Cơm nước xong xuôi, nhưng chưa có thể vượt qua cách đồng lúc trời chưa tối, cứ loay hoay trong cụm rừng, chẳng biết làm gì, tôi rủ:
– Ra mí rừng ngồi hứng gió chơi cho mát, anh Năm.
– Ra ngoài bây giờ cho trực thăng nó rỉa à?
Năm Bờ vừa đáp vừa nhìn nhìn, ngó ngó để tìm cây mắc võng.
– Lại chỗ này mắc võng nằm nghỉ một chút để lấy sức mà lội, mai tôi cho ông tha hồ nhìn.
Cánh rừng mà chúng tôi lặn lội mấy ngày nay đến đây như đã đuối rồi, cây cối không còn đủ sức xum xuê um tùm nữa, càng về gần đồng bằng, rừng càng thấp, càng thưa, lại bị đánh đến xác xơ, đầy nắng, và hãy còn khét mùi bom đạn, tìm một một bóng đủ cho một cái võng không phải dễ. Anh đã khéo chọn không chỉ cho anh, mà cho cả tôi, một cái bóng vừa đủ cho hai cái võng, dưới bóng mát lại có một cái hầm chống đạn trực thăng, chắc của một đoàn nào mới đi qua, hãy còn một đống tro bếp dã chiến vừa mới tắt lửa.
Hai cái võng mắc theo hình tam giác giữa ba thân cây. Mỗi người một võng, nằm ngược chiều nhau, để lúc chuyện trò, không phải xoay trở gì, vẫn cứ thấy mặt
nhau. Năm ngày đi đường, nhìn anh tôi đã quen mắt, không như những lần đầu, mới nhìn anh, tôi cứ áy náy. Anh bị thương ở con mắt phía bên trái, đã được lắp bằng một con mắt giả. Nhìn con mắt ấy của anh, trong con mắt tôi có gì cồm cộm không yên. Anh mới ba mươi sáu cùng một tuổi với tôi, tóc vẫn xanh, nhưng trông anh cằn cỗi quá, da lại xám xịt vì vết thương và sốt rét rừng. Bây giờ nhìn anh tôi đã quen, có lúc chợt thấy anh có vẻ đẹp trai nữa.
Anh nằm, mắt lim dim. Gió trên cánh đồng thổi lao xao qua rừng. - Tôi cố ý không gợi chuyện, chực chờ anh thiếp đi là tôi sẽ lẻn chạy ra mí rừng, dòm cánh đồng một cái cho sướng mắt.
Tôi xa cánh đồng, cánh đồng mà tôi vừa nghe ngọn gió và chưa nhìn thấy nó đã hai mươi năm, từ năm 1950, khi tôi theo bộ đội xuống tận rừng U Minh. Không còn mấy trăm thước nữa là tôi lại được nhìn thấy nó, thế mà bây giờ tôi cứ phải nằm đây, nằm trên võng dưới cái bóng nhỏ của cây rừng.
Ngọn gió trên cánh đồng khuấy lên trong tôi biết bao kỷ niệm, nhớ nhung.
Tôi đang thả mình theo ý nghĩ thì chợt có tiếng bay của một bầy trực thăng. Nó đang quần đảo ở đâu ngoài kia. Nghe xa xa vậy, nhưng ào một cái là nó sà qua mặt mình, không kịp tránh. Tôi đã từng đụng nó ở một làng ven ô Sài Gòn hồi mùa xuân năm 1968.
Tôi nhổm người, nhìn lại cái nắp hầm, nhìn lên tàn cây xem có kín không.
– Ngủ hay thức đó, anh Năm?
– Thức chớ ngủ sao được, không nghe tiếng trực thăng sao ông?
– Nghe chớ!
– Phải theo dõi nó! - Anh vẫn nằm im trên võng.
Bầy trực thăng như muốn dọa chúng tôi, nó rộ lên rầm rầm, y như có hàng chục chiếc tàu thủy đang chạy tới, rồi lại dang ra xa, lại ào tới gần hơn, rồi lại dang ra xa, xa xa dần…
Vậy là tôi yên tâm nằm lại trên võng rồi, không còn muốn chạy ra mí rừng để xem cánh đồng nữa, và tôi bắt đầu gợi chuyện.
– Nè anh Năm, so thằng Mỹ với thằng ngụy, đánh hai thằng, thằng nào khó hơn, anh Năm?
– Lâu lâu ông mới hỏi một lần, mà lần nào cũng hóc búa. Trên chưa tổng kết, tôi làm sao dám trả lời. Ông là người đi đây đi đó nhiều, ông hiểu hơn tôi chớ.
– Tôi đi nhiều nhưng mới cưỡi ngựa xem hoa thôi. Tôi không cắm sâu một chỗ như anh.
– Thì bây giờ, ông cắm cho sâu đi.
– Nhưng trước khi cắm, tôi muốn biết ý kiến của anh.
– Tôi nhắc lại.
Năm Bờ chống hai tay lên mép võng, cất nửa thân người hướng về tôi:
– Chính vì cái câu hỏi đó mà lần này tôi mới xin về chiến trường. Mới xa chiến trường chưa được hai năm mà tôi thấy mình lạc hậu quá. Nằm bệnh viện mất đứt một năm. Hơn nửa năm ngồi ở rừng làm cán bộ nghiên cứu. Tôi thấy tôi không đủ trình độ để hiểu chiến trường qua báo cáo. Với lại, chiến trường mới là đất dụng võ của tôi. Đi, đi phải đi thôi, từ cơ quan trong căn cứ tới chiến trường, cách nhau chẳng bao xa, ù một cái là tới mà hai cuộc sống thật khác nhau.
Tưởng anh nói thêm, không ngờ anh lại nằm xuống võng, thò chân chấm đất, đạp liền mấy cái, võng lắc mạnh làm như anh nực lắm. Cây rung rinh, lá và sâu rơi xuống mình, xuống mặt mũi tôi. Anh không trả lời ngay câu hỏi của tôi. Rồi nghĩ gì, anh lại chống hai tay lên mép võng, lần này, không ở cái thế nửa ngồi nửa nằm như lúc nãy, anh ngồi hẳn dậy, thòng cả hai chân xuống đất, nhìn tôi với một con mắt còn lại, sáng long lanh:
– Câu hỏi của ông cũng là câu hỏi của tôi. Chiến trường sẽ trả lời. Bây giờ, tôi muốn kể cho ông nghe một thằng sĩ quan ngụy cấp đại úy, tên Nguyễn Văn Long, hiện là thằng chỉ huy khu bình định. Tôi với ông rồi sẽ gặp nó, không lâu đâu, nay mai thôi! Đúng là trái đất tròn, tôi với nó lại gặp nhau! Hai đứa là người cùng làng. Hồi nhỏ, còn học lớp bét “quánh” lộn nhau luôn. Học hết trường làng, nó lên Sài Gòn. Mãi đến đầu năm năm mươi tư gần ngày hòa bình, nó trở về, xin làm công tác thanh niên xã, lúc đó tôi làm thanh niên huyện. Hai đứa thỉnh thoảng lại gặp nhau, nhắc lại chuyện cũ, hai đứa vỗ vai nhau mà cười. Nó yêu một cô cán bộ phụ nữ xã, cũng chẳng ai xa, là người cùng xóm. Năm ấy, bắt đầu có phong trào chỉnh huấn. Vì nó là con địa chủ, cô kia mới “phăng teo”. Rồi đến ngày tập kết, cô gái xuống tàu ra Bắc. Nghe đâu bây giờ cô là kỹ sư. Còn nó, nó trở về Sài Gòn, vào lính dù, lính con cưng của thằng Diệm, đóng lon trung úy.
– Nếu tình duyên của nó mà thành, chắc là nó không đi theo giặc?
– Chuyện không xảy ra, không nói được. Có bao nhiêu người như nó, người ta có theo giặc đâu - Anh kể tiếp - Một hôm nó mặc nguyên bộ đồ lính dù trở về làng. Nghe nó về, một số tề cũ tới thăm nó, xúi nó đòi đất. Ngay lập tức, chiều hôm đó, nó cho mời tất cả những gia đình đang sanh sống trên đất đai của nó. Bà con đứng dưới sân, còn nó, nó cũng thưa ông thưa bà, thưa bà con cô bác vậy. Nó lên giọng diễn thuyết:
“… Hồi thời nô lệ đánh Tây, ba tôi là ủy viên Liên Việt quận. Ba tôi có hiến điền cho Việt Minh chia cho bà con. Ba tôi chết rồi. Tôi là con, tôi không dám làm sai ý của ba tôi. Ba tôi đã hiến thì tôi hiến. Từ nay về sau, nếu có người nào muốn thừa nước đục thả câu, ho he đòi đất, bà con cô bác cứ viết thơ báo cho tôi, tôi sẽ trừ tiệt, không tha. Xin bà con hãy nhớ cho tôi, tôi là chiến sĩ quốc gia, chớ không phải là thằng Việt gian bán nước”. Nói xong, nó đưa một tay lên ngực, mọp đầu chào.
– Nó nói thiệt hay có âm mưu gì, anh Năm?
– Thiệt, nó nói thiệt.
– Thằng địa chủ lạ quá ha!
– Có thằng nào giống thằng nào đâu. Cũng không có gì lạ. Nó tưởng là nó có lý tưởng, nó đang hăng máu. Rồi từ đó, nó đi biệt tăm biệt tích. Cho nên bây giờ, trong làng, không phải ai cũng thù oán nó.
– Độc!
– Không độc sao được, nếu nó không độc thì mình dấn tới luôn rồi, còn đâu như bây giờ. Thằng Mỹ rút quân ra khỏi đồng bằng sông Cửu Long, thì nó trở về với cấp đại úy và một đoàn bình định.
– Lần này thì nó gặp đối thủ của nó rồi.
Năm Bờ đỏ mặt, anh cười:
– Nhất định là tôi không chịu thua nó, nhưng lần này, tôi biết, tôi chưa thể làm nên cơm cháo gì nhiều. Thời buổi này là thời buổi của đàn bà con gái đó, ông! Sao ông cười?
Tôi cười vì nhận xét của anh nghe lạ tai.
– Tôi muốn hiểu rõ hơn. - Tôi nói.
– Đàn bà con gái như sao ở trên trời. Qua bao nhiêu trào rồi, tôi nghiệm thấy như vậy. Ban ngày ban mặt, sao hôm sao mai gì cũng lặn hết. Nhưng trời càng tối thì sao lại càng sáng. Cách mạng thoái trào, vai trò phụ nữ lại nổi bật. Như hồi thằng Diệm, thời kỳ “điều lắng” ấy, mỗi người đi một nơi, lúc đó ai là người đi nối lại cơ sở? Chính là các bà má, các chị, với các em. Ai là người nuôi giấu cán bộ? Như cái làng Mỹ Hương mà mình sắp về, lúc đó mấy má, mấy chị đêm nào cũng tụ tập lại một chỗ vắng, đổ nước vô lỗ mũi nhau, để tập. Ai chịu đựng giỏi mới được rước cán bộ về nuôi. Nhưng cũng lạ, có một má gọi là má Mười, lúc tập, nước đổ vô mũi chưa được nửa tỉn thì la oai oái, hai tay cứ quơ lên, gạt cái tỉn nước ra ngoài, rồi sặc sụa, mặt mày tái mét, mũi dãi chảy lòng thòng. Má bị rớt trong cuộc thi đó. Vậy mà khi vào tù, bị tra tấn, bị đổ bao nhiêu nước, má cũng không khai. Sau đó, má là người được cử đi đón tôi về nuôi. Gặp tôi má hỏi: “Lâu nay con ăn ngủ ở đâu?”. “Ngoài bờ ngoài bụi chớ đâu má!”. Má nuôi giấu tôi trong nhà được hơn tháng. Biết bọn giặc chú ý, nghi ngờ, tới lui rập rình, tôi chuyển. Đưa tôi đi, má hỏi: “Bây giờ con đi đâu?”. “Con ra ngoài bờ”. - Tôi đáp. “Bờ” - Má lặp lại, rồi má khóc. Sau này má cứ gọi tôi là thằng Bờ. Má hy sinh rồi. Tôi lấy tên đó làm kỷ niệm.
Anh lại ngồi dậy, nhìn tôi:
– Cho nên, đối thủ của thằng Nguyễn Văn Long bây giờ, không ai khác là một cô gái hai mươi sáu tuổi. Cô bí thư xã...
– Tên gì anh?
– Sáu Linh.
– Sáu Linh à?
Tôi chưa kịp hỏi thì anh đã kể tiếp:
… Đêm mùa gió chướng năm sáu mươi bảy, anh gặp Sáu trong trạm giao liên, một cái chòi trên đồng lúa. Sáu cùng với mấy cô du kích đến trạm để đón anh về làng. Anh được tỉnh phái về để xây dựng vành đai. Là người cùng làng, nhưng hai người mới biết mặt nhau. Đến giờ lên đường, anh giao liên người to khỏe, quàng cây bá đỏ lên vai nói với anh:
– Đêm nay anh Năm chịu khó đi đường vòng, đường lầy lội khó đi, nhưng an toàn.
– Sao lại đi vòng, cứ đi theo con đường thẳng như mọi lần, cho nó gần. - Sáu cãi lại.
– Tôi phụ trách đường dây, tôi biết - Anh giao liên nói. - Đường bị lộ rồi. Ngày nào trực thăng nó cũng rà theo mặt đường. Hồi sáng này, nó cũng vừa mới đổ quân.
– Chiều nay, trực thăng nó hốt quân lên rồi. - Một cô du kích cùng đi với Sáu cãi lại anh giao liên.
– Tôi ngồi trong trạm, tôi thấy, tôi có đui đâu. Nó nghi binh đó thôi. Nó làm bộ hốt, nhưng nó còn để lại một cánh ngầm, phục mình, bao nhiêu người chết là vì sợ khó.
Sáu nói :
– Tôi cũng biết là nó nghi binh nhưng tôi đoán là cánh ngầm của nó sẽ lẫn đi chỗ khác. Cứ đạp lên dấu chân của nó mà đi.
Anh giao liên nổi quạu:
– Tôi phụ trách trạm, tôi có nhiệm vụ bảo đảm an toàn cho khách.
– Ai lại không biết như vậy. Chị em tôi có sợ khổ, sợ khó đâu. - Sáu nói nhỏ nhẹ hơn - Chị em đi đón cán bộ, chị em tôi cũng phải đảm bảo an toàn cho cán bộ chớ.
Hai bên không thống nhất trong việc nhận định tình hình địch, cuối cùng phải chờ đến ý kiến quyết định của anh. Anh hỏi Sáu:
– Em nghĩ thế nào mà nhận định là Mỹ nó không phục theo đường dây?
– Thằng Mỹ nó xảo quyệt lắm. Nó biết mình đoán là nó phục ở đó, mọi lần nó hay làm như vậy, nằm chờ đến khuya, đến sáng mà chẳng phục được ai. Em đoán là trước sau gì nó cũng thay đổi. Nó nghi binh là để nghi binh thôi.
Trong sự nhận định của Sáu, anh thấy có cái mới và sinh động, anh ngẫm nghĩ một lúc rồi quyết định đi theo con đường của Sáu. Anh giao liên nể anh và nể cả cô dũng sĩ, đành phải nghe theo, nhưng không yên tâm:
– Thôi được, tôi theo đa số, tôi cũng liều thử một chuyến xem.
– Nếu anh còn ngại, anh để chị em tôi đi trước, anh đi sau vậy. - Cô du kích nhỏ tuổi nhất, tên Bé Ba, nói.
– Cô này nói như vậy mà nghe được - Anh giao liên nổi tự ái - Thà tôi không đi, đã đi thì tôi phải làm nhiệm vụ giao liên của tôi chớ. Tôi chỉ xin anh Năm với mấy cô một điều là, nếu đụng phải ổ phục kích của nó, người nào còn sống sót thì nhớ cho là tôi, tôi không muốn đi con đường này. Vậy là đủ, thôi, bồng lên vai!
Đạn lên nòng, đánh rốp một cái, súng lăm lăm trong tay, kẻ thù như đâu đó trong đám đế, đám sậy, trong dưng lác chung quanh anh, anh xăm xăm bước tới.
Đường dây xuyên qua cánh đồng hoang um tùm cỏ lác, mòn nhẵn, rộng gần cả thước, thênh thang dưới đêm sao. Con đường như vậy làm gì không lộ. Anh giao liên đi trước, đến hai cô du kích, đến anh, người sau cùng là Sáu với cây carbin bá xếp của Mỹ. Họ đi cách khoảng thật xa, đề phòng bất trắc, ngậm tăm mà đi. Quá nửa đêm, đã nhìn thấy rặng cây làng. Đã sắp đến nơi an toàn. Vừa lúc đó, bọn biệt kích Mỹ nằm phục theo con đường lầy, chắc không chịu nổi muỗi của Đồng Tháp Mười, nó bắn báo hiệu, gọi trực thăng rồi nổ súng loạn xạ một lúc. Không bắn được ai, nó muốn bắn vỡ bầu trời trong đêm tối. Một bầy trực thăng từ căn cứ Bình Đức cất cánh, chớp đèn đít lạch xạch bay về hướng đó.
Thấy vậy, Bé Ba, cô du kích nhỏ tuổi, mới gọi anh giao liên:
– Nè, đồng chí, đồng chí phục chị Sáu tôi chưa hả?
– Tôi phục lâu rồi chớ mới phục đây đâu. Cái cô dũng sĩ đó nói đâu có đó, linh thiệt, hèn chi cha mẹ đặt cho cái tên Linh, không uổng!
– Linh tôi là cá linh, chớ có phải linh thiêng, linh cảm hay linh tính gì đâu anh!
Trong cái đà vui được an toàn đó, Sáu kể với anh về lai lịch tên cô. Bà nội cô đã qua đời rồi, lúc còn sống, nhứt là những đêm hè, trải đệm ra sân, nội thường hay kể. Hồi đó tía má cô không có đất, sống bằng nghề cày thuê cấy mướn, đến mùa nước thì sống bằng nghề cá. Năm nào cũng vậy, đến con nước rong rằm tháng bảy, đồng lai láng, tía má Sáu cùng với bà con nghèo trong xóm chèo ghe về miệt Tân Thành, Cả Cái đóng đáy, đón cá linh về. Năm ấy, má Sáu đang có mang, nội Sáu kể, chưa có năm nào cá linh về nhiều đến như vậy. Cá đặc ngừ dưới mặt nước, cá chạy vào đáy, thấy sền sệt như bánh canh. Mắt cá cứ ngời ngời như có ai rắc kiếng vụn xuống, nước rồi chao lên chao xuống vậy. Nội Sáu kể, nội Sáu có nghe người ta nói, nếu ngược theo dòng nước, đến gần Biển Hồ, cá linh mà đổ về thì đứng trên bờ hay đi xuống, đều nghe cả tiếng cá kêu “ao ao” như tiếng gió thổi qua dây đồng căng ngang trời qua hai cột dây thép. Cho đến năm đó, nội của Sáu mới nghe được tiếng cá, lúc mới nghe, mọi người ai cũng tưởng là tiếng u u rền rền của một chuông chùa nào đó vang tới. Má Sáu đã sắp đến giờ sanh nở rồi, thấy mắt cá ngời ngời dưới mặt nước, ham quá, quên cả cơn đau. Nội kể tiếp: “Đến lúc con nhỏ chần ngần chui ra mới biết, không kịp rước mụ nữa. Đẻ ngay trên xuồng, con thì khóc mà xung quanh thì cá cứ nhảy lách chách. Bà con thấy vậy mới đặt cho đứa nhỏ ấy tên là Linh”.
– Em tên Linh là vậy đó anh!
Rồi, vui chuyện, Sáu kể lại với anh, trong gia đình chỉ có Sáu là con gái. Bốn anh trai với thằng em út đều đi bộ đội. Mẹ mất. Sáu ở với tía. Sau mỗi mùa xoài, Sáu cắc ca các củm từng đồng, dành dụm, rồi mua một cái ra-đi-ô Nhựt ba băng gởi cho thằng em chiến đấu ở miền Đông. Mùa xoài năm sau, Sáu lại mua một cái đồng hồ “Sâykô” có cả ngày, cả thứ gởi cho người anh. Mỗi năm là mỗi món quà gởi cho các anh đi bộ đội, tùy theo ý thích của mỗi người. Bấy nhiêu việc ấy cũng nặng nề lắm rồi. Tía của Sáu đã hơn sáu mươi, nhưng vẫn cầm bá đỏ làm du kích.
Năm Mỹ đổ quân, nó đổ xuống đồng bằng ồ ạt lắm. Trực thăng bay như chuồn chuồn, cánh nó quạt lật cả cành cây, lật tốc cả mái nhà, không lúc nào dứt tiếng súng. Bắn nó không phải khó, nhưng bắn cháy một chiếc, thì nó bu lại như ruồi, nó bắn tan nát cả một vùng, tạm thời phải nhịn nó. Một hôm vào buổi chiều, một bầy chín chiếc, nó quần đảo trên đầu xóm của Sáu. Sáu núp dưới hầm. Tía của Sáu, lão du kích cầm cây bá đỏ đứng dưới gốc xoài, dõi theo. Trong tiếng bay rầm rộ của nó, Sáu nghe tía gọi:
– Sáu! Sáu!
Sáu ngước cổ nhìn lên miệng hầm.
– Con chạy qua núp bên hầm thím Tư đi!
– Sao vậy tía? Nó thấy hả?
– Mau đi!
Sáu bước lên hầm, nhìn tía, thấy ông già đã mở trừng mắt hướng theo một chiếc trực thăng, mặt và tay ông ướt đẫm mồ hôi, ông rít trong hai hàm răng nghiến lại:
– Cha mẹ mày! Khốn nạn!
– Cái gì vậy tía?
– Thằng Mỹ, thằng Mỹ nó đang đứng bên cửa trực thăng, nó vạch quần đái xuống kia kìa! Chạy, chạy mau lên đi.
Sáu phóng qua con mương vườn, vừa chạy đến miệng hầm nhà thím Tư thì nghe ba tiếng nổ của cây bá đỏ, tiếng máy rú dài rồi phừng lên một đám cháy, một đám cháy đang lồng lộn trên không. Rồi tiếng trực thăng lại dồn tới, hỏa tiễn nổ nghe nứt cả mặt đất.
Tía của Sáu đã bắn cháy chiếc trực thăng của thằng Mỹ khốn nạn và mất dạy đó. Cái hầm dưới gốc xoài của Sáu bị đạn hỏa tiễn bới tung lên. Lá của cây xoài héo quắt lại, ông lão du kích nằm bên miệng hầm, một tay đã nám đen vẫn còn nắm chặt lấy súng.
Đám tang của ông lão đi trên dòng sông trong đêm mưa dầm tháng sáu. Chiếc quan tài được đặt trên chiếc ghe bốn chèo, chiếc ghe với hai con mắt màu đỏ, chiếc ghe đưa lão về một cái gò cao, nơi yên nghỉ cuối cùng của dân làng trong ngày đầu mùa nước nổi. Đêm đen, mưa rát mặt. Sấm chớp. Gió gào, sóng vỗ. Từng xuồng, từng xuồng nối theo nhau hàng trăm chiếc dài dọc theo con sông. Dân làng dân xóm nghiến răng, cố nhẹ mái dầm, lặng lẽ tiễn ông đi.
Nhà không còn ai nữa, Sáu đến xã đội với bộ bà ba đen, miếng vải tang trắng, xin nhận công tác. Sáu đi thẳng đến Bình Đức. Bọn Mỹ đang xây chốt. Trên vai, chiếc đòn gánh với hai cái ki, Sáu trà trộn trong đám dân đi gánh cát mướn. Cát từ trên cái xáng Mỹ hút dưới lòng sông thổi lên, ngập mất cả cỏ cây. Sáu gánh cát và sống ngay tại đó, kề bên chốt Mỹ. Một buổi sáng, Sáu đặt một trái mìn định hướng bên vệ đường, dưới một lớp cát còn ẩm nước sông Cửu Long. Một đội tuần tra Mỹ vừa trờ tới. Sáu gí điện. Mìn nổ, khói, cát phụt lên một đường dài. Đội tuần tra Mỹ hai mươi bốn thằng không sót được một tên. Từ cái miệng hầm, trận địa của Sáu, Sáu ôm một đứa nhỏ chưa đầy một tuổi, băng qua vườn, bước vào nhà. Một đám Mỹ ập đến, trên đầu có trực thăng quần đảo, nó vây chặt cái nhà của Sáu. Sáu vẫn ngồi đó, trên mép phản, tay ôm đứa con nhỏ. Một đám Mỹ bước vào với một viên thông ngôn đeo kiếng cận. Sáu đáp lại lời hỏi của viên thông ngôn:
– Nhà tôi ở đây. Ba nó đi gánh cát cho mấy ông. Tôi cũng đi gánh cát, nhưng sáng nay con tôi đau. Vi Ci hả? Vi Ci đánh mìn đó hả? Tôi không biết.
Sáu lại dỗ con.
– Tôi chỉ nhưng mấy ông phải giữ kín cho tôi. Hồi khuya tôi thấy họ về hai người. Họ đào hầm ở ngoài sau vườn kia. Họ đưa súng vô ngực tôi, tôi sợ lắm.
Bọn nó, lập tức bủa ra, vây lấy khu vườn. Nó nổ súng xung phong, chiếm lấy cái hầm. Không thấy ai, chỉ thấy mấy miếng lá chuối còn vắt ra vung vãi, và dưới hầm hãy còn sợi dây điện.
– Lá này là lá bánh tét, còn mới, chắc là họ ăn trước khi đi.
Tên thông ngôn nói:
– Ông trung úy nói với chị, là từ nay về sau, hễ thấy như vậy thì phải đi báo. Ông sẽ cho đô la nuôi con, khỏi phải gánh cát.
– Tôi biết nói tiếng Mỹ đâu mà nói.
Tên thông ngôn:
– Gặp ai cũng được, nắm tay họ lại, nói Vi Ci, Vi Ci, rồi đưa tay chỉ cho họ.
– Chết! Người ta thấy người ta giết tôi thì sao. Ngủ, ngủ đi con. Đừng sợ, ngủ đi con...
Trong lúc mọi người đang tìm cách đánh Mỹ, thì đó là một cách đánh của Sáu, trận đánh đầu tiên...
Năm Bờ nói đến đây rồi chợt nhìn lên trời:
– Thôi! Cuốn võng đi. Chuyện còn dài lắm, trời sâm sẩm rồi.
Trong lúc mở dây, cuốn võng, tôi còn nghĩ đến Sáu, cô gái ấy.
– Lần này về, chắc là được gặp chở anh Năm?
Anh không nhìn tôi, làm thinh, ngồi lúi húi với cái bồng.
Tôi nhìn lên trời, trời xanh mênh mông. Sao hôm, sao mai và muôn vàn vì sao khác có đấy, còn đấy, nhưng tôi chưa thấy. Một lát nữa đây, trời tối, khi hai đứa vượt qua cánh đồng, thì sao sẽ chi chít đầy trời.