Phải, chiến sĩ trinh sát của đơn vị đặc công lại trở về. Tên anh, tôi được nghe một lần trong tâm sự của Mưòi - phòng vệ dân sự, qua lời kể của Sáu Linh. Bây giờ, một buổi sáng nắng đầy vườn, anh đứng trưóc mặt tôi, trình giấy cho xã đội. Người tiếp anh phải là anh xã đội trưởng. Nhưng suốt mấy ngày hôm nay, Út Đợ cứ vất vả ngược xuôi. Là xã đội trưởng của một xã đang chuẩn bị chiến trường, công việc cứ dồn tới, từ cái nhỏ đến cái lớn. Hầm hố, cơm gạo, cầu đường... tất tất, việc gì anh cũng phải lo. Đội du kích của anh cũng phân ra, mỗi người một việc. Bé Ba, Thảnh lo chỗ ở, hầm hố cho trạm quân y dã chiến, cho những đơn vị và khách từ trên xuống. Thon, Thả hai chị em một chiếc xuồng lo tải gạo, cá mắm đưa vào kho, xây cất bảo quản kho. Tuyết đen cùng đi với trinh sát của đội nữ pháo binh. Bé Thiều con chị Nở được chuyển ra nhà vợ chồng anh Bảy Thá, làm trạm chuyển tin từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong, Út Trầm chuyển về làm giao liên cho xã đội.
Anh xã đội phó Châu, Dũng, Lâm và một số thanh niên làng - ngoài ấp chiến lược trở về, thì lo canh gác, cầu đường, hầm hố chiến đấu. Bấy nhiêu người với bấy nhiêu việc, rộn rịp, tất bật mà âm thầm! Út Đợ có mặt ở khắp nơi, khi thì gặp anh đang ngâm mình dưới nước, xốc lại cây nọc cầu, khi lại gặp anh cầm leng xúc đất đắp lên công sự, lúc lại thấy anh ngồi trên xuồng chở gạo... Anh đi, hai bàn chân không nghỉ, khuya lơ khuya lắc mới trở về, gặp đâu ăn đó.
Còn tôi, tôi được phân công giữ nhà, thu xếp và giải quyết giúp anh một số việc. Đọc qua giấy giới thiệu của Phải, Đặng Ngọc Phải, trình cho xã đội, tôi đoán hiểu được mũi quân nào về đây. Tôi gọi Trầm, bảo em đi tìm Út Đợ. Tôi giăng võng, mời anh ngồi đợi, rồi đi nấu nước.
Cái bàn trà tôi đặt giữa hai cái võng, anh ngồi bên kia, tôi ngồi bên này. Tôi xúc ấm bằng nước sôi, rửa chung cũng bằng nưốc sôi; hai cái chung rửa xong, tôi lật úp cả hai cái xuống đĩa, rồi đổ nước sôi lên đít chung, đúng kiểu cách của dân sành trà. Tôi làm cái việc đó trước mắt anh, để tỏ thiện cảm với anh, và cũng muốn chứng tỏ, dù con đầm già đang rà soát qua khu vườn, rặng cây bên kia làng, đang có tiếng pháo gầm rít, tiếng bom nổ, và ngoài xa trên cánh đồng đang có tiếng trực thăng, tôi vẫn ung dung tiếp anh. Ngược lại, anh cũng để ý quan sát từng cử chỉ nhỏ của tôi. Tôi pha một ấm trà, loại ngon của Năm Bờ gởi cho, nước trong xanh phảng phất mùi sen. Qua một vài chung trà, một vài câu chuyện, ngắm nhìn anh, tôi thầm nghĩ, cấp trên đưa anh vào đơn vị đặc công thật là khéo chọn. Một binh chủng thần kỳ đặc biệt Việt Nam. Khi phải leo tường, anh chiến sĩ đặc công sẽ bám sát ngưòi vào bức tưòng dựng đứng, bò dần lên, bám chắc và nhanh như con thằn lằn. Lội dưới nước thì êm như cá. Ra vào đồn bót giặc như chỗ không người! Nếu cần, anh sẽ có một món gì đó - cái gạt tàn thuốc để trên bàn làm việc của bọn nó chẳng hạn, mang ra làm chứng. Những con chó Béc giê, nuôi từ bên Mỹ đưa sang, không thể phát hiện được hình bóng, mùi vị, hoặc dấu vết của anh. Lúc đặc công thực tập, ta cầm cây đèn dài loại năm pin, sáng như pha, ta đứng trong một cái chòi, như cái lô cốt của giặc, quanh ta là bãi trống. Một anh đặc công đứng ngoài kia, báo cho ta biết là anh sẽ vào. Với cây đèn rực sáng ấy, cầm trong tay ta cứ rà, cứ rọi, cứ soi đi! Rồi bất thần anh chiến sĩ đặc công đứng cạnh bên ta, ta cũng không hề hay biết, đến lúc có một bàn tay khỏe mạnh, chộp lấy gáy ta, ta mới giật mình... Và còn bao nhiêu câu chuyện nữa của đặc công, tôi đã được nghe. Bây giờ con người của những câu chuyện như thần thoại ấy đang ngồi uống trà vối tôi, dưới sàn nhà. Một người trai tuổi độ hăm lăm, hăm sáu, không to lớn, nhưng liền lạc gọn gàng, không gân guổc mà mềm mại, sự mềm mại của con người khỏe mạnh. Cái áo sơ mi trắng bằng vải phin trắng, hàng nút như nứt ra vì lồng ngực căng đầy của anh, vẻ mặt sáng láng với đôi mắt sắc và vầng trán thanh thanh.
– Công tác của anh gian khổ nhưng chắc là thú vị lắm?
Tôi bắt đầu gợi chuyện. Anh cười:
– Cũng bình thường như những công việc khác thôi. Nhưng binh chủng nào cũng có cái riêng của nó.
– Trong đời hoạt động của anh, có lần nào anh gặp những tình huống gay go, đáng nhớ?
Ấy, cái tật của tôi là vậy, tôi đang bắt đầu và đã hỏi dồn đến tận nơi! Với lại, muốn gặp và nghe chuyện một chiến sĩ đặc công đâu phải dễ. Bằng mọi giá, tôi sẽ bám lấy chuyện của anh. Bởi vì tôi biết, một chút nữa, Út Đợ sẽ trở về. Anh sẽ bắt tay vào công việc, rồi dù có hẹn, thì sau đó mỗi người sẽ mỗi nơi, rất khó gặp lại nhau.
– Nhiều lắm! Lần nào tôi cũng thấy gay go.
Tôi hứng thú với câu mở đầu của anh. Nhưng tôi bị con đầm già phá đám. Đang quần đảo u u, nó tắt máy.
– ... C... ả... o... X... ù... y...
Nó cảo một phát hỏa tiễn. Tiếng hỏa tiễn rít xiên ngang mái nhà trên đầu chúng tôi, đùng một tiếng cách chúng tôi - trong cụm vườn, chừng năm bảy mươi thước. Hai chúng tôi phải rời võng đứng bật dậy, bước ra khỏi sàn nhà, nhìn theo nó. Đó là phát hỏa tiễn cuối cùng, nó trút xuống trước khi về, chẳng cần đến mục tiêu.
Con đầm già mắc dịch đó bắn xong, nó cất cánh, tè tè bay thẳng ra sông lớn.
Khu vườn lại yên tĩnh, sự yên tĩnh sau tiếng nổ thật kỳ lạ! Tiếng động trong khu vườn nổi lên rõ hơn. Lá lao xao, và tôi nghe rõ tiếng lá rơi vãi cuộn tròn chạy theo gió.
Chuyện giữa tôi với Phải bị dứt đi xa, khó bề xoay lại được. Anh chưa trở lại chỗ ngồi. Nếu vì nể tôi mà anh phải trở lại câu chuyện, chuyện sẽ gượng và tôi sẽ trở nên vô duyên. Đành phải để dịp khác vậy, “sự vô duyên” đó để cho con đầm già nó nhận. Nó bắn thật vô duyên! Tôi để cho Phải được đứng yên, được nhìn khu vườn. Anh nghĩ gì mà tư lự? Tôi không thể hiểu, nhưng qua cái nhìn sâu và lặng lẽ của anh, khiến tôi nghĩ đến Mười, cô gái đã mấy năm vò võ đợi anh, và mong cùng sống với anh. Tôi không muốn tỏ cho anh biết là tôi hiểu được chuyện riêng của anh. Tôi không muốn khuấy động đến sự im lặng của anh!
Trước đây, khi tôi nghe chuyện của Mười, tôi tưỏng tượng và hình dung hình dáng của cô. Bây giờ đứng trưóc ngưòi con trai mà cô yêu, trong sự tưởng tượng của tôi, hình dáng của cô khác đi, xứng với anh hơn. Phải đứng đó, đang nghĩ đến ngày gặp lại người yêu của mình chăng?
Trước mắt tôi, và trước mắt anh, vườn xoài đang bắt đầu trang điểm với những nụ hoa đầu mùa, trắng li ti như rắc phấn. Những chùm hoa nhỏ không chịu yên, lay động ngả nghiêng cười đùa với nắng. Và thỉnh thoảng buông xuống vài nụ, rắc lên mặt vưòn những cánh hoa nhỏ, trắng li ti...
– Ai như thằng Phải đó phải không?
Út Đợ về. Từ ngoài vưòn anh vừa đi vừa chạy, đeo trên vai một cuộn dây luộc.
Trông hai người bạn cũ gặp nhau kia, thấy mà vui lây, mà thèm cái tình bạn của họ. Hai người chạy lại nhau, không bắt tay, mà vừa ôm vừa đấm vào lưng nhau, nhìn kỹ, mắt của họ đỏ hoe.
– Trận này mày mà không về, tao giết.
– Mày đi đâu từ sáng tới giờ hả? Tao chờ muốn chết.
– Thôi vô đây, vô đây uống nước. Uống nước, rồi mai chiều tao nói cho mà nghe.
Út Đợ nắm lấy tay của Phải kéo vào sàn nhà:
– Anh Thắng, đây là Phải, bạn hàng xóm của tôi. Hồi nhỏ, hai đứa chia thành phe, làm Tây với Việt Minh đánh nhau tối ngày... Còn đây là anh Thắng, cán bộ ở Rờ hạ phóng, bạn của anh Năm.
Giữa hai ngưòi thì Út Đợ sôi nổi hơn. Anh đặt hai tay lên vai Phải ấn Phải ngồi xuống võng:
– Ngồi xuống đây uống nước.
Tôi lại pha thêm ấm trà mới.
– Trầm đâu rồi Út? - Tôi hỏi.
– Gặp tôi rồi nó ghé nhà ông Hai.
Út Đợ xách ghế, đặt trước đầu bàn, giữa hai cái võng, ngồi dạng chân, mừng bạn, miệng anh tía lia.
– Thằng Châu nó nghe mầy vể nó mừng hết lớn! Nó cứ nói với tao, là nó muốn theo mày làm đặc công.
– Tao định rút nó lên để nó dạy võ cho anh em.
– Tao giết mày.
– Mày đi đâu mà dây luộc lên vai? Định trói tao sao chớ?
– Ờ quên. - Út Đợ cởi sợi dây luộc ném xuống đất - Chạy đi lo cho tụi bây chớ làm gì nữa. Muốn đứt hơi!
Tôi rót trà, mời một tiếng gọn:
– Uống!
– Uống đi mày, Phải, rồi tao nói cho mà nghe. Đi từ sáng tới giờ, mới được một cuộn dây luộc đó. Tao kinh nghiệm rồi. Hồi năm sáu mươi tám, cứ để mấy cái cầu khỉ đó, mấy cha chủ lực mình qua cầu như hề hát xiệc đi dây. Tao định buộc lại cầu, nhưng mấy hôm nay, máy bay đêm nào cũng chụp hình. Trời, chớp lình phình sáng đêm! Nó chụp đường chụp cầu, hai ba bốn cái, nó đem so lại thấy khác, nó biết, cho nên tao nghĩ là phải làm cầu nổi, bằng tre, để sẵn trong vườn, chừng nào mấy cha tới, thì tao thả xuống cho mấy chả đi. Mấy chả đi xong thì tao kéo lên, để trong vườn. Mệt muốn đứt hơi!
Út Đợ cầm chung nước, ực một cái rồi tiếp:
– Bây giờ cái gì cũng sắp xong, chỉ còn cái bầy vịt ngoài ấp nữa thôi.
– Bầy vịt gì? - Phải hỏi.
– Cái bầy vịt đó, - Anh chửi thề một tiếng - nó phá đám tao một lần, muốn chết! Mày nghĩ (Anh nhìn sang tôi) như vầy anh Thắng. Mậu Thân năm 68. Trong những ngày chuẩn bị để bảo đảm bí mật, mấy cái thằng thám báo ở trong xóm, tụi tôi triệt hết. Đến lúc chủ lực về, không ai báo cho nó, êm ru. Khi tôi dẫn bộ đội tắt qua đường đồng để hợp điểm, đi cách bót nó độ năm trăm thước, nó không biết gì hết. Êm re! Nhưng tôi không lưòng trước được. Tôi dẫn quân đi ngang qua một bầy vịt tàu, một bầy cả ngàn con. Nghe động, nó vỗ cánh nó kêu, nó chạy. Một ngàn con vịt tàu nó cạp lên. Thiệt thấu tròi, ai mà bụm miệng nó được? Thiệt quá cha thám báo! Trong bốt nó nghe, nó nã cối ra - Tôi bị mấy cha chủ lực chửi cho một trận. Biết mình sơ suất tôi làm thinh! Mấy hôm nay, thằng Châu dấn qua xóm anh Bảy Thá rồi. Ngũ da ngũ diếc, thằng nào cũng bị nó cảnh cáo! Bàn tay thằng Châu mà thộp ngực đứa nào thì đứa đó hồn vía bay mất, hai cái chân sụp xuống, hai cái đầu gối đánh nhau lộp cộp, run như thằn lằn đứt đuôi. Việc đó, coi như xong! Cuối cùng, chỉ còn cái bầy vịt!
– Bây giờ Út định giải quyết bầy vịt đó thế nào? - Tôi hỏi. Út Đợ đưa tay phạt ngang.
– Đánh tiết canh ăn ráo. - Rồi anh ngã ra cười. - nói vậy, biết làm sao được. Lúc đầu tôi định nói với chủ nó, điều nó đi. Nhưng tai vách mạch rừng. Thôi thì, biết nó phải tránh nó vậy. Còn mày sao Phải?
– Sao là sao?
– Về một mình hay về với ai.
– Một tiểu đội nữa. Tao đi trước, còn anh em thì vài hôm nữa mới tới.
– Ngon! - Anh quay sang tôi. - Ờ, bị thằng Phải mà nãy giờ tôi quên. - Anh móc túi đưa cho tôi một lá thư.
– Thư của chị Sáu gởi cho anh.
– Út gặp cô Sáu, hôm nào? - Tôi và Phải cùng hỏi.
– Gặp được đâu! Chỉ vô nhà anh Bảy Thá, biểu con Thiều đem qua vọng gác.
Tôi cầm thư, ngồi lại võng, mở xem. Thư của Sáu viết:
Anh Thắng thân mến.
Tôi với anh Năm có bàn với nhau, và hôm lên tỉnh báo cáo các đồng chí trên cũng đồng ý cho anh đi hợp pháp. Mấy hôm nay, tình hình này, chúng tôi thấy rất cần. Chúng tôi hoạt động bất hợp pháp có nhiều điều bị hạn chế. Có được một người được đi lại hợp pháp như anh thì tình hình mới nắm được toàn diện. Nếu anh đồng ý thì anh biểu em Thon đo cho anh hai bộ quần áo, gởi ni tấc cho tôi, tôi sẽ may gởi cho anh. Anh cần liên lạc với anh nhà báo để bàn bạc. Tôi cũng đã viết thư cho anh Út Đợ. Anh bàn thêm với ảnh. Chúc anh mạnh khỏe.
Tôi xếp thư, nhìn lên thì thấy Út Đợ đang nhìn tôi, anh cười:
– Lần này thì anh ngon rồi đó, anh Thắng!
Tôi nhướn mày. Tôi lại nhìn Phải. Nay mai, tôi sẽ gặp người yêu của anh. Tôi nghĩ mà không nói.
– Bây giờ thì sao Phải?
– Tao muốn đi ra ngoài thằng Châu.
– Thì đi, tao cũng cần gặp nó.
Út Đợ đứng dậy, cuộn dây luộc mang lên vai:
– Tôi đi! Anh Thắng ở nhà, tối tôi về.
Tôi đưa hai người ra đến tận đường. Đưa Phải đi, tôi thấy mình bị mất những câu chuyện hay của anh chiến sĩ đặc công. Tại con đầm già. Bây giờ thì tại Út Đợ. Nhưng Út Đợ bù lại cho tôi.
Tối, Út Đợ trở về. Bước vào nhà sàn, anh ngã ngay xuống võng, ngả lưng, thở phào.
– Phải đâu không thấy về?
– Nó đi ra ngoài con Mười rồi!
– Vậy à? Làm sao gặp được?
– Thằng đó, - Anh gọi Phải bằng thằng đó với giọng thân yêu - đâu mà nó không tới được anh.
Bao nhiêu ngày vất vả, biết anh mệt, tôi không muốn gợi chuyện. Và tôi cũng đang lo nghĩ, bận rộn đến chuyến đi, qua lá thư của Sáu Linh. Nhưng Út Đợ đã ngồi dậy, bật lửa đốt ngọn đèn chai đặt lên bàn, và lại hăng hái:
– Anh xem, nó tài như vầy, thì đâu mà nó chẳng tới! Có lần, nó kể với tôi. Nó vào nhà của một tên ác ôn. Nó vào lúc trời vừa chạng vạng tối. Vào nhà, nó ngồi dưới một cái chõng, ngồi rúc trong bóng tối. Thường đêm, mười hai giờ thằng ác ôn mới về nhà. Nó ngồi đó nó chờ. Đến tối bà già thằng ác ôn, ngồi trên chõng gọt cau. Cây đèn dầu trứng vịt để trên ghế, bên thành chõng. Nó ngồi nghe rõ tiếng dao cắt khoanh theo trái cau, nghe cả tiếng lẫy từ cái vú cau tách ra. Chẳng hiểu làm sao một trái cau tuột khỏi tay, rơi xuống. Lộ hay không lộ, sống hay chết là lúc đó! Rớt trái cau, tất nhiên bà phải tìm. Khi bả đã tìm, mắt già yếu, bả phải bước xuống đất, phải cầm cây đèn soi tới soi lui, trước sau gì bả cũng phát hiện ra; nó có thể thoát, nhưng công việc sẽ bị hỏng. Trở lại lần thứ hai, sẽ khó gấp trăm lần! Nếu như anh, đứng trong trường hợp như vậy, anh xử trí bằng cách nào. - Út Đợ hỏi tôi.
Tôi ngửa cổ ra cười, và hỏi lại anh:
– Cách nào?
– Lúc đó nó tính, phải làm cách nào để bà ấy không bước chân xuống đất, cũng không cầm cây đèn. Có như vậy mới không phát hiện ra nó, phải không anh?
– Phải, nhưng mà làm sao?
– Bả bước xuống, cầm cây đèn soi tối soi lui là cốt để tìm trái cau. Nó nghĩ phải cho bả lượm trái cau mà chân không cần bước xuống đất, làm được vậy, coi như xong! Nói thì dài nhưng làm thì nhanh. Nếu nó tính mà chậm như tôi nói với anh tự nãy giờ thì nó bị lộ rồi; nó nói đôi lúc nhớ lại, hình như lúc đó nó chẳng tính chẳng nghĩ gì bao nhiêu. Nghe tiếng trái cau rơi xuống trước mặt nó, nó chộp lấy rồi đặt ngay trên chiếc dép bên phải của bà, dưới đất - Bởi vì một người già như bà, muốn tìm lại trái cau, trước nhất, cái chân bên phải phải thò xuống quơ qua quơ lại tìm chiếc dép, chân phải xỏ vô dép rồi mới tới chân trái. Đằng này, chân vừa quơ được dép thì cũng vừa đụng trái cau. Đụng được trái cau rơi rồi bả cần gì phải xuống đất, cầm đèn soi tới soi lui làm gì nữa? Chân của bả đụng trái cau, bả giựt mình giựt cái chân lên! Nó tưởng bà sẽ khom xuống lượm nhưng bả không thèm khom xuống nữa mà dùng mấy ngón chân quặp lấy trái cau đưa lên! Bả lại ngồi chẻ cau, còn nó thì cũng ngồi yên ở đó. Anh thấy nó tài chưa? Chuyện thứ hai. Có một lần cấp trên giao cho nó phải lấy một tài liệu mật của một tên - thằng này giữ tài liệu ở một nơi rất kỳ lạ. Không để trong cặp, không để trong tủ, cũng không để trong túi, mà lại dắt sau sống lưng y như nông dân đi làm dắt cái mo trầu mo thuốc sau sống lưng vậy! Đêm ngủ thằng ác ôn cũng giắt tài liệu như vậy! Lấy làm sao được? Nhưng phải lấy cho được! Nó vào nhà đứng cạnh bên giường ngủ của thằng ác ôn. Đứng chờ thằng ác ôn trở mình mà ba đêm không lấy được. Đến đêm thứ tư thằng Phải mới có cách. Thằng ác ôn ngủ mê, thằng Phải mới kê miệng sát vào tai nó, kêu nho nhỏ: “Bớ làng xóm ơi, nhà cháy! Bớ làng xóm ơi, nhà cháy!”. Thằng ác ôn trở mình, nhưng chưa tỉnh ngủ. Nó lại kêu nho nhỏ: “Bớ làng xóm ơi, - nhà cháy! Bớ làng xóm ơi, nhà cháy!”. Trong lúc mê mê tỉnh tỉnh ấy, thằng ác ôn tưỏng như tiếng kêu của hàng xóm từ xa vẳng lại. Nó chồm dậy thì thằng Phải cũng vừa thò tay, gắp lấy. Nó khoát mùng, chạy ra mở cửa. Nó vừa mở cửa thì thằng Phải cũng vừa ra khỏi nhà!
Câu chuyện của Út Đợ kể, tôi biết đó mới là chuyện râu ria của một anh đặc công thôi. Nhưng dưới sàn nhà trong một khu vườn, nghe anh kể cũng vui tai.
– Còn chuyện gì nữa không?
– Còn, còn nhiều! Có một lần, nó vào đồn. Nó vào mới độ năm phút thì bọn địch báo động. Địch báo động giả hay phát hiện được dấu vết của nó, nó chẳng biết. Bọn lính đang còn nghễu nghện ngoài sân, ngoài rào, chen lấn la hét, chưởi bới, xô nhau chạy vào chộp súng ra công sự. Đèn pha của bọn chỉ huy năm sáu cái, rà quét tứ tung. Nó thấy thằng chỉ huy đồn trưỏng từ trong buồng tông cửa chạy ra. Cánh cửa thằng chỉ huy chưa kịp đóng. Thế là nó mở cửa nó bước vào. Nó phát hiện đó là buồng riêng của gia đình tên chỉ huy. Lúc đó chẳng có ai. Nó lại thu mình trong một chỗ kín. Nghe tiếng động bên ngoài, nó biết bọn địch đang lùng sục. Nó đoán biết là bọn địch đã phát hiện được dấu vết của nó. Bọn địch lùng sục đến cả giờ, không thấy gì lại thôi. Sanh hoạt đêm của đồn bót lần lần được trở lại bình thường. Chỗ mở đài nghe nhạc, chỗ nhậu, chỗ đánh bài. Nó chưa kịp trở ra thì vợ thằng chỉ huy trở về. Hai vợ chồng một đứa con cùng ngủ trên giường. Con của vợ chồng thằng chỉ huy độ hai tuổi; vợ chồng con cái nó ngủ trong ánh đèn màu tím. Không thể ngồi trong buồng ngủ của vợ chồng nó đến sáng, đến mai được. Phải ra! Nhưng cửa khóa rồi làm cách nào ra?
Phải mở cửa! Nhìn cái ổ khóa của bọn nó, thằng Phải thấy là một cái ổ khóa lạ, nó chưa từng gặp. Nếu không biết cách mà đụng đến cái ổ khóa sẽ báo động! Đây là một cái đồn lớn, trang bị của nó là trang bị của Mỹ, tối tân. Mình không nắm được cách mở, thì phải làm cho nó mở. Làm sao bây giò? Thằng Phải nghĩ ra được một kế. Xin lỗi anh, thằng Phải kể với tôi là nó ngồi nó rặn, cuối cùng nó rặn được một tí! Thằng Phải lấy cái tí đó nhét dưới đáy quần của thằng nhỏ, rồi chọc cho nó khóc. Hai vợ chồng thằng chỉ huy giật mình choàng dậy. “Sao con? Sao con? Con nằm chiêm bao hả con? Ai đánh con?” Vợ thằng chỉ huy sờ xuống quần thằng nhỏ, nó kêu “Không phải mình ơi, thằng nhỏ nó ỉa. Đúng rồi nó ỉa. Con đĩ mẹ mày. Mở cửa ra đi mình”! Thằng chồng nhảy xuống giường. Thằng Phải để ý thấy đúng là cái ổ khóa đặc biệt. Trưóc khi găm cái chìa vào ổ khóa, thằng chỉ huy nó bấm một cái nút. Cửa mở. Vợ chồng thằng chỉ huy vừa bế con ra thì thằng Phải cũng theo ra! Anh thấy nó tài không? Đêm nay nó không gặp con Mười sao được anh?
– Phải biết chuyện cô Mưòi chưa? - Tôi hỏi.
– Chuyện người yêu của người ta, người ta không biết sao được. Anh này hỏi lạ! Tôi mà như thằng Phải, tôi sẽ trổ nóc nhà tôi xuống, tôi hù cho cô ta giật mình chơi.
Tôi không thể hiểu đêm nay, Phải và Mười hai người sẽ gặp nhau ra sao? Mười sẽ giật mình trước sự xuất hiện bất ngờ của Phải, hay là hai ngưòi đã hẹn với nhau! Mười sẽ cười hay khóc! Ai biết được! Tôi chỉ biết là bây giờ, dưới cái sàn nhà của xã đội, qua các chuyện của Út Đợ, cô gái mặc áo bà ba đen đầu đội nón lá trong cái đèn chai đang cháy, cô gái ấy bao giờ cũng cười với anh. Nụ cười không bao giờ tắt.