– Út Sương đi đâu đó?
Bà Chín nhận ra tiếng của cái đứa tự nãy giờ cứ lẽo đẽo theo sau mình, con Mười phòng vệ dân sự.
– Đi đâu mà khuya lơ khuya lắc vậy Mười?
Như thói quen, bà đứng lại, bắt chuyện thay con gái. Sáu Linh, dáng dấp của Út Sương, chiếc khăn rằn xanh trùm đầu, kín mặt, đứng bên lề đường, sau lưng bà, mặt quay vào bóng tối.
– Cháu đi tập về.
– Vậy! Đằng xóm có đứa bị ban gió. Thôi tao đi, người ta trông. Bây khỏe chân bây đi trước đi.
Bà nép mình, nhường đường cho nó. Mười phòng vệ dân sự xộc lại cây súng đeo lên vai, dạ lên một tiếng, bước tắm te. Chờ nó đi xa, khuất mất trong bóng tối, bà với Sáu Linh mới thủng thẳng đi sau.
Hai người rẽ vào sân. Có tiếng hực của con chó. Cái lưỡi kềm kẹp với đủ thứ sắc lính đan dày nhưng chúng vẫn chưa thấy đủ, nên đã ra sắc lịnh bắt mỗi nhà phải nuôi một con chó. Đêm đêm hễ có tiếng chó sủa, thì một lúc sau, chỗ đó có đủ mặt bọn lính tráng, cảnh sát, phòng vệ dân sự với lũ ác ôn. Trẻ con trong làng, thỉnh thoảng chọc đám chó sủa toáng lên cho bọn chúng ùa nhau chạy tới. Cho nó đổ mồ hôi, cho nó mắc cỡ, cho nó mất ngủ. Đó cũng là trò chơi của trẻ con, cho bõ ghét, cho vui.
– Mực! - Bà hắng giọng và kêu ngay tên nó.
– Mực, muốn chết hả con! - Con Mực lại bị chủ lên tiếng mắng. Nhưng nó chỉ hực lên vậy thôi, nó có sủa toáng lên đâu. Và nó đã nhận ra hơi người.
Chị Nở cho con vào buồng trong bắt ngủ từ sớm, chị để cửa nửa đóng nửa mở, ngồi chờ. Chị biết từ chiều, thế nào khi Sáu bước trọn người vào qua cánh cửa, đưa tay kéo chiếc khăn sụp xuống ót cho chị thấy rõ mặt, chị không giữ nổi xúc động.
– Trời ơi! Sáu!
Chị kêu mà nghe thảng thốt như hơi thở, hai con mắt đỏ hoe.
– Anh em mình mạnh hết hả Sáu?
– Mạnh.
– Sáu ngồi đây. Thím Chín ngồi đây. - Chị mừng, chị lo, chị cuống lên. Hai cái ghế chị xếp sẵn bên vách - chỗ kín, người ngoài đường nhìn vào không thể thấy, - chị bưng cái ghế lên rồi đặt xuống ngay chỗ cũ, lại bưng lên rồi lại cũng đặt ngay lại chỗ cũ. Cái ấm trà chị pha sẵn để trên bàn, chị cũng quên mất.
– Chị để đó cho em, chị ngồi xuống đi.
Chị ngồi xuống, nhìn lại mặt Sáu đăm đăm.
– Thôi, kéo khăn lên đi Sáu. Anh em mình mạnh hết hả Sáu? - Chị lại hỏi thăm anh em, lần thứ hai.
– Mấy đứa nó biểu em vào đây phải ghé thăm chị.
– Vậy hả. Tội nghiệp! Chừng nào hả Sáu, bà con ngoài này mong quá.
– Ở trỏng, tụi em chia nhau đi hái xoài cho bà con. Xoài của chị bữa nay hái chắc xong rồi.
– Ăn đi!
– Để dành cho chị để chị nuôi cháu.
– Đừng bày đặt, ở ngoài này, ăn mắm ăn muối được rồi. Đừng để, rục hết.
– Nếu chị không về thì tụi em gởi ra cho chị.
– Làm sao mà về được.
– Sáng mai, bà con sẽ ra chợ, đấu tranh đòi về thu huê lợi.
– Vậy sao? - Hai con mắt chị sáng lên - Phải vậy! Nhà chị chưa đến nỗi, mà bà con mình ở trỏng ra, bỏ ruộng, bỏ cá, bao nhiêu miệng ăn chỉ trông vào trái xoài. Được vậy, đỡ lắm! Bà con đi, chị cũng đi. Thím Chín coi tôi đó, ấm trà pha từ nãy giờ mà tôi quên.
– Nước nôi gì, bày đặt. Nói chuyện với con Sáu cho nó sướng. Thằng Năm về rồi.
Chị Nở sững người, nhìn lại Sáu.
– Vậy hả Sáu?
– Dạ, ảnh vừa mới về.
– Bây giờ nó ra làm sao?
– Nó bị thương, có hơi khác một chút, nhưng chẳng làm sao!: - Bà Chín nói thay cho Sáu. - Hai đứa nói chuyện đi, tao ra ngoài, tao ngó chừng.
Bà Chín bước ra cửa, đi vòng sau hè.
– Chừng nào thì em mới tính?
– Tụi em định xong rồi mới tổ chức.
– Ừ, vậy cũng được. Mai, sống chết gì chị cũng đi! Lâu quá chị không gặp nó! Sáu, con Mực nó mừng em kia kìa.
Con Mực già, nó đã nhận ra người quen. Nó không phải là con chó được nuôi theo sắc lịnh của “quốc gia”. Nó sống với chủ từ lúc mới mở mắt, trong vùng giải phóng. Nó quen với cảnh kháng chiến. Cũng như người, nghe pháo, nghe tiếng rít của máy bay là nó ton xuống hầm trước cả mấy đứa nhỏ, rồi rút sát vô vách. Mùa nước, nó cũng được sống trên xuồng, đứng ngay trước mũi, nghểnh mõm nhìn trời nhìn nước. Thỉnh thoảng nó chạy theo du kích truy kích bọn đi càn.
Tự nãy giờ nó cứ chạy loanh quanh theo chiếc ghế của Sáu; nó vẫy đuôi, nó quẫy cả hai cái mông, như cũng biết không được mừng ra tiếng, nó kêu ư ứ trong cuống họng.
Sáu đưa bàn tay vuốt qua đầu nó:
– Mày có nhớ anh Năm không, Mực?
– Sao lại không nhớ! - Chị Nở đáp thay cho nó. Còn nó thì nó trả lòi bằng cử chỉ rối rít, nó liếm, nó ngửi, nó vẫy đuôi, nó nhìn.
– Thôi đủ rồi, ra ngoài chơi đi Mực, mai tao cho mày về.
Con chó biết nghe. Nó giơ hai chân trước đặt lên người Sáu, rồi thót nhảy ra cửa.
– Em nói lại chuyện ngày mai cho chị nghe?
– Em vận động bà con mình hết rồi.
– Vậy. Mấy bữa nay chị cũng có nghe nói.
– Sáng mai sẽ đi chợ.
– Ừ. - Sáng mai.
– Kéo nhau lại ngay cửa nhà việc, đòi trở về đế thu huê lợi.
– Nhắm nó có cho không em?
– Nó không cho thì mình làm cách khác.
– Em cần gì chị không?
– Lần này chị cứ đi, lần sau có gì em sẽ nói với chị.
– Vậy cũng được. Mai nếu thuận lợi, chị cho mấy sắp nhỏ về trỏng chơi một bữa. Tội nghiệp, chúng nó nhớ!
Bà Chín đã đi hai vòng quanh nhà, bà bước vào.
– Xong chưa Bảỵ! - Bà hỏi.
– Bây giờ em phải về.
– Ừ, em về đi.
– Cho em dòm mặt mấy đứa nhỏ một cái, chị.
– Vào đây - Chị Nở nắm tay Sáu, kéo vào buồng. Chị giở mùng cho Sáu nhìn. Con chị bốn đứa. Đứa con gái lớn mười bốn tuổi nằm trong cùng, ba đứa con trai đứa lên mười, đứa lên sáu, đứa lên tám, nằm kế bên nhau.
– Cũng vì nó mà chị phải đi! - Chị ngước nhìn đứa con gái lớn, nói với Sáu - Chị định cho nó lên Rờ theo ba nó, cho nó yên.
– Mai gặp anh Năm, chị bàn với ảnh xem.
– Nó mới mười bốn mà chị phải giữ nó như con gái mười bảy mười tám. Ở xóm này, có đứa mới mười bốn mười lăm mà sao... Toàn ma với quỷ!
Chị vừa buông mùng xuống thì con Thiều - đứa con lớn, nằm trong cùng, ngồi bật dậy, nhẹ như con mèo, bỏ chân bước qua mấy đứa em, giọng nó thào ra như tiếng gió.
– Cô Sáu! - Và nó ôm chặt hai vai Sáu. Sáu quay lại ôm chầm lấy đứa cháu.
– Bà bắt mày, tự nãy giờ mày thức hả? - Chị Nở nhiếc yêu con.
– Tự nãy giờ con nghe hết, con không lên Rờ, con đi theo cô Sáu.
– Thôi, buông ra cho cô về, chết hết bây giờ.
Con Thiều lại rón rén vào chỗ nằm...
Con Mực đưa bà Chín và Sáu ra đến tận đường.
Bà Chín lại nghe tiếng chân lẽo đẽo theo sau.
– Út Sương về đó hả?
Bà lại nhận ra tiếng của con Mười phòng vệ dân sự.
– Ừ, tao về. Bây đi đâu mà đi tới đi lui hoài vậy?
– Cháu đi chơi.
Lần này, Mười phòng vệ dân sự không vượt lên trước, nó chậm bước đi song song Sáu Linh. Bà đâm lo. Bà đi chậm để nó vượt lên, ngang chân với bà. Bà đi chậm nó cũng đi chậm. Bà không ngoái lại nhìn, nhưng bà biết nó đang đi cạnh bên Sáu. Nó lại cùng một đường về với bà, con đường khá xa, năm bảy trăm thước là ít. Bà định rẽ vào một cái nhà bên đường, tách nó; nhưng bất thần, nó lại rẽ trước bà.
– Thím Chín với Út Sương về trước, chu ghé qua đây.
– Ừ, thím về!
Nó đi khuất, hai ngưòi lại rảo bước.
Mấy đêm trước, sau khi đi thăm bà con, gây dựng lại cơ sở, đến lúc trở về, bước lên cầu thang, nghe tiếng thanh ván sàn khẽ nhún dưới chân mình, Sáu thấy nhẹ người, thấy yên ổn như con chim ngoài dông bão đáp vào tổ ấm. Bước vào căn buồng, việc trước tiên của Sáu là mở cái khăn trùm, đưa tay nâng mái tóc, sau đó, khi nằm xuống thì được buồn, được nhớ... được nghĩ gần, nghĩ xa...
Nhưng đêm nay, qua lần chạm mặt với con Mười phòng vệ dân sự lần thứ hai, đầu Sáu căng thẳng. Sáu để nhẹ từng bưóc chân lên từng thanh ván sàn, cái khăn vẫn trùm quá đầu, kín mặt.
– Hay là con ra vườn tạm đêm nay vậy, má?
– Vô buồng mở cái khăn ra cho nó thư thả một chút, để tao lo...
Bà Chín vặn ngọn đèn cho cao ngọn, têm trầu, bỏ vào ống ngoáy, ngồi vào ghế, ngoáy trầu, tai nghe tiếng động, mắt nhìn xuống sàn nhà.
Chạm mặt với nó lần thứ hai, không phải là chuyện tình cờ. Chắc nó nghi. Nó nghi sao không bắt? Con nhỏ khó hiểu quá! Năm 1968, đợt hai, bộ đội đánh trả lại bọn phản kích ngay tại xóm, không may tía nó cũng là bạn già hàng xóm với bà bị trúng phải một viên đạn mồ côi, sau một lúc êm tiếng súng. Là dân trong ấp chiến lược, chẳng có cách nào khác, phải đưa ông lên nhà thương quận. Ông tắt thở ngay trong phòng mổ. Bọn nó mổ vết thương của ông, lấy ra một viên đạn, đưa cho gia đình ông xem, bảo là đầu đạn AK của Việt cộng.
Viên đạn đó nó lấy từ trong vết thương hay lấy ra từ đâu, ai biết được! Có ai được vào phòng mổ của nó bao giờ? Bọn chó đó nói vậy mà nó tin. Dù có thiệt như vậy, thì đó là viên đạn mồ côi, viên đạn lạc, nằm trong trận mạc, đứng giữa đường tên mũi đạn, may rủi biết sao mà lường! Nó tin, rồi nó thù, nó oán. Khi cái lũ “bình định” ùa tới, quần áo bà ba như một lũ kiến đen, thì nó đi tập phòng vệ dân sự. Nó lãnh súng, hàng xóm to nhỏ xa gần khuyên nó, nó không nghe. Xóm này, có ai lạ gì nó. Thằng Phải ở xóm hứa hôn với nó, rồi đi bộ đội, đang là trung đội trưởng của tiểu đoàn Girông. Nó cầm súng, nó tập phòng vệ dân sự, nhưng nó chưa lấy chồng, chưa thấy tằng tịu với ai, hàng xóm nghĩ là nó còn thương, còn nhớ! Có người bạo miệng hỏi nó:
– Nè Mười, nếu bây giờ bây gặp thằng Phải nó về thì bây tính sao?
– Tôi không bắn ảnh, nhưng tôi sẽ đưa cho ảnh coi đầu đạn AK.
Có người đoán già đoán non, nghĩ nó là người của mình đưa vào. Nếu đúng như vậy thì bà phải biết, nếu bà không được biết thì Sáu Linh phải biết. Có đâu như vậy? Rồi từ khi thằng Mịnh phó cảnh sát tới lui nhà nó, cái gì tốt còn lại trong mỗi người đối với nó, tan hết. Thằng Mịnh, hồi trước - chẳng lâu la gì, mới hai ba năm, lúc bọn lính Mỹ còn chốt ở Bình Đức, đám con gái đi làm sở gọi là sở Mỹ, mang tiền về nó nuôi, nó bao che cho khỏi đi lính. Không phải làm, cứ nằm dài ra đó mà ăn, mà hút, mà cờ bạc, chỉ cần làm có một việc là cho cô ấy tâm tình. Có bao nhiêu cô gái làm sở Mỹ thì cũng có bấy nhiêu đứa con trai như vậy. Cái lớp người mới mọc ra đó, ngưòi ta gọi mỉa mai là người của “giai cấp tâm tình”. Thằng Mịnh thuộc lớp người đó. Bọn Mỹ cút đi, cô gái bị mất sở và thằng Mịnh không còn tình nghĩa gì nữa. Nó trở về làng. Vốn con của dân bán hàng cá, nó bắt đầu từ một chân chỉ điểm, nguy hiểm như con rắn râu... Thằng Mỹ rút đi, nhưng dấu chân nó còn để lại, lún sâu trong đời sống. Thấy mặt nó, người ta phát tởm. Con Mười cũng bị tởm lây. Như có cái hồn của một đứa hư hỏng nào nhập vô phần xác nó. Cái hồn thiệt của nó bị đánh bạt đi đâu? Nhìn nó, người ta thấy chướng mắt, tiếng cười hăng hắc của nó người ta nghe cũng chối tai.
Nó cười với thằng Mịnh, nó cười với bọn lính như con điên. Nó kê bàn kê ghế dưới bóng cây vú sữa; tiếp khách tại đó, ngay trong sân. Thằng Mịnh đem cả rượu thịt đến nhậu nhẹt với bọn lính, tại đó. Cái sân giữa hàng rào bông bụt nhà nó ồn ào như một cái quán, cái quán nhậu của bọn lính. Một hôm, đang buổi trưa, hàng xóm đang yên, bọn nó say, đố thách nhau thế nào, con Mười chụp lấy khẩu súng của một tên lính, lên đạn, lảy luôn ba phát. Ba phát, ba trái dừa bị đứt cuống, rơi tủm tủm xuống con mương. Bọn nó vỗ tay, bọn nó la ó, rồi chuốc rượu cho nhau.
Đêm nay, nó thấy gì, nghĩ gì mà cứ lẽo đẽo theo sau mình?
Con quỷ! Cái chìa vôi trong tay bà ngoáy mạnh.
Để Sáu ra vưòn đêm nay, bà không đành. Đưa Sáu đi thì đưa đến nhà ai giờ này, đột ngột quá.
Bà cầm cái ống ngoáy để lên miệng và lấy miếng trầu. Không, nó không dám làm gì với Sáu Linh, nó không dám làm gì ngay trong nhà bà. Nhai ngấu nghiến miếng trầu, bà nghĩ như vậy qua hơi cay của mùi trầu. Không thể, nó không thể hư hỏng đến nỗi nhúng tay vào tội ác. Bà vẫn còn tin còn thấy được cái gì đang ẩn kín trong cái vỏ bên ngoài của nó. Bà không gọi đúng tên nó, cũng không thấy nó bằng mắt, nó chợt tắt chợt sáng, bà thấy nó bằng linh cảm! Bà cũng là mụ đỡ đẻ cho nó, chớ ai? Những đứa cùng lứa tuổi với nó xóm này, không do tay bà nâng nó khi nó ra đời, thì còn ai nữa. Như những ngưòi tốt, nó vẫn không thể nhớ, nhưng nó biết. Bây giờ cũng vậy, mỗi lần gặp mặt bà, một dạ, hai cũng dạ, một thưa, hai cũng thưa, trong khoảnh khắc đó, nhìn nó, nó vẫn như xưa.
Bà đứng dậy, bước vào buồng, giở mùng nhìn hai cô út nằm sát vào nhau, bà hỏi:
– Sáu, ngủ chưa con?
– Dạ chưa.
– Con ngủ đi, không sao đâu.
Bà trở ra, khóa cửa, hạ thấp ngọn đèn, vào mùng nằm cạnh bên con, miệng vẫn nhỏm nhẻm nhai trầu.
Đêm ấy, qua hai lần chạm mặt, cả ba người không ai ngủ yên, cả ba đều nghe tiếng sóng xôn xao của con sông suốt cả đêm...