Mùa Gió Chướng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9

❊ ❊ ❊

Sáng hôm sau, xã đội họp du kích. Kể cả xã đội trưởng và xã đội phó, đội du kích còn được mười hai người, năm trai, bảy gái.

Đội du kích Mỹ Hương thường ngày họ phân tán mỏng, dọc theo hai bờ kinh, rải rác từ trong ngọn cho đến xóm cuối cùng của ấp chiến lược.

Bảy cô gái khăn rằn quấn cổ ngồi trên nắp hầm, súng gác qua đùi. Mấy anh con trai thì ngồi chồm hổm dưới đất, súng dựng thẳng lên trước mặt. Tôi cũng dự họp, còn Năm Bờ thì bị sốt, anh đang nằm trên sàn nhà. Nằm trên đó anh có thể nghe được tiếng nói của mọi người.

Chị xã đội trưởng Sáu Linh, đứng dựa vào cột nhà. Bắt đầu vào cuộc họp, chị giới thiệu tôi với đội du kích. Tôi để ý thấy có một cô đưa tay véo Bé Ba, khiến Bé Ba đỏ mặt, trợn mắt dọa lại cô kia.

– Giới thiệu với anh, đây là em Thon với em Thả!

– Thon Thả! Hai chị em - Út Đợ nhanh miệng nói chêm vào.

Cô chị khoảng hai mươi, cô em khoảng mười tám, đúng như cái tên của mình, dáng người của hai chị em trông thật thon thả, chị thì bới tóc, em thì để tóc thề, mặt giống nhau như đúc. Hai chị em bẽn lẽn quay nhìn ra sau vườn.

– Còn đây là em Thảnh.

– Thảnh bánh bèo! - Út Đợ cũng lại nhanh miệng nói thêm.

– Cái anh Út Đợ này kỳ cục! - Cô tên Thảnh đỏ mặt, nguẩy người, liếc Út Đợ, cái liếc mắt bén như dao. Thảnh độ hăm hai tuổi, người mảnh khảnh, nước da trắng xanh, đôi môi lại mọng đỏ. (Sau này tôi mới biết, trước khi vào đội du kích cô sống bằng nghề bán bánh bèo).

– Còn em này: Tuyết.

– Tuyết mà đen! - Người nói chêm vào cũng không ai khác là Út Đợ. Cô tên Tuyết, cô gái hai mươi tuổi, khỏe mạnh, nổi bật với đôi mày rậm, cô có vẻ lì hơn các cô khác, cô xoay mặt qua Út Đợ, lườm anh một cái rồi tỉnh như không.

– Còn em nhỏ nhứt là Út Trầm.

Út Đợ có lẽ bị mất hứng vì cái lườm của Tuyết, anh không chêm vào một câu gì nữa, chỉ cười cười. Út Trầm, cô bé độ mười sáu, để tóc thề, chỉ riêng em không có súng.

Sáu Linh định giới thiệu sang qua bên con trai thì nhiều cô nhao nhao kêu lên:

– Còn một người nữa.

– Người quan trọng nhất.

Tất cả các cô đều quay lại Bé Ba.

Sáu Linh nhìn tôi, múm mím cười, rồi cô làm nghiêm.

– Bé Ba thì anh Thắng biết rồi. Thôi, các đồng chí đừng đùa nữa! - Cô hướng mặt về một anh con trai.

– Em Châu!

Châu đứng phắt dậy, người to lớn, da đỏ hồng, chân to, bàn tay to. Châu vừa liếc nhìn Út Đợ, như không để Út Đợ kịp nói thêm gì về mình, Châu dõng dạc:

– Châu, khỏe như trâu, hai mươi hai tuổi, sống độc thân!

Mọi người cười ồ, các cô gái thì đấm vào vai nhau, bụm miệng cười. Nhưng Út Đợ cũng không tha anh.

– Khỏe như trâu nhưng lại sợ da gà!

Tiếng cười lại to hơn. (Sau này tôi mới hiểu, như người Ấn Độ, Châu không ăn được da gà).

Cánh con trai không để Sáu Linh giới thiệu, mà họ lần lượt đứng dậy, tự giới thiệu.

– Dũng! Dũng nóng! Hai mươi tuổi.

– Lâm, mười chín tuổi.

– Quyền, Quyền mụn, mười lăm tuổi. - Quyền, một cậu thanh niên đang tuổi dậy thì mặt đầy trứng cá.

Người cuối cùng là anh xã đội phó. Con người vui tính ấy, tôi chú ý anh hơn những người khác. Đôi mắt to với gương mặt vuông, tóc rễ tre, người thâm thấp với đôi vai ngang và cái lưng đầy như lưng gấu.

– Tôi, Đợ, Út Đợ, hai mươi lăm tuổi - Anh đứng phắt dậy, dõng dạc tự giới thiệu với đôi mắt mở trừng trừng khiến mọi người không thể nhịn cười. Anh ăn mặc gọn gàng chỉnh tề và cũng có vẻ diện hơn người khác. Người trông lẫm liệt, khỏe và chắc trong bộ quân phục màu đen may theo kiểu vệ quốc đoàn: túi áo có nắp, cầu vai có hai con đỉa vắt ngang bằng hai ngón tay. Nổi bật hơn cả là sợi dây nịt Mỹ thắt ngang hông, sợi dây nịt to bản màu cỏ úa, còn mới tinh, quanh sợi dây nịt đeo giắt đủ thứ: hai bao đạn đầy cứng, bao đạn bằng một loại da như da đóng giày, bên hông lủng lẳng một cái bình toong Mỹ để ló lên cái muỗng i-nốc; hông bên kia là cái đèn quáo cũng của Mỹ, gần bao đạn lại còn cái đèn chai. Một cái đèn thông dụng của mọi người kháng chiến, từ bộ đội đến cán bộ hoặc du kích, ai ai cũng có, luôn luôn ở bên mình. Cây đèn làm bằng chai xức tóc của phụ nữ, hoặc bằng chai đựng cồn hoặc bằng một thứ chai nào đó đại loại như vậy vừa nhỏ vừa xinh, đèn thắp bằng dầu lửa với một sợi tim bằng vải. - Cây đèn ấy, tác dụng của nó không chỉ dừng lại ở chỗ đơn giản là một cây đèn để thắp nữa, nó đã biến thành một trang sức có tánh chất nghệ thuật. Người ta làm cây đèn hết sức công phu: chọn một cái chai cho đẹp, trong veo, tìm một cái ruột bi bằng đồng để làm ống dẫn tim, tìm một sợi dây thép nhỏ, thường là sợi dây đàn - dây la - quấn thành một chiếc lò xo, đem nướng, rồi trui vào nước, cho dẻo. Cái lò xo quấn theo ống dẫn tim, bên ngoài lại bọc thêm cái vỏ đồng, vừa khít. Rắc rối, lôi thôi vậy! Vỏ đồng là vỏ đạn carbin. Đến lúc cần thắp, người ta dùng đầu ngón tay bật khe khẽ cái đầu ống dẫn tim, cái lò xo bật lên cành cạch, và cái đầu tim bật dần lên. Rồi đến cái nắp đèn. Hoặc là cái nắp cũ của chai, hoặc là một cái nắp mới do chủ nó tạo ra, bằng kim khí, có thể là đầu đạn đem nấu ra đổ vào khuôn. Cái cuối cùng là sợi dây để đeo nó. Có người đeo bằng ruột dây dù, có người đeo bằng sợi dây đủ màu bằng chỉ thêu xe, có người đeo bằng dây bạc, dây đồng. Ở miền Nam, có bao nhiêu người đi kháng chiến thì có bấy nhiêu cây đèn chai như vậy. Để trang trí cho cây đèn thêm đẹp, có người bỏ vào đó một ít hạt cườm để nó chao lên chao xuống đỏ đỏ xanh xanh, cho vui mắt. Cao hơn một bước, có người để cả tấm ảnh của một cô gái chắc chắn là người yêu của mình - vào cây đèn, hễ cầm đến cây đèn là thấy tấm ảnh chao đi chao lại, nhìn mình. Vừa để xem cho đỡ nhớ, vừa để giữ tấm ảnh. ảnh ngâm trong dầu lửa, không bị mốc, hằng bao nhiêu năm tấm ảnh vẫn còn tươi.

Nhìn cây đèn chai đang lủng lẳng cạnh bên hông của Út Đợ, tôi nghĩ hơi miên man vì cây đèn của anh bắt tôi phải chú ý. Cũng cây đèn ấy gợi cho tôi nhớ một câu chuyện kỳ lạ của chiến tranh.

Trong trận Đồng Xoài, bọn ngụy đưa tiểu đoàn “Trâu Điên” đến cứu viện. Bọn tiểu đoàn “Trâu Điên” đến mặt trận thì tiếng súng vừa chấm dứt. Với cái vẻ điên của mình, cái tiểu đoàn “Trâu Điên” bắt đầu tung hoành với những cái xác chết của bọn chúng. Cuối cùng nó nhặt được hai cây đèn dầu của hai chiến sĩ ta đánh rơi. Chỉ có thế mà tiểu đoàn “Trâu Điên” làm rùm beng nghe thật chướng tai. Hai cây đèn chai ấy, chúng coi là chiến lợi phẩm của tiểu đoàn. Chúng mang hai cây đèn ấy đặt hai bên cái đầu trâu trong trụ sở ban chỉ huy. Khách khứa hoặc các nhà báo, hoặc các cố vẫn Mỹ mỗi lần ghé qua tiểu đoàn, bọn chúng đều dẫn đến tham quan cái đầu trâu ấy, và khoe chiến công của trận Đồng Xoài: hai cây đèn chai!

Rồi mùa xuân năm 1968. Quân ta đánh vào Sài Gòn. Một cánh quân của ta tiến thẳng vào tiểu đoàn “Trâu Điên”, chiếm trụ sở ban chỉ huy, chiến sĩ ta không ngờ lại thấy hai cây đèn chai để hai bên cái đầu trâu. Chiến sĩ ta dùng báng súng đập nát cái đầu trâu, còn hai cây đèn thì bỏ túi.

Đâu có ai ngờ, hai cây đèn chai ấy, nhờ có hai tấm ảnh của hai cô gái, hai cây đèn lại được chuyển về tận tay của chủ nó.

Trong trận đánh vào Sài Gòn mùa xuân 1968, đi đâu, người ta cũng nghe kể chuyện hai cây đèn ấy. Chuyện thật mà nghe như bịa. Bây giờ, trong cây đèn của Út Đợ cũng có một tấm ảnh của một cô gái mặc áo bà ba đen, đầu đội nón lá, đang chao qua chao lại như con cá đang lượn, và cô đang cười.

Chắc hẳn là người yêu của anh! Thế nào tôi cũng hỏi cho biết.

Út Đợ ngồi xuống qua loạt vỗ tay, chấm dứt phần giới thiệu, thì Sáu Linh đứng dựa vào cột nhà, lật quyển sổ tay ra.

– Tôi xin báo cáo!

Tất cả đều hướng về Sáu. Còn tôi, lần đầu tiên được dự cuộc họp của du kích. Tôi cũng hướng về cô, chờ đợi. Tôi hết sức chú ý, rồi cũng hết sức ngạc nhiên về bản báo cáo của cô. Tôi tưởng là tôi sẽ được nghe một bản báo cáo dài trong đó có tình hình địch, âm mưu địch, rồi tình hình ta, tình hình nhân dân trong mấy ấp giải phóng, tình hình nhân dân trong ấp chiến lược... Nhưng cô không báo cáo một điều gì theo tôi nghĩ cả, mà cô nói đến mùa xoài. Cô nói:

– Đã đến mùa xoài rồi. Trời bắt đầu mưa dông. Bà con mình chưa ai trở về. Xoài rụng đầy vườn. Nếu không có ai lượm, ai hái, thì xoài rụng hết. Xã đội đề nghị với các đồng chí, đợt này du kích mình chia nhau ra, lượm xoài cho nhân dân.

– Phải đó! - Một cô nói đệm vào. Ra vẻ thích thú, các cô nhìn nhau, huých nhau, miệng cười tủm tỉm.

– Hễ lượm xong thì bắt đầu hái. Xã đội đề nghị với các đồng chí, xoài của nhà nào gom lại cho nhà nấy, không nên để lộn xộn. Nhà nào còn lu, có hũ thì mình để xoài vào giú, nhà nào không còn lu còn hũ thì mình lấy cà ròn hoặc bố tời, hoặc lá chuối khô, xếp lại cho gọn, làm sao cho đồng bào trở về thấy vừa lòng.

– Chừng nào thì đồng bào về? - Út Trầm vụt đưa tay hỏi, mọi người lại nhìn nhau rồi lại nhìn Sáu, mặt Sáu ửng đỏ.

– Mình phải vận động đồng bào đấu tranh đòi trở về thu hoạch huê lợi. Trước sau gì đồng bào cũng trở về. Du kích mình làm sao, khi đồng bào trở về đồng bào thấy, dù có bị xúc ra ấp chiến lược, nhà cửa cũng như vườn tược, huê lợi của mình luôn luôn được Cách mạng chăm sóc giữ gìn.

Lời nói của Sáu thật bình thường, thật giản dị, nhưng lại làm cho đội du kích của cô xôn xao; nhìn Sáu, người nào cũng tươi tắn, hớn hở ra. Họ sắp gặp lại dân, những má bảy má ba, những anh những chị, những cô dì những em... những người đã sinh ra họ, nuôi nấng họ và sống chết có nhau.

– Cuộc họp chỉ có như vậy. Xã đội đề nghị Bé Ba phụ trách việc lượm xoài, hái xoài; công tác chiến đấu thì anh Út Đợ phụ trách, còn tôi, tôi sẽ đi công tác vài hôm. Anh Năm cũng vừa mới về, có gì anh Năm sẽ giúp đỡ.

Sáu gấp quyển sổ tay lại:

– Hết! - Và cô cười.

Các cô du kích vùng chạy ra như một đàn chim. Thế là cuộc họp kết thúc và giải tán.

Tôi ngồi đó, như bị hẫng.

Út Đợ đứng dậy, nhìn tôi, nháy mắt. Hai đứa tự nhiên thấy thích nhau qua cái nháy mắt và nụ cười.

– Anh Út! Bây giờ tôi giao anh Thắng cho anh đó. Anh Thắng muốn gặp bà Chín. Còn tôi, tối tôi mới ra.

Sáu Linh nói và vẫn đứng dựa vào cột.

– Chừng nào đi, đi bây giờ được không?

– Tùy anh.

– Đi bây giờ đi anh Thắng! - Út Đợ bảo tôi.

– Đi thì đi! Mà khoan, chờ tôi một chút.

Tôi lên nhà, thăm Năm Bờ. Năm Bờ lên cơn sốt từ nửa đêm. Anh nằm trên chiếc chiếu trải trên sàn nhà, đắp miếng vải dù bông từ đầu đến chân. Nghe có bước chân đến gần, anh choàng dậy:

– Thắng đó à?

– Anh đã đỡ chưa?

– Về đến đồng bằng rồi mà vẫn bị sốt, ức quá! Ngồi xuống đây.

Tôi ngồi cạnh bên anh, ngửa bàn tay đặt lên trán anh. Vầng trán nhơm nhớp mồ hôi và lạnh ngắt.

– Sốt rét này dai dẳng lắm. Anh phải nằm dưỡng vài hôm!

– Tôi định tối nay sẽ gặp bà Chín để hiểu thêm tình hình, nhưng chẳng biết có đi nổi không?

– Anh phải nằm nghỉ, có gì tôi sẽ báo cáo lại với anh.

– Anh thấy thế nào?

Tôi chưa kịp hiểu câu hỏi của anh thì anh tiếp, một con mắt anh lại sáng lên:

– Vậy là mình đã phá lỏng rồi, không phải bế tắc như lúc ở Rờ mình nghĩ, phải không?

– Tôi chưa hiểu nhiều, nhưng tôi cũng đã thấy như vậy. Lúc ở Rờ tôi cũng tưởng là vùng bình định, một con kiến cũng không qua được. Về đến đây tôi mới thấy.

– Vấn đề là bây giờ phải tổ chức lại cho khoa học,tiến lên một bước cao hơn. Chẳng biết tôi có lạc quan tếu hay không, chớ tôi, tôi thấy, tình hình này không lâu đâu.

– Anh Thắng ơi, đi đi, trưa rồi! - Tiếng của Út Đợ từ dưới sàn nhà dội lên giục tôi. Tôi cúi xuống, nhìn qua kẽ sàn nhà, nói với anh:

– Chờ tôi một chút, tôi đi đây.

– Thôi, Thắng đi trước đi, nếu tôi khỏe, tối nay tôi sẽ ra. - Năm Bờ vừa nói vừa đưa tay bắt tay tôi, mắt trõm lơ, và tay anh hầm hập nóng.

Tôi đứng trên sàn nhà, trên đầu cầu thang. Nắng rải rác từng đốm nhỏ xuống khu vườn. Có ba cô du kích, Thon, Thả, Tuyết, mỗi người đeo một cái giỏ đang lom khom lượm xoài. Tự nhiên tôi không còn băn khoăn với nội dung cuộc họp sáng nay nữa. Những điều tôi tưởng là tôi sẽ được nghe qua bản báo cáo của chị xã đội trưởng Sáu Linh ấy, đội du kích của chị đã hiểu hết rồi, những điều mà người khác hiểu rồi thì nói nữa để làm gì? Tôi để ý thấy rằng, ở những chiến trường gay gắt, mặt đối mặt với quân thù, người ta không có thời giờ để hoa hòe hoa sói, người ta tước bỏ đi tất cả những điều vô ích, và bản thân cuộc sống cũng không chấp nhận những điều vô ích đó.

Cũng như cuộc họp của xã đội sáng nay, một cuộc họp với nội dung hết sức giản dị mà thiết thực.

Trong lúc bọn chúng - kẻ thù, tìm mọi cách để bắn phá vườn tược, rải thuốc độc cho cỏ cây xơ xác, thì du kích đánh trả bọn chúng không chỉ bằng tiếng súng, mà đánh trả lại bọn chúng bằng công việc đi lượm từng trái xoài rụng cho nhân dân.

Nếu tính từ buổi sáng nay, thì cuộc chiến đấu giành đất giành dân đang bắt đầu từ những người du kích đang lom khom ngoài vườn kia.

Cô Thon, cô Thả, cô Tuyết... các cô chạy từ chỗ này đến chỗ khác, rồi nhảy qua con mương vườn, cúi lượm lấy một trái bỏ vào giỏ... Châu, Quyền, cánh con trai đang trèo xoài, thọc cái lồng ra, giựt đứt từng cái cuống xoài già, xoài chín...

Tôi đưa mắt tìm Bé Ba để nói một câu gì đó trước khi đi. Nhưng không thấy Bé Ba đâu, có lẽ cô đang lượm xoài ở một khu vườn khác, có thể là khu vườn ở bên kia bờ kinh...

Tôi chạy xuống cầu thang. Út Đợ đang đợi tôi.

– Đi chớ anh Thắng?

– Đi! Chị Sáu đâu rồi?

– Chỉ đang nấu cháo cho anh Năm.

Út Đợ sóng vai tôi:

– Đi đi cho hai ông bà người ta tò tí.

Nguyễn Quang Sáng Tiểu Thuyết MÙA GIÓ CHƯỚNG Thực hiện ebook : hoi_ls Rút trong tập “NGUYỄN QUANG SÁNG Tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chí MinhNhà xuất bản Văn học 2007
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.