Ngay đêm ấy, Năm Bờ về ở nhà ông Sáu. Ông Sáu Đương người già nhất trong làng. Người trong làng bây giờ đều sanh ra từ năm một ngàn chín trăm (1900) trở về sau, là người sanh ra trong thế kỷ hai mươi; chỉ có ba người là sanh ra từ thế kỷ mười chín, ba ông lão sanh cùng năm: một ngàn tám trăm tám mươi sáu (1886). Người làng ví ba ông lão như ba cây cổ thụ sau đình. Khi lớn lên và bắt đầu biết thì ngưòi ta thấy ba cây đa ấy rồi. Ba cây đa đã mọc râu, từ trên cành trên nhánh buông thòng xuống bám lại đất, biến thành rễ, và râu của ba cây đa chắc đến nỗi trẻ con bám lấy, trèo lên tụt xuống vẫn không đứt. Nhờ ba cây đa mà đình làng thêm vẻ thiêng liêng. Ban ngày lúc nào cũng mát rượi, âm u. Đêm thì người trong xóm đếm theo tiếng tắc kè đoán chuyện rủi may. Ba cây đa vẫn còn đó, nhưng người thì còn có ông Sáu. Hai ông bạn già của ông vừa mới qua đời được hai năm, thọ tám mươi hai. Ông Sáu năm nay đã tám mươi tư. Trước, ông làm thợ mộc, chuyên nghề tủ. Ông rời khỏi tay bào tay đục từ năm sáu mươi, hai mươi năm nay ông sống bằng nghề đan rổ, đan thúng, đan mẹt, đan nia... Con cái cháu chắt tủa ra khắp mọi phương trời, lâu lâu mới có một đứa về thăm. Ông sống với thằng cháu ngoại, thằng thứ hai của đứa con gái thứ mười. Mắt ông lòa, không nhìn thấy gì nữa.
– Trời hôm nay sao con? - Muốn biết trời đất ra sao thì ông hỏi đứa cháu.
– Dạ, trời nắng - Thằng Hải mười hai tuổi nhìn trời đáp lại.
– Ừ nắng, nhưng nắng ra làm sao chứ?
– Nắng sáng lắm, ở trên trời không có mây.
– Ngoài sông thì sao?
– Nhìn ra sông chói mắt lắm. Có chiếc tàu mủ của Mỹ đang chạy, chạy như bay, sóng ở đằng trước tả ra, sóng ở đằng sau như cái đuôi, dài thoòng. Thằng Mỹ ở trần, da nó đỏ như cái cổ của con gà nòi.
Mỗi lần nghe bọn lính tràn vào xóm trong, ông cũng ra mí vườn, ngồi xem:
– Trên tròi có cái gì con? - Ông hỏi thằng cháu ngoại.
– Trên trời, để con đếm coi một hai... ba, có sáu chiếc trực thăng! Tổ cha nó, cái đầu của nó chúi chúi xuống như cái cán gáo... Một con đầm già đen bay tè tè, một chiếc chiêu hồi bay u u ỏ trên, còn phản lực ba chiếc bay vòng ngoài. Đó nó bắn, tổ cha nó, nó xịt xuống một lằn khói.
– Có nhà ai bị cháy không con?
– Dạ, có! Kìa! Kho... ó... i!
– Khói ra làm sao?
– Khói ỏ dưới thì đen, ở trên thì trắng.
– Ở dưới có bắn lên không vậy con?
– Sao lại không có ngoại, dữ lắm, nhưng mà đạn nhỏ quá, con không thấy.
– Có chiếc nào cháy không con?
– Một chút nữa mới cháy... Kìa, ngoại ơi cháy!
– Cái gì cháy.
– Trực thăng.
– Vậy hả con. Sao? Ngồi xuống nói cho ngoại nghe coi.
– Nó đang bay. Phụp một cái. Nó phụt khói, rồi phụt lửa, khói với lửa quay quay, quay tròn như bông vụ rồi nó đâm xuống ruộng. Bỏ mẹ chưa con. Còn mấy thằng kia hoảng hồn, dạt ra hết, cho mày làm phách!
Đã hai ba năm nay, vổi đôi mắt lòa của ông, ông nhìn cảnh trời qua đôi mắt trong trẻo của đứa cháu.
Đêm ấy, gặp lại Năm Bờ, ông nhận ra người thân bằng cảm giác của hai bàn tay. Ông đưa tay sờ mặt, sờ vai, sờ đầu xuống hai tay anh.
– Đúng là mày. Năm! Mắt tao lòa rồi, nhưng đố đứa gạt được tao đó! Hải đâu, con?
– Dạ! - Chú Hải nằm khoanh con tôm trên bộ ngựa sau lưng ông, nó lồm cồm ngồi dậy từ lúc có người lạ bước vào nhà.
– Con ra ngoài cửa!
– Dạ! - Nó nhảy xuống, nhưng vẫn còn quay lại nhìn ngưòi khách, để sau đó, tả lại cho ngoại nghe.
– Trời ra làm sao con?
– Dạ, mưa vừa dứt hột, tối đen.
– Tối đen thì ngoại lúc nào mà không tối đen. Tối làm sao nói cho kỹ.
– Dạ! Mưa ngớt hột mà trời ngay trên nóc nhà, mây... a... nhiều lắm.
– Không thấy cái gì hết sao?
– Dạ thấy, chơn trời ỏ bên kia sông thì trống rồi, có một ngôi sao.
– Sao nữa, ở ngoài sông?
– Có sóng bỏ vòi.
– Cây cối xung quanh?
– Dạ. Cây thì đen, đậm hơn... a... ban đêm. Cái nhà bè của bà Út Nhỏ dưới bến thấy một cục đen hù.
– Nếu có người đi qua đi lại thì con có thấy không?
– Dạ thấy chớ ngoại.
– Ờ, con đi rửa mặt đi, cho nó tỉnh, rồi ngồi ở ngoài đó.
– Chú Năm về, con không ngủ đâu - Nói rồi chú nhảy ra sân đi vòng quanh nhà.
Ông Sáu cầm lấy bàn tay của Năm Bờ.
– Năm, con ngồi xuống đây, ngồi xuống.
– Dạ, ông Sáu năm nay có được khỏe bằng mấy năm trước không?
– Già rồi nó vậy. Đất sanh cỏ, già sanh tật, tao bị đau lưng. Con ngồi xuống đây, ngồi xuống đây... - Năm Bờ đã ngồi lên bộ ngựa rồi, cạnh bên ông, ông xúc động đến nỗi chưa biết bắt đầu vào chuyện gì.
– Ờ, cái này phải dặn trước! Cái hầm ngay dưới nền nhà trong buồng. Có gì động tĩnh thì con xuống đó. Chà... ít hôm nữa, nước nổi rồi... hôm rồi, cuộc hành quân cảnh sát của bọn nó, nhà nào nó cũng xét, chỉ trừ có nhà tao. Không phải nó nể tao già mà nó tha đâu. Nó nghĩ tao già đã gần đất xa trời rồi, nó bỏ quên. Nó thì quên, nhưng tụi con thì nhớ. Vậy, đủ biết tụi nó thua rồi... À, con cơm nước gì chưa?
– Dạ, con không đói.
– Nhà còn một đòn bánh tét, tao mua từ chiều. Còn chuyện này, nhớ tới đâu nói tới đó, để rồi quên, Hải à!
– Dạ.
– Chú Quyện tới đây mua rổ hôm nào con.
– Dạ, sáng hôm kia.
– Ờ, sáng hôm kia. Con còn nhớ Tám Quyện không?
– Dạ nhớ.
– Ờ. Sáng hôm chú tới đây mua rổ. Chú ngồi chú than chú bị thất nghiệp, em út của chú cũng bị thất nghiệp. Thằng cảnh sát Bá tới dụ chú vì miếng cơm, chú chưa biết tính sao? Tao mới bảo chú. “Nghèo thì cạp đất ăn, Quyện! Đừng quên anh em hồi đó!”. Năm bốn mươi, con còn nhỏ, nó cũng là đứa gác đường cho anh em treo cờ đó.
Từ cái chuyện treo cờ năm bốn mươi, giọng phều phào, ông nhắc lại:
– Tao còn nhớ, lá cờ đỏ búa liềm năm bốn mươi đó! Cây sao nhìn trật ót, cao lắm. Không ai leo lên được. Muốn leo lên, phải lên mấy cái cây thâm thấp mọc chung quanh rồi quăng dây lên nhánh leo chuyền qua. Cờ cắm lên ngọn xong rồi tao với ngoại con với anh em thợ mộc đem cưa ra, cưa hết mấy cái cây thâm thấp đó, cưa tới sáng đêm. Cờ treo theo dây thép ở giữa sông, tụi Tây nó cho cắt dây thép, còn lá cờ trên ngọn sao thì bọn nó, không đứa nào leo nổi. Lá cờ trên ngọn sao! Cha ơi, cứ phất phới tới bảy tám ngày sau. Chẳng biết làm sao mà hạ xuống, cuối cùng nó phải bắt lính cưa đứt cây sao. Cây sao ngã xuống mặt sông, đùng một cái, như tiếng bom nổ. Cái gốc nằm trên bờ, cái ngọn ở tuốt ngoài kia. Cha ơi, nước ròng nước lớn, con nước nào cũng xoáy cũng vặn theo tàn lá. Nước tràn qua thân cây, ầm ầm như thác đổ, suốt mấy năm tròi. Con còn nhớ không?
– Dạ, con nhớ.
– Cây sao bốn mươi nằm ngay cửa nhà này. Mắt tao lòa, tối đen. Nhưng hễ buồn là tao ngồi ngay cửa, nhìn xuống bếp. Ờ. Nói vòng vo tam quốc quá, tao lại nói chuyện Tám Quyện. Trong lúc trò chuyện Tám Quyện nó còn nhớ ba của con.
– Chú Quyện còn nhớ ba con?
– Muốn quên một người tốt đâu có dễ! - Đang câu chuyện chợt nhớ đến điều gì, ông lại gọi cháu.
– Hải à?
– Dạ.
– Trời đất ra làm sao rồi con?
Tiếng của thằng Hải ngoài sân nói vọng vào:
– Mây bay qua khỏi nóc nhà rồi.
– Ờ.
– Trên trời có sao. Cái gì con cũng thấy mờ mờ. Cái nhà bè thấy rõ rồi, nhồi lên hụp xuống. Ngoài sông sóng bỏ vòi. Sóng đập lên bờ rồi. Ầm ầm, ngoại nghe không?
– Cái đó thì ngoại nghe.
– Hải ơi, cháu buồn ngủ chưa? Cháu!
Thằng Hải chạy vào, đứng ôm cột nhà, nhìn vào:
– Cháu tỉnh lắm, chú Năm. Chú Năm dầm mưa nãy giờ, lạnh, chú hút thuốc đi; ở ngoài nhìn vô thấy như con đom đóm, không sao đâu. Cháu ngồi gác. Chú nói chuyện với ngoại cháu nữa đi. - Nói rồi, không đợi Năm Bờ trả lời, chú lại nhảy qua sân, đi vòng quanh nhà, lần này chú tính một vòng rộng hơn.
– Chuyện chú Quyện sao nữa, ông Sáu? - Năm Bờ hỏi.
– Ờ. Nó cũng nhắc tới con. Nó nói với tao là nó nghe con bị thương.
– Chú biết con về chưa?
– Cái đó, nó không biết. Con làm sao cho người nhắn với nó một câu.
– Dà.
– Tội nghiệp! Nghe nó nói vậy, tao cho nó hai cái rổ. Tao già cứ hay nghĩ lẩn thẩn. Người trong làng bây giờ chẳng khác mấy cái thanh tre, ngổn ngang, xếp lớp dưới nền nhà đó. Có cái đã vót thành nan rồi. Nan mà để rời rạc thì chẳng làm được gì. Phải đan lại thì mới thành cái thúng cái mủng. Người cũng vậy. Ngưòi tốt có người xấu có. Người xấu thì lấy lời khuyên bảo họ. Tốt rồi mà rời rạc, đèn nhà ai nấy tỏ thì cũng như không. Phải đan lại. Tao thì tao chỉ biết đan thúng đan rổ. Đan người lại với nhau là chuyện của người cách mạng của tụi con.
Rồi chợt nhớ điều gì, ông gọi cháu:
– Hải ạ!
– Dạ.
– Con đốm đâu?
– Nó nằm dưới bếp.
– Gọi nó ra đây cho ngoại biểu.
Thằng Hải bước vào tróc lưỡi. Con đốm nằm dưới bếp, chạy xổ lên.
– Nó đây ngoại.
– Đốm lại đây con.
Con đốm đứng chồm lên, bỏ hai chân trước lên vê ông. Ông đưa tay vuốt đầu nó, rồi cầm hai chân nó đặt lên đùi Năm Bờ.
– Chú Năm của mày đây. Biết chưa? Năm, con nhổ nước miếng vô miệng nó cho nó quen ngưòi quen hơi.
Con đốm thè lưỡi rồi liếm tay Năm Bờ, vẫy đuôi mừng rối rít.
– Thôi được rồi, con! Thằng Hải ở cửa trước, còn con thì ở cửa sau. Thấy ai lạ thì sủa nghe chưa? Hải a!
– Dạ.
– Cho con đốm ăn uống cho đầy đủ nghe con...
Lúc đầu, Năm Bờ định ghé thăm ông, nhân đó, tìm hiểu thêm bà con lối xóm. Nhưng qua câu chuyện với ông, anh quyết định: ở hẳn trong nhà ông. Nhà của Mười anh dành làm điểm dự bị cho Sáu Linh.
Nhà ông tách ra khỏi xóm nhà dài theo con lộ đá một bãi dâu. Trước nhà là bến sông. Quanh nhà không vườn tược, chỉ có vài ba bụi chuối lơ thơ. Nhà ông vừa choi loi vừa trống trải. Nhà ông ở vào một vị trí bất lợi, khó thoát thân. Nhưng kinh nghiệm của anh, trong những ngày đen tối, khi sống trong vòng vây của kẻ thù, nếu tìm thấy được sơ hở của bọn chúng, thì đó chính là nơi an toàn; anh đã từng sống, hoạt động và tồn tại ở những nơi đó. Cũng có nơi tưởng là sơ hở, nhưng chính là cái bẫy của bọn chúng đã dọn cho ta đến. Ngôi nhà này, chính là sơ hở của bọn chúng, ngôi nhà nhỏ của một ngưòi già đã bị chúng bỏ quên. Đây chính là căn cứ vững chắc của anh. Và sự vững chắc ấy cũng chính là tấm lòng của ông.
Thế là trong đêm đầu vào ấp chiến lược, anh đã tổ chức được một tổ du kích mật và đã tạo cho mình một căn cứ.
Đêm ấy, hai ông cháu ngủ cùng giường, buồng trong. Chú Hải nằm ngoài, nằm khoanh như một con tôm trên bộ ngựa trải chiếu.
Sau những cơn sốt, ngưòi ê ẩm, sau một đêm lặn lội mệt nhọc, được nằm trong ngôi nhà yên ổn, anh tưởng ngả lưng xuống là ngủ ngon lành. Anh nhắm mắt, nằm im nhưng không tài nào ngủ được. Tiếng gió và tiếng sóng giữa bờ sông vừa ru cho anh, vừa làm xôn xao cả giấc ngủ của anh.
Nhà của ông Sáu với nhà của bà Chín - chỗ của Sáu Linh, cách nhau một tiếng hú. Đến gần sáng, anh mới thiếp đi.
Theo thói quen của người già, ông Sáu dậy sớm. Ông ngồi trên bộ ngựa, vót nan. Thằng Hải cũng dậy theo ông. Nó xuống bếp nấu nưốc, pha trà cho ông.
Thấy Năm Bờ ngủ ngon, hai ông cháu không nỡ gọi. Sáng sớm, theo sáng kiến của cháu, ông đem tất cả rổ rá ra sân, để ngưòi mua khỏi phải vào nhà. Còn Hải, chú không rời khỏi bộ ngựa. Chú nằm khoanh con tôm, cạnh bên vách buồng, mắt nhìn ra cửa, canh cho chú Năm ngủ. Chờ cho chú Năm dậy, bưng cho chú một ly nước trà, đậy hầm cho chú Năm xong, chú mới tọt ra chợ.
Đêm sau, Năm Bờ đến thăm gia đình khác. Nhà còn hai ông cháu. Cũng như đêm qua, đêm kia, và những đêm khác, nhà không đốt đèn. Cái đèn để trên bàn thờ chỉ đốt khi có người đến chơi, hoặc cần tìm kiếm cái gì mà thằng Hải lục không ra. Ông thích ở thầm. Ông ngồi trên bộ ngựa vót nan. Thằng Hải nằm sau lưng, con đốm nằm sau bếp, giữ cửa sau. Ông vừa vót nan vừa hỏi:
– Con thấy chú Năm con làm sao?
Ông hỏi cháu không phải để biết hình dáng hay mặt mũi của Năm Bờ, mà để hiểu tình cảm của đứa cháu đối với anh. Qua câu trả lời của cháu, ông sẽ biết đứa cháu của mình thương ai ghét ai. Có hôm ông hỏi:
– Mặt mày ông cảnh sát Bá ra sao con?
– Mặt như cái giàn hành sập!
Mặt người mà ví như cái giàn hành bị sập thì thật khó hình dung, nhưng ông hiểu và ông cưòi.
– Còn mặt của ông đại diện Phiến?
– Mặt của ông đó, khi ông ngồi một mình thì chừ bự như cái bánh bao thiu tiệm chú Phồi. Cái gì cũng ăn, mặt có nọng như heo.
– Còn mặt của đại úy Long con bà Út Nhỏ.
– Như con gà vậy đó ngoại. Phùng xòe phách lắm. Cứ rướn cái cổ lên mà gáy o o. Nhưng là con gà rót, hễ đụng du kích thì vỗ hai cánh, rót vô bụi rậm.
– Còn thằng Mịnh?
– Thằng đó ưa bận cái quần màu cứt gà sáp, thối hoắc...
Hải đã quen câu hỏi như vậy của ông, chú lồm cồm ngồi dậy nhìn ra cửa.
– Tối hôm qua chú bận bà ba đen, hiền lắm.
–Ờ.
– Chú bị thương ngay con mắt. Chú có một con mắt giả, giông như con mắt thiệt.
– Phải hay trái?
– Trái.
– Sao nữa.
– Chân mày của chú đậm. Mũi của chú cao cao.
– Mũi vậy là mũi dọc dừa.
– Mũi dọc dừa. Tóc của chú chưa bạc. Nước da của chú bị nắng ăn, con hỏi sao chú ốm, chú nói là chú bị sốt rét rừng.
– Da chú Năm mày xấu lắm không?
– Xấu mà con thương.
– Mai, con coi nhà ai lấy thúng lấy rổ mà chưa trả tiền, con đi đòi, rồi ra chợ mua hai con vịt xiêm già.
– Đãi chú sao ngoại đãi vịt xiêm già?
– Mua về nuôi. Mỗi ngày chích cái mồng nó, lấy máu pha rượu cho chú Năm mày uống.
– Chi vậy ngoại?
– Cho mau lại máu! Hồi trước mấy chú bị đày ở Côn Đảo về da ngưòi nào người nấy xám xịt như đất. Uống máu vịt xiêm như vậy chừng một tháng, người nào cũng hồng hào.
– Sáng mai con đi mua ngay. Tiền không đủ thì con đập con heo của con. Con heo của con bữa nay đầy nhóc.
– Nhưng phải kín, đừng cho chú Năm mày biết, chú có nói chuyện gì với con không?
– Chú hỏi con sao không bận áo mà ở trần trùi trụi vậy. Con nói áo con có tới hai ba cái lận. Nhưng con bắt chước ngoại hồi nhỏ, ở trần cho nó quen, sống lâu, chú cười.
– Từ sáng tới giờ, mấy người tới nhà, có ai dòm ngó gì không?
– Dạ không. Nhưng mà mấy bà cứ luông tuồng. Mai ngoại cũng đem rổ đem thúng để ngoài hiên, đừng để ngươi ta vô nhà.
– Đừng làm vậy, người ta để ý. Một bữa nay thôi, trước sao thì bây giờ vậy.
– Chú nằm dưới hầm, con thương quá. Để rổ để thúng ngoài đó, ngưòi ta không vô nhà để chú lên giường chú nằm, con chơi ở ngoài con gác, hễ động tĩnh thì con tằng hắng, chú thụt xuống.
– Chú là người cách mạng đang ẩn náu trong nhà mình, chớ phải là khách đâu mà giường với chiếu. Nhưng để ngoại tính lại coi.
– Ngoại tính gấp đi. Nước bữa nay đầy bờ rồi. Ít hôm nữa, nước ngập, hầm nước không, chú làm sao nằm.
– Chuyện đó để cho ngoại lo. Con bước chân ra ngoài cho ngoại cái.
Thằng Hải bưốc xuống đất. Ngày cũng như đêm, lúc nào cũng vậy, một cái quần đùi, lưng trùi trụi đen thui. Nó bước ra hiên.
– Đêm nay trời không mưa. Trời cao thiệt là cao, xanh thiệt là xanh, dòm đâu cũng thấy sao. Sao ngay trên nóc nhà một chòm dày đặc. Rặng cây bên kia con cũng thấy, xanh rì, giữa sông có ba chiếc ghe chèo. Sóng bò lên tối bờ rồi. Nó đập vô bờ đó, a... o... ào, a... o... ào.
Rồi chợt nhớ điều gì, nó chạy vào, kề miệng sát tai ông Sáu:
– Hồi nãy con quên, chú Năm có hai trái lựu đạn da láng!