người làng. Trong con mắt của bọn đó, trong con mắt của dân xóm, dân làng, bà vẫn là bà mụ vườn. Bà vẫn đi đỡ đẻ. Bà đi đỡ đẻ cho người ở xóm ngoài, đi đỡ đẻ cho người ở xóm trong.
Bà đi trước, đứa con gái út của bà đi theo sau. Và Út Sương vẫn là Út điếc với chiếc khăn rằn trùm kín mặt...
20-4-1975
HẾT.
❀ ❀ ❀
[1] Bài hát “Đại bác ru đêm” của Trịnh Công Sơn.