Mùa Gió Chướng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16

❊ ❊ ❊

Chúng tôi trở về vọng gác của Út Đợ vào lúc nửa đêm - 12 giờ 15 phút theo đồng hồ của tôi. Từ đó đội du kích chia đi mỗi người mỗi ngả. Bé Ba cùng với các cô nữ du kích xuống bến, lên xuồng bơi xuôi theo con nước về tận trong xa để sáng mai lại tiếp tục công việc của mình: đi lượm xoài. Châu với cánh con trai thì đi bộ trên con đường cặp bờ kinh.

Còn ba ngưòi ngủ lại ở vọng gác: tôi, Út Đợ và Năm Bờ. Chúng tôi căng ni lông lên cái sườn nhà dưới chòm xoài trong ánh sáng tù mù của ngọn đèn chai - Ngọn đèn của Út Đợ có tấm ảnh của cô gái đang cười. Tôi với Út Đợ mắc võng hai bên, nhường hai cây cọc giữa cho Năm Bờ, phòng khi mưa gió sẽ không tạt đến anh.

Sau cơn sốt, trông anh phờ phạc mệt mỏi, nhưng rõ ràng là câu chuyện của bà Chín đang khuấy động cả tâm trí anh. Đèn tắt, bóng đêm trong vưòn đặc quánh, không trông thấy nhau, nhưng nghe qua giọng nói, tôi biết mắt anh đang mở nhìn trời qua kẽ lá, đang tỉnh, đang phấn chấn.

– Ông thấy tôi nói có đúng không? - Anh hỏi, và cái võng của anh lắc mạnh chạm vào hông tôi.

– Cái gì đúng? - Tôi hỏi lại.

– Thời buổi của đàn bà con gái, đúng chưa nào?

– Hả? - Tôi chưa hiểu ý anh nên phải hả như vậy.

– Hai đứa mình cứ phải chết cứng ở đây.

Tôi hiểu được ý của anh rồi. Tôi với anh, hai đứa từ trên Rờ trở về, đang nằm gí ở đây, trong vọng gác, còn giờ thì Sáu Linh đang xông pha ngoài kia, cách chúng tôi không đầy mấy cây số, nhưng là vùng giặc đang chiếm, rất hiểm nguy.

Đêm nay, Sáu phải cải trang đóng vai Út Sương con của bà Chín để cùng về với bà. Quần bà ba ống túm, áo bà ba bó thân, guốc cao gót, khăn rằn xanh choàng qua đầu kín mít, không ai nhìn rõ mặt. Y như cách ăn mặc của Út Sương lúc cô đạp xe đèo mẹ chạy trên con đường qua những cặp mắt quen thuộc của xóm làng. Với cách ăn mặc ấy của Út Sương, Sáu đạp xe đèo bà Chín ngược lại con đưòng cũ. Còn Út Sương thì ở lại nhà vợ chồng anh Bảy Thá. Sáng sớm cô sẽ theo chị Bảy chở xoài ra chợ, rồi từ chợ trở về nhà như người đi chợ sáng.

Để chuẩn bị cho việc đi lại của Sáu, Út Sương phải giả bệnh, nằm liệt giường suốt mấy hôm, sau đó người hàng xóm muốn nói gì với cô thì phải nói lớn, cô mới nghe. Chưa điếc hẳn, nhưng người ta đã gọi là Út điếc. Từ ngày bị nghễnh ngãng, cô cứ ru rú trong nhà. Thường đi với mẹ, họa hoằn lắm cô mới đi một mình. Cô ăn mặc cũng khác, cái khăn rằn xanh lúc nào cũng choàng kín qua đầu, như giấu mặt, chẳng muốn cho ai thấy. Đám con trai chưa vợ thường hay lui tới qua lại trước cửa nhà cô, mỗi ngày mỗi thưa vắng. Gặp người quen, người ta chào cô, cô không quay lại, cũng không dạ, không thưa. Anh con trai nào chưa biết bịnh cô, tưởng cô làm cao thì bà Chín lại phân trần cho cô: “Nó bị điếc hơn tháng nay, chào hỏi nó làm gì cho mất công!”. Hàng xóm thương cô, một cô gái mới hai mươi, đẹp, lại thùy mị, mà lại nghễnh ngãng, nhưng biết làm cách nào! Gặp cô, người ta thấy thương thương, nhưng không chào, không hỏi nữa. Nghe Năm Bờ nói, tôi lại nghĩ đến Sáu. Khi Sáu lên xe nhập nhoạng trong bóng đêm, chúng tôi đứng nhìn theo, ai cũng trầm trồ: giống quá. Nhứt là chị Bảy, chị cứ tấm tắc:

– Trời đất thiệt khéo xếp đặt: như chị em sanh đôi. Nè, nhớ đừng có chào hỏi ai đó, nghe hôn!

Út Sương, Sáu Linh, hai cô gái thật khác nhau. Một cô hai mươi sáu, một cô hai mươi. Một cô da dẻ mặn mà, một cô mịn màng tươi tắn... mái tóc, đôi mắt, cử chỉ... khác hẳn nhau, chỉ được có cái dáng nho nhỏ giống nhau. Không sao lầm lẫn được. Chỉ có cái vẻ bên ngoài ấy, Sáu đang luồn qua mạng lưới dày đặc của kẻ thù. Rất dễ sa cơ. Tôi cứ mãi băn khoăn. Tôi không đáp lại câu hỏi của Năm Bò mà hỏi lại:

– Nếu trót lọt, thì bây giờ cô Sáu đã tới chưa, chú Út?

– Tôi cứ lo ngay ngáy! - Út Đợ nằm phía bên kia nói sang - Bị bắt dễ như chơi.

Anh ngồi bật dậy, xoay người, nhìn sang tôi:

– Nhưng anh cứ tin đi. Chị Sáu đi lần này là lần thứ hai. Bây giờ thì chỉ sướng hơn anh em mình rồi. Mình nằm ở đây, nửa đêm một trái pháo rớt xuống ngay mình, mình lãnh đủ. Còn chỉ, chỉ ngủ thẳng cẳng. Sáng mai bà Chín lại mua về cho một tô hủ tiếu.

Út Đợ nói với tôi hay nói với Năm Bờ cho anh đỡ lo?

– Hai anh hút thuốc? - Anh bóc gói Rubi, bà Chín mang cho, mời hai đứa tôi.

Ba người trên ba chiếc võng, ba điếu thuốc khi thì như ba cái ống khói tàu, khi thì như ba con đóm đóm lập lòe.

Một đồng chí đang đi vào vùng giặc, chưa biết ra sao, không ai buồn ngủ, không ai muốn ngủ. Út Đợ ngả lưng xuống võng, lắc mạnh, nghe rõ tiếng cục kịch của hai cây cọc, anh nói tiếp:

– Nói vậy chớ không phải dễ đâu. Tôi cũng đã nằm trong vùng đó mấy ngày. Bom đạn không tới mình, nhưng bụng cứ thấp thỏm. Nằm trong buồng, nghe tiếng chân ai qua lại cũng giựt mình. Ăn cơm thì như ăn rơm, đâu được tự do như mình. Lúc đó tôi nghĩ, thà cứ bắn nhau, vậy mà sướng.

– Rồi cũng sẽ quen. - Năm Bờ nói, điếu thuốc anh cháy rực, cái võng nằm im.

– Anh Năm nói đúng đó. Cái gì chớ cái cực thì tôi quen lắm.

Chẳng hiểu cái gì gợi cho anh nhớ đến cuộc đời của anh, anh lại ngồi bật dậy. Dù đêm tối tôi vẫn biết anh đang ngồi xếp hai chân trên võng, nhìn sang. Anh nói, từ đời ông cố đến ông sở ông sơ anh về trước; sinh sống ra sao anh chẳng biết; còn từ đời ông nội đến đời cha, rồi đến cả anh chị của anh, chẳng có nghề nào ngoài nghề ở đợ. Hầu hết những ngưòi ở đợ dài theo mấy làng cặp theo con sông, đều là người của gia đình anh.

Cuộc sống có biết bao nhiêu nghề: nghề mộc, nghề may, nghề hớt tóc, nghề thợ bạc... Đứa nào, cha anh cũng chọn sẵn cho một nghề từ khi mới lọt lòng.

Thằng này lớn lên, không cho đi ở đợ nữa, to xương, cho đi làm thợ mộc.

Đứa bé lớn lên, mười tuổi, không đủ nuôi nó, nhưng tắm còn ở truồng, ai cho nó học nghề? Trong xóm, có một người cần một thằng nhỏ sai vặt, nuôi cơm, một năm hai bộ quần áo. Thôi, con đi ở vậy! Lại một đứa khác, cầm cái bàn tay nhỏ múp míp của con, cha anh bảo: “Thằng này nữa lớn sẽ khéo tay đây. Cho con học nghề thợ bạc. Con gái nó sẽ đeo theo mày”. Rồi hứng lên, ông cất giọng, ông hò.

Hò ơ

Con thuyền lớn sóng

Con thuyền kia a ... à dù

Có to buồm lớn bánh...

Bị một trận gió nam

Ơ... cũng chìm... à

Thông ngôn ký lục bạc chục không màng

Lấy chồng thợ bạc... à... đeo vàng đỏ tay... ơ

Rồi lớn lên, cũng như người anh, chú thợ bạc tương lai ấy được cha cho đi ở giữ trâu, từ năm lên chín.

Đứa khác, đứa con gái, cha anh bảo, lớn cho nó học may. Lúc đầu làm công, sau làm chủ như tiệm Thu Yến ở chợ đó. Đứa con gái được mười tuổi, tóc cắt bum bê; ngoài chợ, tiệm hàng xén của chú Hoa kiều cần một đứa ẵm em. Thôi, cho nó đi vài năm. Tiệm Hoa kiều, ăn cơm tàu ngon hơn cơm nhà. Đứa con gái ấy - chị của anh, cũng không được học may. “Thôi con, không có nghề nào dễ bằng nghề ở đợ!”. Giao con cho chủ, ông đưa bàn tay sần sùi vuốt tóc con, bảo con như vậy, rồi đến thẳng tiệm rượu.

Rồi đến anh, đứa con thứ tám, con út, mẹ anh bảo:

– Đứa nào ông cũng giành chọn nghề cho nó, còn thằng này thì ông để tôi.

– Ừ, thôi, tôi không có số, tôi thường cho má nó.

– Tôi chọn cho nó cái nghề ở đợ cho hết dòng, tôi đặt nó tên Đợ luôn cho tiện...

Vậy mà lớn lên, anh chẳng đi ở đợ cho ai một ngày nào. Tuy vậy, anh vẫn quen được cái cực, cái khổ của gia đình mình. Năm mười một tuổi (1955) sau ngày tập kết được một năm, anh ở lại làm liên lạc cho đồng chí cán bộ, vốn là người bà con xa ở làng, cán bộ nông hội, bây giờ là bí thư huyện ủy. Niềm hạnh phúc lớn lao nhứt của anh là trước khi mẹ nhắm mắt lìa đời, mẹ anh biết, đứa con út của bà không phải đi ở đợ, con của mẹ là một người Cách mạng, một chiến sĩ đang cầm súng. Và cả cha anh, trước khi qua đời vì tuổi già, cũng được biết đứa con út trong làng thường nói đùa với ông: “Thằng xã đợ phó của anh”, ít ra những ngày cuối của cuộc đời ông, ông cũng được nở mặt nở mày với xóm làng.

– Cho nên bây giờ, cực khổ đến đâu, tôi cũng không coi ra mùi mẽ gì.

Và anh nhắc lại những ngày cực khổ nhất của anh. Ngày giặc “bình định”, xóm vườn chẳng còn ai. Anh phải chôn súng, hoạt động bí mật, giành giật lại từng người dân. Bọn “bình định” quần áo kiểu bà ba đen, lận bên trong cây súng ngắn, tủa ra như một bầy kiến đen, bò đến tận nhà. Anh phải trát bùn vào mặt mũi mình, ngồi im trong bụi chuối sau hè nhà anh Bảy Thá từ sáng cho đến tối, nhịn ăn nhịn uống. Đêm lại mò theo con mương, ra ruộng, trở về khu du kích kiếm miếng ăn, nửa đêm lại mò vào ngồi như một cục đất trong vườn. Đến ngày thứ ba, chị Bảy ra vườn cắt bắp chuối.

– Chị Bảy! - Cục đất cất tiếng. Chị Bảy nhìn ngơ ngác, chẳng thấy ai, lại đưa con dao lên.

– Chị Bảy! - Cục đất lại kêu chị, to hơn. - Chị Bảy đừng sợ. Em là Út Đợ, em ngồi như cục đất đây nè.

Nhìn kỹ, thấy một mô đất có hai con mắt đang chớp, chị tái mặt.

– Đừng sợ, chị Bảy. Em là Út Đợ!

– Trời ơi, chú Út! - Tiếng chị thều thào - Chú ngồi đây mà tôi có biết đâu, anh em mạnh khỏe hết hả, chú?

– Chị làm sao cho tôi vào nhà. Sâm sẩm tối, giờ tụi nó đi ăn cơm, nghe chị. Thôi chị vào đi!

Trong nhà vợ chồng anh Bảy Thá có ba thằng “bình định” nằm thường trực, chiếm cả bộ ngựa gõ ở giữa nhà.

Chiều ấy, sâm sẩm tối, bọn nó tập trung lại đầu xóm, nhà chủ ấp, ăn cơm; trong khoảng khắc ấy, anh lẻn vào nhà anh Bảy Thá nằm trong buồng.

– Tôi phải thúc cùi chỏ để giành chỗ với tụi nó. Ba thằng “bình định” với tôi cách nhau một tấm vách. Gian khổ vậy, đâu được như bây giờ, nằm lắc võng như vầy.

Nói xong, anh hít thuốc kéo một hơi dài, ném cái tàn thuốc ra xa, rồi ngả mình xuống võng, hai cây cọc của hai đầu võng anh lại cục kịch, lắc rung lên.

Năm Bờ là người mở đầu câu chuyện, nhưng chuyện lại xoay về một hướng, cuộc đời của Út Đợ. Từ nãy giờ, chẳng biết anh nghĩ gì, còn tôi, tôi thật sự hứng thú với cuộc đời của Út Đợ.

Ba ngưòi lại nằm im, đuổi theo ý nghĩ của mình. Đã quá nửa đêm, trời trở lạnh. Tôi xổ tấm vải dù, đắp qua người, định không nói không hỏi gì nữa, nằm im cho người khác ngủ, nhưng hai cây cọc của Út Đợ vẫn lắc mạnh. Một cây diêm lại xòe lửa, anh đốt thuốc. Rồi ba cái võng, ba điếu thuốc lại như ba cái ống khói tàu, và câu chuyện lại bắt đầu từ giọng nói của anh:

– Lúc lắc như vầy mãi sao, mùa nước hay mùa khô, hai anh?

Tôi biết Út Đợ muốn hỏi anh Năm Bờ hơn, nên tôi không đắp. Tôi tự hiểu, tôi không thể tự giải đáp được câu hỏi của anh, tôi lặng thinh. Năm Bờ cũng chưa trả lời ngay - cuộc sống đang bề bộn ngổn ngang, ai biết nó sẽ kết thúc vào lúc nào? Đóm thuốc cháy đỏ, anh hắng giọng:

– Chắc phải đến mùa gió chướng! - Nghe Năm Bờ nói, tôi trở mình, bỗng thấy xôn xao với tên của mùa gió. Ngọn gió thổi khô mặt đất lầy lội ẩm ướt sau mùa nước rút. Gió se se lạnh, gió gợi kỷ niệm của tuổi thơ... Dưa hấu đỏ... chim én, mùa gặt... những con diều bay lừng lững giữa trời.

– Trưa nay, tôi với cô Sáu dự đoán như vậy, Út Đợ có thấy như vậy không? Lực lượng của mình bây giờ như một quả bom tháo rời hạt nổ, thuốc súng, mỗi thứ ở một chỗ; còn đủ, có đủ, nhưng không nổ được. Sau trận “bình định” vừa rồi, dân bị xúc, ly tán mỗi người một nơi... Phải gom lại, phải nén chặt. Tôi có bàn với cô Sáu chuẩn bị cho tôi, tôi sẽ đi...

Anh sẽ cùng vào hoạt động với Sáu trong vùng giặc. Nhưng bây giờ, trưóc khi đi, câu chuyện của anh đang đuổi theo từng bước chân của Sáu, trong đêm nay. Đêm nay, Sáu sẽ đi ngang qua ngôi nhà anh. Cùng xóm đó, một xóm với bà Chín, một xóm với thằng Long, ngày trước gọi là ấp Mỹ Thạnh làng Mỹ Hương. Nếu đi xuôi theo dòng nước đổ, từ chợ Vàm xuôi xuống đến nhà anh vài trăm bước thì đến nhà thằng Long, rồi đến nhà bà Chín. Nhà anh sát bờ sông, hè nhà xoay về hướng con lộ đá chạy qua làng. Một ngôi nhà sàn nhỏ. Dải nhà dưới bờ sông ấy, sống bằng nghề thợ mộc, xóm mộc nổi tiếng cả một vùng. Dưới bến, ngày nào xuồng ghe các nơi cũng đổ về, khiêng từ trên xóm xuống nào bàn, nào ghế, nào tủ... rồi lại tách bến, xuôi ngược khắp nơi. Người ở khắp nơi cũng gọi đó là xóm Cộng sản: Cộng Sản ba mươi, Cộng Sản bốn mươi. Gọi anh là Năm, Năm Bờ, thật ra anh là con lớn của gia đình, thứ hai. Ông ngoại anh là thợ mộc, một ngưòi thợ giỏi, nhiều học trò. Năm ba mươi mốt, mùa gió chướng, mùa của những cánh buồm no gió chạy trên sông, ba anh làm bạn chèo cho một chiếc ghe. Ghe cập bến nhà ngoại anh, bàn tủ chất đầy, trước khi ghe rời bến, ông chủ ghe nói với ngoại anh, xin để lại một anh bạn chèo, con của ngưòi chú, ở lại học nghề.

Ba anh, một người học trò thật khéo tay, vui tính mà tư lự. Một hôm tình cờ, đứa con gái của ông thầy mộc, giũ giường chiếu cho số học trò ăn ở trong nhà, cô gái bắt gặp lá thư của anh học trò giỏi viết cho mẹ nhưng chưa gửi đi. Lá thư giấu dưới làn áo gối. Thư viết trên một tờ giấy trắng mỏng không kẻ mà vẫn ngay hàng thẳng lối, chữ nghiêng về một phía như hàng lúa ngả theo chiều gió, chữ viết thật đẹp thật xinh, chữ đẹp hơn cả cô giáo làng đã dạy cô. Lúc đầu cô thích ngắm chữ đẹp, rồi cô đọc: “Má kính yêu của con! Con đã đến nơi, xin má đừng trách con đã lâu mà không viết thơ cho má, để má ngày đêm tựa cửa ngóng trông. Con của má vẫn mạnh khỏe, làm ăn tấn phát. Má đừng lo cho con mà hao mòn sức khỏe lúc tuổi già. Xin má tha lỗi cho con, vì nước mà con đành bất hiếu”. Đọc đến câu cuối, đôi mắt của cô gái nghe xon xót và cô thuộc lòng cả bức thư. Cô đem lòng thương người con vì nước mà đành bất hiếu đó.

Ba anh là giáo làng được phân về xóm mộc. Năm bốn mươi (1940), mới sáu tuổi nhưng anh vẫn còn nhớ, ngoại anh cho anh ngồi lên cổ đi xem cờ - Cờ búa liềm đỏ rực trên chót vót ngọn cây sao trước cửa đình! Xuồng ghe xuôi ngược trên sông, từ xa nhìn về, người ta đã thấy cây sao ấy vượt hẳn lên khỏi rặng vườn, một tàn lá xanh um, và đời đời, cây sao ấy, tiếng lá mãi rì rào cùng với tiếng sóng - Gió chướng thổi tan mây, trời ngăn ngắt trong xanh. Lá cờ như một đốm lửa giữa trời. Lá cờ ấy, ba anh và thợ mộc cùng xóm cắm lên ngọn cây sao từ lúc nửa đêm.

Lá cờ rực đỏ ấy thu lại như một ngôi sao đỏ trong tâm trí anh, soi sáng từng bước của cuộc đời anh. Cũng năm ấy, ba anh bị lưu đày ngoài Côn Đảo. Kỷ niệm về người cha thật ít ỏi, nhưng không phai mờ mà rõ dần theo bước trưởng thành của anh. Bốn năm sau, từ Côn Đảo, ba anh cùng anh em đồng chí thả bè nương theo gió, vượt biển trở về. Ba anh trở về trong đêm mưa, mưa tầm tã. Anh giật mình vì một cái hôn dài, một hơi thở ấm trên đôi má... Không biết là cha, nhưng anh không muốn rời cái hôn nồng nàn âu yếm ấy, hai tay anh quơ lên, quặp xuống, giữ chặt:

– Ba!

Một bàn tay bịt lấy miệng anh:

– Nho nhỏ, con!

Anh ôm cổ cha và ngồi gọn trong lòng mẹ.

– Ngưòi ta nói con là con của Cộng sản, con không được đi học hở con! Thôi, vài năm nữa, lớn lên, ba sẽ cho con đi học ở bên Nga...

Anh bắt đầu nghe tên đất nước của Lênin từ cái đêm ấy, năm anh lên mười.

Bây giờ, đứa em trai của anh theo ba má anh tập kết ra Bắc đang được hưởng niềm mơ ước lớn lao của anh, đang học ở Mạc Tư Khoa.

Trong một dịp hè, ba anh lại được mời sang nghỉ mát, hai cha con được gặp nhau bên ấy. Thư của thằng em gửi về, dài đến bảy trang, chữ nhỏ. Thư có đoạn nhắc lại cái đêm ba anh từ Côn Đảo về, hứa cho anh đi học ở Nga. “Cái thằng, lúc đó nó chưa đẻ mà nó làm như nó là anh của mình vậy. Thật tức cười!”. Thư có kèm theo một tấm ảnh, ba người đứng trước lăng mộ Lênin. Cha anh trông thật lạ, mặc áo ba-đờ-xuy dài đến tận gối, đầu đội mũ lông, một tay choàng qua vai thằng con, một tay choàng qua vai một cô gái Nga, bạn học của con mình.

– Sướng quá ha! - Út Đợ nằm im bỗng vụt kêu lên với giọng hả hê. Một cây diêm lại xòe lên. Tôi thấy anh ngồi xếp bằng trên chiếc võng đang đưa.

– Tôi mà được đi á, ra Bắc tôi sẽ thăm Cụ Hồ, qua Liên Xô tôi sẽ đi thăm ông Lênin. Tôi sẽ chụp hai tấm hình, phóng ra to, tôi treo giữa nhà cho con cháu nó nhìn.

Hít mạnh một hơi thuốc, anh nằm bật xuống võng.

– Đã... th... i... ệ... t... - Nghe giọng nói của anh, tưởng như anh sắp sửa lên đường.

Anh nằm trên võng đó, nhưng rõ ràng anh đang đi, đi trong mơ. Điếu thuốc như cái ống khói tàu ấy cứ phầm phập nhả khói, đỏ rực, và hai cây cọc của hai đầu võng “cục cà, cục kịch” như hai cây cột chèo đang chuyển động. Tôi bỗng sướng lây với anh.

Còn Năm Bờ, đêm nay, lần đầu tiên tôi nghe anh tâm sự. Hơn một tháng cùng đi với nhau, những lúc rỗi rãi, buồn như trấu cắn, tôi thường hay gợi chuyện, tôi cần nghe thì anh nói rất dè xẻn. Đêm nay sau khi chia tay với người yêu, có lẽ anh cần trò chuyện vói bạn bè cho đỡ cô đơn? Đã hơn một giờ đêm rồi còn gì, tôi buồn ngủ, nhưng chuyện của anh vẫn chưa dứt.

Sau khi đưa ba má với thằng em xuống tàu tập kết ra Bắc, từ Cao Lãnh về Mỹ An, anh bơi một xuồng con. Anh về với ông già Bảy làm nghề đóng cối. Ông Bảy Cối là tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, đầu để tóc, thờ vải đỏ. Tấm vải đỏ mà ông thờ, theo ông, đó là ngọn cờ Cách mạng. Ông tách mình ra khỏi bọn phản động, cho con đi Vệ quốc đoàn.

– Ở đó, tôi đã đụng với thằng Bá, cảnh sát trưởng bây giờ.

– Vậy hả, - Sáng hôm qua, Sáu Linh nói với tôi, anh Năm Bờ với thằng cảnh sát Bá, hai người hình như có duyên nợ với nhau. Tôi tò mò muốn hiểu, Sáu Linh định nói rồi lại thôi. Cánh con gái thường như vậy! Bây giờ, nghe anh nói, tôi thấy đỡ buồn ngủ. Tôi trở mình, đốt thêm điếu thuốc, thò chân xuống đất đạp mấy cái cho võng lắc mạnh. Hông tôi chạm vào hông anh, tôi cố ý như vậy để muốn nói với anh là tôi hãy còn thức nãy giờ, hãy còn háo hức với câu chuyện của anh.

Năm đó, bộ đội Hòa Hảo của Năm Lửa bị quân của Diệm đánh đuổi, Năm Lửa phải bỏ đất Cái Vồn, cùng với tàn quân chạy tan tác. Diệm muốn thống nhất quân đội, còn họ thì muốn giữ lấy quân đội riêng, dưới ngọn cờ tôn giáo như thời Tây. Họ chạy dồn về những làng trong đồng sâu Tháp Mười, những nơi mà quân Diệm chưa kịp đến. Một quân đội tổ chức theo kiểu gia đình. Ngưòi nào bắt được trung đội thì làm trung đội trưởng, cứ như thế mà đi lên hoặc tụt xuống. Một đội quân mê tín, thất học và lang thang. Họ muốn dựa vào dân nhưng quen tính cướp bóc, muôn chống đối lại đối phương nhưng không thoát được căn bệnh đầu hàng.

Đại đội thằng Bá, mỗi nhà năm bảy tay súng, đứng dọc theo hai bờ kinh. Nó đóng trong ngôi nhà lớn ở giữa xóm, nhưng thường hay lui tới nhà ông Bảy Cối để dòm ngó cô con gái út của ông. Út Hảo đang tuổi dậy thì. Anh gặp thằng Bá ở đó, một gã gần bốn mươi tuổi, người to lớn trong bộ đồ lính màu đen, cây súng ngắn lủng lẳng đến tận gối, bên hông một cây gươm dài; vốn xuất thân là tay anh chị của dân đứng bến xe, hai con mắt lúc nào cũng đỏ ngầu, ngực xăm hình con cọp đang nhe răng, cườm tay xăm một dòng ngày tháng năm sinh: 20-10-1920. Nực mùi rượu, hai con mắt đỏ sòng sọc như mắt cá chày, hắn nắm lấy đôi vai của anh:

– Trai tráng khỏe mạnh như vầy, sao không đi lính? Muốn đi lính, đại ca sẽ nhận làm em.

Đảng đã phân công anh, anh chỉ chờ có vậy. Anh gật đầu.

– Nhưng mà bây giờ, cứ ở nhà, làm lính kinh tế.

Nó muốn lấy cá mà không phải trả tiền - Dạo đó, anh với Út Hảo, hai anh em một chiếc xuồng con, đêm nào cũng đi giăng câu.

Anh vào lính, giữ cây “mút cơ tông” cổ lỗ của Tây, như những ngưòi lính của thằng Bá, ăn chay ngày rằm nhưng miệng lúc nào cũng chửi thề, và làm đàn em cho nó. Rồi đến một ngày, bằng lòng với một giá phải chăng, bọn nó kéo đi. Để lập công với chủ mới, nó quay lại đốt phá, bắn giết người kháng chiến. Thằng Bá không đốt nhà ông Bảy Cối, nó nói là vì tình bổn đạo, chỉ xin ông một điều, đưa Út Hảo cùng đi. Nó xin nhưng nó gí súng vào ngực Út Hảo, bắt cô phải xuống xuồng.

Đứng trước mũi súng của nó, Út Hảo không cưỡng lại.

– Anh đưa tôi ra thành chớ?

– Vậy chớ đi đâu.

– Anh cho tôi soạn quần áo.

Nó mừng rơn. Nó nháy mắt cho tên lính đang cầm sẵn cuộn dây định bắt trói Út Hảo lẩn đi.

Út Hảo gói một gói quần áo trong chiếc khăn rằn xanh, theo nó xuống xuồng. Hảo giành bơi lái, tên lính cận vệ bơi mũi, còn nó với tư thế của một ông chủ, nó ngồi giữa, xếp bằng. Đêm tối, xuồng rời bến, hàng trăm chiếc cướp của dân, nối theo nhau. Bất thình lình một tiếng nổ. Tiếng súng của anh từ trong vườn chuối bắn lên trời. Những anh em lính được anh giác ngộ, nghe súng lệnh họ nổ theo. Thằng Bá chưa kịp hiểu gì, thì một mái chèo đã quất vào vai nó. Xuồng lật úp. Súng vẫn nổ như một trận đánh. Thằng Bá với bộ quần áo lính tây, cây súng ngắn lòng thòng đến gối, cây gươm dài, cái vai bầm, nó lóp ngóp lủm chủm như con chó. Tiếng súng im. Bọn lính lắc lại xuống. Sau khi tỉnh lại, thì chúng được biết, có hơn bốn mươi người lính đã vác súng, leo lên bờ, đi đâu mất. Thằng Bá bị mất cô gái định bắt làm vợ nhỏ, vai còn ê ẩm. Số còn lại, xuồng nối theo xuồng, lặng lẽ bơi ra sông lớn đi đầu hàng Diệm.

Với hơn bốn mươi cây súng của lính Hòa Hảo ấy, anh được lệnh mở chiến khu. Đó là những cây súng đầu tiên của những ngày đồng khởi, chưa đi khắp tỉnh của đồng bằng.

– Nếu chị Út còn sống - Út Đợ nói - bây giờ con anh chắc lớn lắm hả anh Năm?

– Út Hảo bị giết trong đêm đó sao, anh Năm? - Tôi hỏi.

– Không! Sau này, hy sinh trước đồng khởi mấy hôm.

Thế là tôi đã hiểu, anh đã qua mối tình đầu, hiểu vì sao mãi cho đến bây giờ anh vẫn sống một mình, chưa vợ, chưa con, đang yêu và người yêu đang lăn lộn ngoài kia, trong vùng giặc, khiến cho anh đêm nay trăn trở, muốn trò chuyện với bạn bè. Tôi muốn hỏi thêm về cái chết của Út Hảo, nhưng Út Đợ đã nói trước tôi:

– Hồi đồng khởi, tôi mới mười ba mười bốn tuổi, đang làm giao liên, nghe bộ đội ông Năm Bờ về chụp bót, tôi tưởng anh là một ông già, râu dài như râu lân. Cái hôm chị Sáu đi đón anh về lập vành đai, chỉ định kêu anh bằng chú... Nghe chỉ nói, tôi biết ngay mà,... Bây giờ tới anh Thắng, chuyện cô nào, kể cho anh em nghe chơi đi, anh Thắng.

Tôi cũng nghĩ đến một cô. Một cô gái, nhưng không hẳn là cô nào, một cô chưa định hình, khi thế này khi thế khác, lởn vởn đâu đó, lúc gần, lúc lại xa, chưa bao giờ bắt gặp. Tôi đang nghĩ đến một cô, không phải Bé Ba, nhưng lại có một nốt ruồi son dưới cổ, một cô gái không phải Sáu Linh, nhưng lại có đôi mắt như mắt của cô, đôi mắt đen thẳm, ươn ướt, lung linh, đôi mắt khi nhìn thì đẫm ánh trăng. Và, theo gợi ý của Út Đợ, tôi cũng có chuyện đánh vào Sài Gòn đầu xuân sáu mươi tám; chuyện gian khổ, tôi có chuyện vượt Trưòng Sơn, đã từng ăn lá bép thay cơm... Nhưng đêm nay, và bao giờ cũng vậy, chuyện tâm sự tôi thường hay kể về người cha. Chuyện riêng, ngưòi ta thường nhắc đến kỷ niệm âu yếm của người mẹ. Còn tôi, mẹ tôi mất từ năm tôi chưa được lên mười, chít chiếc khăn tang lên đầu đưa mẹ đến nơi an nghỉ cuối cùng mà hai con mắt cứ ráo hoảnh, chưa biết khóc. Anh tôi, đứa con đầu, một đứa con cưng được nuông chiều nhưng học hành chẳng ra gì. Tôi là đứa con thứ tư, bắt đầu từ chữ A chữ B đã tỏ ra là một đứa sáng dạ. Hy vọng đối vói đứa con đầu, cha tôi dồn cả cho tôi. Cha tôi cho tôi đi học xa ở tại quận từ năm mới lên bảy, dứt ra khỏi sự nâng niu của mẹ, từ đó. Từ làng tôi đến chợ quận mười hai cây số, đi thẳng một con đường, con đường rải đá cặp theo sông. Một tháng đôi ba lần, vào sáng chủ nhật, cha tôi đi xe ngựa đến thăm tôi, có khi rước tôi về thăm nhà một vài giờ, sau đó lại cầm tay tôi, dắt tôi ra bến, tìm xe của một người quen, gửi tôi lại trường. Mẹ tôi ít khi đi khỏi nhà, hầu như chẳng đi đâu khỏi tầm mắt của các con. Kỷ niệm về người mẹ, với tôi thật ít ỏi, lờ mờ. Đưa mẹ đến nơi an nghỉ cuối cùng mà đôi mắt cứ ráo hoảnh, đó là kỷ niệm cuối cùng còn giữ lại và sâu sắc hơn cả. Mỗi lần nghe người khác nhắc đến mẹ, trong tôi kỷ niệm ấy lại nhói đau.

Cha tôi góa vợ, gà trống nuôi con. Cha tôi, một con người bình thường, chẳng hơn ai, nhưng tôi vẫn cứ tự hào là đứa con của người cha như vậy. Nếu ai đó cho tôi được quyền chọn trên khắp thế gian này một người để làm cha, thì tôi cũng vẫn sẽ chọn lấy cha tôi mà thôi.

– Sao làm thinh vậy anh Thắng? Kể đi - Út Đợ giục tôi.

– Tôi kể lại chuyện tôi đi tìm cha tôi cho hai anh nghe nhé!

– Được, chuyện gì cũng được.

Tôi bắt đầu kể. Mùa mưa năm 1966, vượt qua Trưòng Sơn về đến cơ quan, có một đồng chí già nhận ra tôi.

Tôi gọi đồng chí già ấy là bác Tư. Bác Tư kể cho tôi, cha tôi đã về Sài Gòn ở xóm Bàn Cờ, cha tôi bỏ làng đi từ những ngày tố cộng. Hàng ngày, bác thường hay gặp cha tôi. Một người gầy gò, trán cao, mặc đồ bà ba đen bạc màu, tay xách một cái hòm, đến từng xóm, từng nhà cắt tóc cho bà con lao động và trẻ em. Cái hòm nhỏ mà bác Tư kể, tôi nhận ra đó là cái hòm nhỏ màu đỏ đã bị tróc sơn, cái quai đồng, bên trong của nắp hòm là một tấm gương. Một cái hòm đủ để đựng chiếc “tông đơ”, cây kéo, chiếc lược sừng mỏng, con dao cạo, hộp phấn, bộ đồ ráy tai và một mảnh đá cạo dao - Với cái hòm nhỏ ấy, cha tôi đã nuôi một đàn con đến ngày khôn lớn. Vối cái hòm nhỏ ấy, cha tôi vừà đi kiếm sống, vừa tìm lại đồng chí, anh em. Theo lời bác Tư, cha tôi cũng là sợi chỉ nối liền lại cơ sở trong những ngày đen tối.

Thế là đúng mười hai năm, tôi mới nhận được tin của cha tôi. Nhưng tôi lại may mắn hơn nhiều anh em. Miền Nam qua những ngày tố cộng, qua những đợt di dân, dời dân, xáo dân, có anh em về đến nơi một hai ba năm sau vẫn chưa tìm được gia đình, chẳng biết cha mẹ vợ con mình tản lạc đến tận đâu!

Bác Tư thỉnh thoảng có đến chơi nhà cha tôi. Nhà mái tôn, một gian nhỏ, nằm sâu trong ngõ hẻm, xóm ấy có ngôi chùa. Chỉ tiếc có một điều, bác nhớ xóm, nhớ đường, nhưng lại không để ý đến số nhà cha tôi.

Sau đó, theo lòi chỉ dẫn của bác Tư, tôi đến khu nhà hạnh phúc. Đó là một cơ quan đặc biệt, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy. Là một tổ chức chuyên lo việc tìm kiếm lại gia đình của cán bộ, chiến sĩ và cũng là nơi đón tiếp cha mẹ, vợ con và thân nhân của cán bộ và chiến sĩ đến thăm. Khu nhà hạnh phúc gồm có nhiều ngôi nhà nhỏ đơn sơ mà đẹp, có đủ tiện nghi, nằm trong một bìa rừng. Từ đó có hai con đưòng dẫn ra chợ, một cái chợ vùng giải phóng với hai dãy phố lạ nằm hai bên bờ sông. Bến sông, mỗi ngày có hai chuyến tàu đi về.

Khu nhà hạnh phúc có hai bộ phận. Một bộ phận gồm bốn đồng chí già: hai má là hai má chiến sĩ chuyên lo tìm kiếm gia đình chiến sĩ vùng giải phóng, hai đồng chí già, vốn là cha chiến sĩ chuyên lo tìm lại gia đình cán bộ chiến sĩ trong các vùng đô thị. Một bộ phận tiếp đón gồm có những cô gái trẻ.

Tôi chụp một tấm ảnh, trao cho ông Sáu, kể cho ông nghe vài mẩu chuyện gia đình để khi ông gặp cha tôi ông sẽ kể để làm tin. Vì không biết số nhà nên ông phải đến nhà bác Tư, nhờ bác gái chỉ giúp.

Chuyến đi này, ông có nhiệm vụ tìm lại năm gia đình cho năm anh em cán bộ, ông đi vào chuyến tàu sang.

Trong những ngày chờ đợi, tôi lo dọn dẹp lại ngôi nhà, sửa sang lại hầm hố, rồi vào rừng đốn củi chẻ nhỏ, phơi khô... Trong mấy ngày gặp gỡ sắp tới, tôi muốn lo cho cha tôi từ miếng ăn giấc ngủ. Chuyến đi của ông Sáu phải mất năm ngày. Biết vậy, nhưng tôi với bốn anh em cùng có gia đình ở Sài Gòn, chiều nào cũng ra bến sông đợi tàu về.

Đến chiều thứ năm, năm đứa tôi, ngồi trên bến, đã nghe rõ tiếng máy tàu còn đang chạy khuất trong doi lá.

Ông Sáu trở về cùng với bốn bà mẹ của bốn người bạn cùng một chuyến với tôi.

– Còn anh thì sao? - Út Đợ ngồi xếp bằng trên chiếc võng bên kia hỏi sang. Tôi đáp:

– Tôi thì không có.

– Sao vậy?

– Để tôi kể tiếp cho nghe.

Tàu đỗ lại bến, ngưòi ôm lấy vai tôi là ông Sáu. “Lần này bác có lỗi với cháu!”. Ông tìm được nhà bác Tư gái, nhưng ông quên mất tên của cha tôi. Mà ở Bàn Cờ thì đâu chỉ có một ông già cắt tóc dạo. Bác Tư gái cầm lấy tấm ảnh của tôi mang đến từng người quen, nhờ họ nhận mặt tôi, nhưng người ở Sài Gòn, ai biết mặt tôi là ai?

– Ông già hết chuyện quên rồi sao mà quên vậy ha! -Út Đợ nói rồi lại đánh diêm đốt thuốc. Tôi thấy anh đang ức thay cho tôi.

– Rồi sao? - Anh hỏi với giọng suốt ruột.

– Tôi phải chờ đến lần thứ hai. Lần này trước khi đi, ông Sáu đưa tấm ảnh lại cho tôi, bảo tôi ghi tên cha tôi vào sau lưng tấm ảnh. Ông nhớ. Lần này khi bác Tư gái cầm lại tấm ảnh của tôi, lật ra sau đọc cái tên của cha tôi thì bác bảo: “Tưởng ai chớ ông già Hai cắt tóc dạo này thì tôi lạ gì. Nhưng mà ông không còn ở đây nữa, ổng trở về làng hơn một năm nay rồi!”.

Chuyện đã qua, điều không may ấy đối với tôi đã thành một kỷ niệm, tôi thấy thú vị khi kể lại. Tôi cười. Năm Bờ ngọ ngoạy trên võng cũng cười. Còn Út Đợ thì tức mình đến phải ngã lưng nằm xuống võng, thở dài!

– Vậy là tôi phải nhờ ông Sáu đi chuyến thứ ba. Lần này thì ông đi thẳng về làng.

Út Đợ lại ngồi dậy, nhìn sang:

– Lần này thì gặp không?

– Để tôi kể cho nghe.

Út Đợ không đủ bình tĩnh nghe tôi kể dài dòng nữa. Anh nói lớn:

– Anh có gặp được cha anh không, nói trước đi rồi hẵng kể.

– Gặp.

– Dữ hôn!

Vừa lúc đó thì cơn dông thổi tới. Một sợi dây căng tăng bị đứt, tấm tăng ni lông cuốn thốc lên. Xoài rụng nghe lộp cộp khắp cả vườn. Chúng tôi phải choàng dậy, buộc lại tăng. Pháo lại bắn! - Bao giờ cũng vậy, hễ trời đổ dông mưa thì bọn nó bắn pháo - Tiếng pháo hùa theo dông mưa, nhận không ra, nó rơi xuống nổ rồi mới biết, ở đâu, chiến trường nào, thằng giặc cũng thường hay bắn pháo theo kiểu đó.

Tiếng pháo hú qua khu vườn chúng tôi, bay tận vào trong, trong đồng trong ngọn, nổ ùng oàng.

Buộc xong tăng, chúng tôi trở lên võng. Trời rúc rắc mưa.

– Mưa này, ít hôm xoài ra lá non, tụi tôi sẽ cho mấy anh ăn bánh xèo.

Út Đợ xướng lên và chuyện lại xoay về một hướng khác, chuyện về món ăn mùa mưa gió, chuyện cá mắm, tôm tép, chuyện đi câu.

Chuyện về đêm thường hay lan man như vậy, chuyện này chồng lấp lên chuyện kia như những sợi chỉ dọc ngang đan lẫn vào nhau, và cuối cùng, dệt lên từng mảnh, mảnh đời.

Nguyễn Quang Sáng Tiểu Thuyết MÙA GIÓ CHƯỚNG Thực hiện ebook : hoi_ls Rút trong tập “NGUYỄN QUANG SÁNG Tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chí MinhNhà xuất bản Văn học 2007
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.