Mỗi lẫn nghĩ đến ngày trở về, chỉ mới nghĩ đến mà đã nghe xúc động đến rợn người. Tôi mường tượng thấy mình sẽ nằm lăn trên bãi cỏ, sẽ ngửa mặt nhìn trời cao, sẽ thở, sẽ hít căng đầy lồng ngực cái không khí đậm đà hương vị của cỏ cây lẫn trong mùi ngào ngạt của hoa sen... Tôi sẽ đứng giữa cánh đồng, cỏ ngập đầu, sẽ lặng nghe sóng cỏ tràn qua người, rồi tôi sẽ khóc, khóc như một đứa trẻ thơ. Sau hai mươi năm! Ôi quê hương! Hạnh phúc biết bao! Ngày trở về...
Và bây giờ, sáng tinh sương, chân đã bước đến nơi rồi, trên một lớp cỏ năng, thì tôi không còn sức để xúc động như tôi tưởng nữa. Tôi vừa vượt qua cánh đồng lầy lội suốt một đêm trắng - đồng chó ngáp, bụng đói cồn cào, chân tay bủn rủn, thở chẳng ra hơi. Nếu tôi còn sức để nằm lăn lộn trên bãi cỏ như tôi nghĩ thì trong con mắt của Năm Bờ, tôi là một thằng điên. Nhưng mơ tưởng không phải là xấu. Con người ai chẳng có lúc bốc?
Tôi muốn ngồi quỵ xuống chỗ nào cũng được, lưng dựa vào cái bồng duỗi chân ra một chút, nhưng Năm Bờ đã giục tôi:
– Đi nhanh lên! - Và giọng anh gay gắt - Súng sao lại đeo lủng lẳng như vậy, lên đạn cầm tay đi.
Anh cũng mệt rũ như tôi, nhưng đôi chân vẫn dẻo dai, dáng lom khom, anh lội qua bãi năng lầy, đôi dép cao su của anh chắc làm sao! Khác hơn tôi, khác hơn cả cán bộ cỡ như anh, anh không đeo súng ngắn, bên hông giắt ba trái lựu đạn da láng và trang bị cho mình một cây AK. Cây AK đạn đã lên nòng, lăm lăm trong tay, nòng súng khi thì hướng vào vạt đế bịt bùng trước mắt, khi thì hướng qua đám đưng bên phải, bên trái, sẵn sàng nổ, nếu có kẻ thù đang phục đâu đó.
Trời chưa hửng nắng, không nghe rõ tiếng bay, nhưng tôi đã thấy những cái chấm đen của bầy trực thăng, nhỏ xíu, đang chúi chúi trên vòm trời của dòng sông Cửu Long; cũng không nghe tiếng nổ, nhưng đã thấy một đường khói đen của hỏa tiễn từ một cái chấm nhỏ của con đầm già đang bắn xuống một xóm nào đó. Xa xa nữa, loang loáng trên bầu trời, rồi nghe như tiếng sấm, khói của bom bi ùn lên như một đám mây trắng.
Tôi cố đuổi theo anh, nhưng đôi dép của tôi, đôi dép không thích nghi với đồng lầy, quai sau cứ tuột, kẹt cứng dưới bùn; suốt cả đêm qua, tôi phải đi hai bàn chân không, gốc tràm đâm đau điếng; bây giờ, phải xách nó trong tay để chạy theo anh.
Hai người vượt qua bãi năng trống, bước vào con đường mòn giữa đám đế, kín đáo hơn. Tôi cũng muốn ngồi nghỉ chân một chút, muốn cởi hai cái dây bồng ra khỏi vai, tháo dây nịt, mở nắp hănggô, bốc một nắm cơm mà nhai, mà nuốt.
– Phải tìm cho được trạm giao liên, nghe ông.
Tôi chỉ còn có việc cúi xuống, xỏ dép vào chân, lại đi. Trời hửng nắng. Tôi cũng không còn đủ sức mà nhìn cái nắng nữa. Vào một cái chòi hoang, chẳng có ai, tôi đứng trước cửa chòi, chưa kịp quay ra, lại nghe anh nhắc:
– Chết sống cũng phải tìm cho được trạm giao liên, nghe ông.
Tôi không buồn trả lời nữa, xốc lại cái bồng cho đỡ mỏi, quay ra, bước theo anh và lại đi tìm cái chòi của giao liên.
Đứng trên gò mà nhìn thì nhiều vô kể, xa xa một cái rải rác khắp cả cánh đồng, phải đến hàng trăm, và chắc còn nhiều hơn nữa, ở những chỗ tầm mắt không nhìn thấy. Những cái chòi đã có từ xưa, cũng không thể hiểu nổi ai đã dựng lên nó. Nó được dựng lên từ lúc có dấu chân người. Những cái chòi đơn sơ với hai mái nằm trệt dưới cỏ, có chòi đệm bằng đưng, có chòi đệm bằng lá, hoặc bằng sậy, bằng đế, có chòi vùi sâu trong một đám lác bịt bùng, có chòi bẹp xuống, thấp lè tè. Mùa nước nổi, nó bị nước cuốn trôi đi, có mái trôi lềnh bềnh, có mái rã ra thành cỏ rác. Tháng chín, tháng mười, nước lại rút trở về sông, gió bấc se se thổi, đất lại khô, chòi lại được dựng lên, và cũng lại xa xa một cái rải rác lô nhô, xệp xuống rồi lại mọc lên như mùa nấm - Đó là nơi nghỉ chân của những người đi cắt đưng, cắt lác, của những người đi bắt rùa, bắt rắn, bắt trăn, của những người đi bắt cá, bắt chim hoặc hái sen, và của những ai lỡ bước giữa đồng.
Bây giờ, những cái chòi vô chủ này hàng ngày đều bị soi mói dưới con mắt của kẻ giặc ở trên không. Có chòi bị thiêu cháy vì một trái hỏa tiễn, có chòi bị gió của cánh trực thăng cuốn tả tơi.
Trong những cái chòi ấy có một cái là trạm của giao liên.
Cái chòi! Trên đường đi, Năm Bờ đã kể cho tôi nghe bao nhiêu chuyện kỳ thú đã xảy ra. Cái chòi điểm hẹn của những người xa lạ. Gặp nhau, quen nhau, gắn bó, chiến đấu, có cả những mối tình đã nảy nở từ những cái chòi ấy. Có người đi ba đồng bảy đỗi tìm nhau mà không thấy, bất thình lình lại gặp nhau trong một cái chòi. Đặc biệt hơn nữa, trạm nào cũng có một cô gái và cô gái nào cũng đáng quý, đáng yêu.
Một đêm, có một anh cán bộ ngồi trong chòi, chờ giao liên, chờ mãi, trăng đã lên tới đỉnh đầu, gió cũng se se lạnh mà chẳng thấy ai tới. Cánh đồng đang im lặng trong tiếng xào xạc ngoài vạt đế, anh nghe có tiếng trực thăng, nhìn ra, anh thấy đạn nối nhau như một dòng lửa từ trên trực thăng xối xuống. Trực thăng bắn như vậy là thường, đêm nào cũng có, nhưng lần này anh đâm lo. Bầy trực thăng, ba chiếc, bắn vậy, vài lượt rồi lại lảng đi, lại bắn, suốt đêm.
Cũng không thấy ai đến, chắc gì có trở ngại, anh vừa thầm nghĩ, thì chợt thấy dưới ánh trăng có một bóng người mảnh khảnh bước tới. Anh hỏi:
– Ai?
– Em, giao liên.
– Dữ không, tôi chờ cô lâu quá.
Cô giao liên bước gần tới:
– Anh có băng, có bông gòn, có thuốc đỏ không?
– Cô làm sao?
– Em bị thương.
Anh cán bộ quay vào chòi, kéo cái bồng ra ánh trăng, mở dây, vừa tìm kiếm, vừa hỏi:
– Cô bị có nặng không? - Anh hỏi giọng lo lắng có cả hốt hoảng nữa.
– Không sao, nhẹ thôi, em băng rồi, nhưng em sợ nhiễm trùng. May quá, chỉ xước qua bắp tay. - Người bị thương nói với giọng bình thản, dịu dàng nữa.
Anh cán bộ thấy cái băng trắng trên bắp tay cô thấm máu. Cô giao liên ngồi bệt xuống cỏ, hai chân duỗi ra, cây carbin gác ngang, nhấc cánh tay bị thương cho anh cán bộ, còn một tay thì cầm lại mái tóc giũ qua giũ lại:
– Em bị thương là tại mái tóc này.
– Sao vậy?
– Hồi chiều, trước khi đi, em gội đầu. Thằng trực thăng nó bắn em nhằm lúc em lội qua vũng nước. Em phải trầm mình. Nước bùn, sợ dơ tóc em mới đưa lên, không dè có một viên phớt qua.
– Trực thăng thằng giặc không làm bẩn được mái tóc em! - Anh cán bộ xúc động, thầm kêu lên như một câu thơ, và nhìn lại cô gái.
Mây trôi nhanh. Trăng sáng tỏ. Anh thấy trời đêm trong đôi mắt của cô. Và đâu đấy, ngan ngát dìu dịu cái hương sen thoang thoảng bên anh. À! Cái hương sen từ mái tóc của cô gái. Rồi anh yêu và anh gởi thơ cho cô. Một năm sau, anh trở lại cái chòi ấy, theo lời hẹn của cô…
Bây giờ thì tôi không cần một cô gái với cái trạm giao liên như vậy nữa. Một ông già với cái trạm cũng được, miễn là gần đây, cạnh bên đường, cho đỡ mệt. Chúng tôi đã đi qua đến chòi thứ tám rồi.
– Mệt lắm phải không ông? - Anh Năm Bờ quay lại hỏi.
– Bình thường - Tôi đáp .
– Ráng lên chút nữa, về đây mà không bám được giao liên thì chết như chơi đó. - Năm Bờ lại nói rõ hơn: - Nó đổ quân, không biết đường đâu mà chạy. Không phải chết vì nó, mà có khi chết vì lựu đạn gài của mình.
– Chết sống gì thì cũng phải tìm cho được chớ, anh! - Tôi nói ngon. Vì nói ngon như vậy, nên phải tỏ ra cho xứng đáng, tôi xốc lại hai cái quai bồng, cái bồng cứ nặng dần theo từng bước, tôi vượt lên, đi trước anh.
– Nè! Có con đường mòn mới vẹt, quẹo vô đây thử cái coi.
Tôi bỏ con đường mòn lớn, quẹo vô theo ngón tay chỉ của anh, chẳng biết đúng hay sai, tôi cứ đạp bừa lên sậy đế, dấn tới. Tôi đi trước anh đi sau, luồn qua một đám đế cao ngập đầu; và kìa, trước mặt tôi, một cái chòi. Tôi thở phào. Dữ không! Lúc tôi mong đợi thì cô trốn mất, khi tôi mệt muốn chết thì cô lại hiện ra. Một cái chòi, hai cái mái bện bằng đưng đã úa vàng, dựng trên một cái hầm bề ngang độ hơn mét, bề dài gần hai mét, bề sâu hơn nửa mét, được rải một lớp cỏ khô. Tôi quay ra, nói đùa với giọng thì thầm quan trọng:
– Có một nàng tiên đang ngủ!
Trạm giao liên hôm nay không có khách, chỉ có một người giao liên ôm súng, nằm nghiêng và đang ngủ ngon. Tấm vải dù bông đắp kín từ đầu đến chân, chỉ nhìn thấy mái tóc dài, và qua làn vải dù, có thể thấy mờ mờ cái gót chân nho nhỏ của một cô gái.
– Nhè nhẹ để cô ấy ngủ - Chúng tôi cởi dây bồng, mở dây nịt, để đồ đạc xuống một góc.
– Ông ngả lưng trước đi, tôi ra ngoài này một chút. - Năm Bờ bỏ hết đồ đạc, bảo tôi, rồi bước ra cửa chòi, chẳng biết anh đi đâu và làm gì, nhưng tôi không hỏi.
Đói quá hóa no, tôi không thiết đến ăn, chỉ uống một ngụm trà đặc trong bình toong, lau miệng bằng ống tay áo, rồi dựa lưng vào cái bồng, thở cho khoan khoái.
Vậy là mình đã đến trạm giao liên! Từ cái chòi giữa cánh đồng cỏ lác um tùm này, điểm hẹn của những người chưa quen biết nhau; cái gì sẽ bắt đầu, sẽ đến cho tôi, cho anh và cho cả cô giao liên đang ngủ ngon kia? Tôi liếc nhìn cô giao liên, thầm nghĩ như vậy, đáng lẽ tôi phải ngủ, ngả lưng xuống là ngáy, nhưng ý nghĩa ấy lại đến với tôi cùng với những câu chuyện lý thú mà anh đã kể - Nói vậy, tôi vẫn phải tìm một chỗ nằm có thể duỗi chân, khốn nỗi cái chòi giao liên lại quá nhỏ và người chủ của nó đã choáng hết chỗ rồi. Một người con trai với một người con gái nằm cùng trong một cái chòi, thật bất tiện. Nằm xuôi theo chòi thì không được rồi. Nằm ngang thì thừa chân thừa cẳng.
Tôi xếp hai cái bồng cùng với súng ống và đồ đạc linh tinh dồn lại một góc, rồi nằm khoanh con tôm, dưới chân người con gái. Tôi sắp sửa ngủ, bỗng chợt như đâu đó, ai gọi đến tên mình, tôi liếc nhìn sang cô gái, rồi đưa tay sờ cằm. Thức một đêm, râu mọc ra tua tủa. Tôi vừa mới thiếp đi, bỗng nghe đánh rốp một tiếng, giật mình choàng dậy, tôi hoảng hồn. Cô gái đang chĩa nòng súng vào ngực tôi mặt đỏ bừng:
– Anh là ai? - Giọng cô gay gắt, mắt mở tròn.
- Tôi là Giải phóng - Tôi đưa tay ngang nòng súng của cô - đừng... đừng… tôi...
Chẳng hiểu bộ tịch của tôi thế nào mà cô muốn phì cười, nhưng cô vẫn làm ra vẻ giận dữ. Cô tạt nòng súng sang bên, cái nòng súng CKC, rồi lại đánh rắc một cái, viên đạn bật ngược ra, tôi kêu lên:
– Cô lên đạn thiệt à?
– Không thiệt sao được. Anh ở đâu mà lại nằm đây? - Giọng của cô còn gắt, nhưng mặt đã hết giận.
– Tôi vừa mới tới, tìm từ sáng tới giờ, mệt muốn chết.
– Sao giao liên không giao cho tôi!
– Tôi đi tự lực.
Tôi nói và theo dõi từng cử chỉ của cô. Cô đặt CKC xuống lớp cỏ, ngồi dựa lưng vào vách hầm. Cô gái khoảng độ hăm mốt hăm hai, nước da của cô có lẽ trắng trẻo, nhưng bây giờ thì rám nắng: Một cô gái bình thường, không có gì đặc sắc; nhưng tôi đã nhìn thấy cái vẻ riêng của cô, hết sức đặt biệt, một cái nốt ruồi son ở cổ. Tự nhiên tôi thấy thinh thích cái nốt ruồi son ấy của cô. Hình như cái nốt ruồi son ấy làm sáng cả gương mặt cô. Chắc cũng chính vì vậy, nên cô mặc cái áo bà bà cổ trái tim. Tôi bắt đầu nói chuyện với cái thế của một người con trai.
– Sao anh không trình giấy cho tôi mà tự tiện vào trạm?
– Tôi sợ mất giấc ngủ của cô.
– Nếu tôi gài lựu đạn ở bên ngoài thì sao?
– Thì vì giấc ngủ của cô mà tôi chết thôi. - Tôi bắt đầu chủ động, nói trêu cho vui.
Không nhịn được cười, cô quay mặt đi:
– Anh ở đâu về đây?
– Tôi ở Rờ.
– Anh cơm nước gì chưa?
– Đói muốn chết.
– Anh chủ quan quá. Đến nơi là phải cơm nước ngay để khi nó đổ quân, còn sức mà đánh, mà chạy chớ.
Cô với tay, kéo cái bồng nhỏ, mở dây, móc ra một chiếc bánh dừa đưa cho tôi:
– Anh ăn đỡ cái bánh đi.
– Bánh dừa!
– Thì bánh dừa chứ gì mà anh mừng rỡ vậy.
Đã lâu lắm rồi, tôi mới thấy lại cái bánh dừa, cái loại bánh ở chợ nào cũng có bán, thường treo từng đùm năm bảy cái trước những tiệm nho nhỏ ở nông thôn, đứa trẻ nào cũng thích. Cái bánh dừa nằm trong lòng bàn tay tôi, nằng nặng, thơm thơm mùi nếp chín và mùi beo béo của dừa. Tôi chỉ muốn cầm nó mà ngửi, nhưng làm vậy trước mắt cô, e không tiện. Nhìn lên tôi thấy cô chớp mắt.
– Anh ăn đi, tôi còn nữa mà. Đêm qua anh ngủ đâu mà bây giờ anh mới đến đây?
– Ngủ nghê gì đâu. Tôi lội qua đồng chó ngáp từ đầu hôm đến sáng trắng. Cô có biết cái đồng chó ngáp đó không?
– Trước mặt chớ đâu mà không biết, tôi cũng lội qua lội lại hoài.
Tôi thấy gần với cô hơn, muốn kể lể với cô một đôi điều:
– Cánh đồng thật trời ơi, mùa khô mà cứ xăm xắm nước, chỗ không nước thì sình lầy ngập đến gối, có chỗ lún tới lưng quần. Đi dép thì dép tuột, thò tay kéo nó, rứt không muốn lên, đi chân thì bị tràm đâm. Ở rừng đi một giờ còn nghỉ được mười phút, hoặc mười lăm hai mươi phút cũng được; còn ở đây, nghỉ cũng phải đứng, ngồi ở đâu ngồi ở trên bùn thì nó lún xuống, nghỉ mà ba lô, bồng bị, súng ống cứ phải đeo trên vai, làm mồi cho đỉa với muỗi, thôi thà đi quách cái cho xong, vậy là tôi lội cho đến sáng trắng.
– Rồi sao nữa?
– Vậy thôi.
– Vậy mà anh cũng báo công với tôi à?
Cô gái đã mạnh bạo lên rồi đó, có thích không? Cô lại trêu tôi:
– Anh có khóc không?
– Sao lại khóc? - Tôi làm bộ giận.
Cô cười để giả lả, hàm răng đều như hột bắp.
– Như vậy là anh còn khá đó. Tôi có gặp một ông trung tá ở trên Rờ về nghiên cứu chiến trường. Gặp tụi tui ông hỏi: “Từ đây về trên Rờ có con đường nào khác hơn không?” Tụi tui nói: “Có thiếu gì”. Ổng mừng quá, ổng lại hỏi, đường nào, muốn theo những con đường đó phải có điều kiện giấy tờ gì để ổng lo trước? Tụi tôi nói: “Đường máy bay với tàu lặn”. Ổng cười rồi ổng nói, ổng đã từng vượt Trường Sơn, vậy mà khi qua đồng chó ngáp thì ổng thấy không có con đường nào gian khổ hơn, chỉ có một đêm thôi mà có đủ mọi thứ gian khổ trên đời. Ổng nói: “Mình là trung tá, chẳng lẽ mình khóc, coi sao được!”. Ông trung tá đó như vậy. Còn tôi? lần nào lội qua đồng chó ngáp tôi cũng khóc. Có những gốc tràm đâm đau điếng, mình không muốn khóc mà cứ chảy nước mắt.
Tôi cười vì thấy cô nói đúng quá. Tôi không khóc, nhưng có mấy lần chảy nước mắt vì bị gốc tràm đâm, nó đâm ở chân mà đau nhói tới tận đầu. Mỗi lần như vậy, tôi đâm quạu với anh Năm Bờ. Quạu vì đôi dép của anh rất vững, có lúc tôi mong cho đôi dép của anh tuột ra một lần cho đồng đều, nhưng đôi dép cứ gắn chặt lấy chân anh, dép với chân, hai cái như dính làm một vậy.
Tôi mới biết xỏ dép kiểu chiến trường đồng lầy khác hơn kiểu xỏ dép ở chiến trường rừng núi. Xỏ dép đi chiến trường đồng lầy, lỗ phải xiên dài theo dép, bốn cái lỗ phải châu gần lại nhau, vừa chắc, vừa bó sát lấy chân. Trước khi đi, cái gì anh cũng bày vẽ cho tôi, chỉ có đôi dép là anh không nói, có ức không?
– Thôi, anh ăn đi chớ, cầm làm gì mà cầm hoài vậy.
– Tôi ăn một mình à?
– Thì anh cứ ăn đi, tôi no rồi - Rồi như giật mình, cô ngoảnh ra cửa chòi.
– Như có tiếng máy bay.
– Tiếng đầm già đó mà, kệ nói - Tôi làm ngon, nói vậy nhưng đã thấy thấp thỏm.
– Anh này chủ quan quá, đây không phải là Rờ, anh xếp đồ đạc vô vách đi, nó thấy là nó bắn đó. Kìa nó tới...
Cô chồm dậy, quỳ xuống, đưa cả hai tay đẩy hai cái bồng và đồ đạc sát vào một góc.
Máy bay trinh sát L.19 mà ta thường gọi là đầm già, tiếng bay của nó kêu “hi hi” đều đều như tiếng rên rỉ, mỗi lúc mỗi to dần.
Rõ ràng là đường bay của nó đang hướng về phía chúng tôi.
Cô giao liên đã đứng dậy, cầm lấy cây CKC, tấm vải dù bông đội trùm qua đầu, cô nép mình vào chòi, đưa mắt nhìn ra.
– Nè anh, nếu nó ở đàng kia thì mình nép vô vách kên kia, nếu nó qua bên này nhìn lại thì mình nép vô vách bên này. Còn nếu nó tắt máy, chúi đầu xuống ngay mình là nó sút hỏa tiễn vô chòi mình đó. Mình phải nổ trước cho nó hoảng thì hỏa tiễn bay chệch qua chỗ khác. Nếu không, nó bắn như để, nghe không?
Tôi thấy cô giao liên có vẻ rối, tôi làm ra bộ tỉnh:
– Sao không làm cái cửa cho kín, chạy qua chạy lại làm gì cho mất công.
– Anh này không biết cái gì hết. Chòi nào có cửa nó cho là có người, nó bắn ngay. Sao anh còn ngồi đó, lớ ngớ quá vậy.
Cô quay phắt lại tôi, rồi lại quay ra cửa chòi:
– Cầm lấy súng đi, nép qua lưng sau lưng tôi đây nè. Mau lên!
Không phải chuyện đùa nữa, nghe cô hét như ra lịnh, tôi vừa chụp lấy cây AK, đã nghe cô lên đạn.
– Lên đạn đi! - Cô lại hét tôi, lúc tôi vừa nép sau gần sát người cô. Con đầm già bay thấp, thấp lắm, là là qua đầu ngọn cỏ, nếu không để ý, nó tới lúc nào không biết, rồi bay ào qua của chòi. Nó hiện nguyên hình với tất cả kích thước to lớn của nó, đen sì. Tôi thấy rõ cả cái đầu của thằng ngồi lái, như cái gáo dừa.
Ở rừng, nó không bao giờ bay thấp được như vậy. Ở chiến trường Sài Gòn hồi Mậu Thân năm 1968, tôi thấy nó bay sà theo mặt đường, nhưng cũng chỉ dám bay qua một lần; còn ở đây, đồng cỏ này nó bay, hai cái bánh xe như bò trên ngọn cây ngọn cỏ. Cỏ lác, sậy, đế xoáy hút theo đường bay của nó. Rồi nó đảo, nó vòng. Rõ ràng là nó nhìn vào từng cái chòi. Nó đang vòng lại.
– Qua bên kia anh.
Hai người nhảy qua, nép sát vào vách. Nó lại ào tới, hiện nguyên hình, đen sì, với cái đầu của thằng lái, lần này, cái cánh đen bè bè của nó rà ngang mái chòi, gió thốc vô, tưởng hai cái mái bị bưng lên.
– Nó có nghi gì cái chòi của mình không?
– Ai biết được!
Tôi nghĩ đến Năm Bờ, chẳng biết ở đâu, có phải vì anh mà nó quần đảo như vậy không?
Nếu lúc nãy cô giao liên không quát tôi, tôi vẫn còn lớ ngớ ở giữa chòi với đống đồ đạc, thì thằng lái khốn nạn đó, nó đã thấy tôi rồi.
Con đầm già đen ấy dai như đỉa, nó chưa chịu cất cánh bay cao; chúng tôi phải chạy qua chạy lại hai bên vách chòi, núp nó như cút bắt. Rồi nó đảo một vòng rộng, từ từ cất cao lên.
– Coi chừng nó sút hỏa tiễn, cứ đưa họng súng ngay nó. Tôi bắn thì anh bắn nghe không, anh cứ đẩy hết băng cho tôi.
Con đầm già tè tè trên đầu chúng tôi, rồi nó tắt máy, nó chúi đầu, nhưng không chúi ngay cái chòi của chúng tôi.
Ca... ô... x... u... ỳ đùng!
Một trái hỏa tiễn. Một đường khói đen từ chiếc máy bay cắm xiên xuống. Một cái chòi, trước mắt chúng tôi, ở đằng kia, phía mặt trời, rất xa, bốc lên một ngọn lửa: một bựng khói đen.
– Cháy ở đâu vậy? - Tôi hỏi.
– Một cái chòi.
– Có ai ở không vậy?
– Không! Nó bắn đúng cái chòi có nhiều đường mòn.
Chắc là cái chòi lớn có những con đường mòn nhẵn, lúc nãy tôi và Năm Bờ đã đi qua. Bắn xong, con đầm già lại tè tè vòng qua, rồi xấp xải bay thẳng.
Cô giao liên tháo đạn ra khỏi nòng CKC, ngồi bệt xuống lớp cỏ, thở phào. Tôi cũng làm như vậy: tháo đạn, ngồi bệt xuống lớp cỏ nhưng không thở phào, mà nhìn cái nốt ruồi son nổi lên trên cái đuôi trái tim của cổ áo cô.
– Ở trên Rờ của anh có cực như vậy không?
– Cực nhưng cực cái khác, đầm già không dám nghênh ngang. Lâu lâu mới bị B.52 với F một lần.
– Còn ở đây có đủ, từ B.52 cho tới tiếng súng của thằng Việt gian hạng bét ở xã. Đừng có dễ ngươi, mấy anh ở Rờ về, có nhiều anh lớ ngớ quá. Tôi định đề nghị với cấp trên như vầy, anh thấy có được không, anh nào vì lớ ngớ mà chết thì trong giấy báo tử nên đề rõ là “hy sinh anh dũng mà lớ ngớ”.
Tôi cười thích thú với câu nói đùa của cô. Cô cũng cười, lấy tấm vải dù bông che miệng.
– Trạm ở đây có một mình cô sao? - Tôi hỏi.
– Tôi có phải là giao liên của trạm đâu?
– Vậy cô là ai? - Tôi ngạc nhiên.
– Tôi là tôi, cũng như anh, tôi đi tự lực, đêm qua, tôi cũng lội trắng đêm, mệt quá, tôi lủi vô cái chòi này.
– Cô nói thiệt hay nói chơi vậy?
– Tôi có nói chơi hồi nào đâu, mà nè, anh đi một mình, sao đồ đạc nhiều quá vậy?
– Tôi đi hai người.
– Còn một anh nữa đâu?
– Ảnh đi chơi đâu rồi, tôi chẳng biết nữa.
– Trời đất! - Bây giờ cô lại ngạc nhiên về tôi - Hay là nó bắn ảnh hồi nãy, mấy anh ở Rờ này lớ ngớ kỳ cục quá. Anh đi tìm ảnh đi chớ.
– Anh đó ảnh không lớ ngớ như tôi, ảnh là người của chiến trường này.
– Ở chiến trường nào cũng vậy, anh đi tìm ảnh đi, đồ đạc để đây tôi coi cho.
Vừa lúc đó, tôi nghe có tiếng rột roạt ngoài vạt đế trước chòi.
– Ảnh về rồi đó - Tôi nói.
Cô giao liên quay ra, rồi bật đứng dậy, kêu lên thảng thốt:
– Trời ơi! Anh Năm. Tưởng ai!
– Bé Ba, em đi đâu đây!
Bé Ba! À tôi nhớ ra rồi, cái tên tôi thường nghe trong những câu chuyện của anh.
Năm Bờ bước vào chòi, vẫn mang kiếng mát đen.
– Hồi máy bay anh ở đâu, anh Năm? - Tôi hỏi.
– Tôi ở đằng trạm, trạm giao liên ở gần đây.
Anh khom người, bước vào chòi, cười với Bé Ba.
Bé Ba vẫn xúc động nhìn anh:
– Sao anh ốm nhom ốm nhách vậy, bây giờ anh đi đâu, sao lâu nay anh không gởi thơ về cho tụi em, anh có được thơ của tụi em với chị Sáu của em không...
Bé Ba hỏi một thôi một hồi, anh không kịp trả lời:
– Còn em, em đi đâu đây?
– Em đưa cán bộ về Tỉnh ủy.
– Bà con mình mạnh giỏi hết hả?
– Mạnh, anh có trở về vành đai của tụi em nữa không?
– Anh phải về Tỉnh ủy, tùy Tỉnh ủy phân công.
– Được, em sẽ đưa anh đi, em sẽ nằm vạ tại Tỉnh ủy, em sẽ đưa anh về.
Hai người cứ lom khom trong chòi, nói chuyện, không kịp ngồi. Năm Bờ xoay qua tôi:
– Đây là anh Thắng cùng đi với anh; còn đây là Bé Ba du kích vành đai.
Đến lúc đó, tôi mới nhớ, hai người trong một cái chòi, nói với nhau cũng khá nhiều mà chưa tự giới thiệu tên cho nhau. Cô gái không để ý đến tôi nữa, làm như tôi không có mặt trong cái chòi chật chội vậy, cô cứ xoắn lấy Năm Bờ. Cũng phải thôi.
– Ông ăn cơm chưa? - Anh hỏi tôi.
– Tôi chờ anh nãy giờ.
– Thôi dọn cơm ăn, vừa ăn vừa nói chuyện.
Tôi mở tấm ni lông đi mưa, xếp làm đôi, trải trên lớp cỏ, dọn cơm.
– Mấy anh có cái gì ăn?
– Thịt dọc.
– Về chỗ tụi em, hai anh thích ăn thức gì, tụi em đãi thức nấy.
– Tôi muốn ăn rùa rang muối. - Tôi vừa bày hănggô cơm và lon thịt lên mâm, vừa nói.
– Rùa thì phải chờ trực thăng đổ quân mới có - Cô nói.
– Tôi nói thiệt mà cô lại nói đùa, đốt đồng bắt nó chớ sao chờ trực thăng.
– Tôi nói thiệt, không nói đùa với anh đâu. Bây giờ mà đốt đồng cho trực thăng nó bắn cháy da à? Nè anh Năm... - Cô không nói với tôi mà nói với Năm Bờ - Hôm anh đi rồi, sau đợt hai, tụi nó bắt đầu phản kích.
Tôi nghĩ là cô đang nói lảng sang chuyện khác. Cô vẫn tiếp:
– Trời tờ mờ đất, nó đem ba đợt B.52, rồi pháo Bình Đức dập vô, trực thăng lại dọn bãi. Một bầy hai mươi mốt chiếc trực thăng, nó quần tới quần lui, bị nó rà sát mặt cỏ, nắp hầm của mấy em thiếu đều bị nó bứng lên. Ôi! Đưng, lác, sậy, đế gì cũng cuộn tròn tròn, khi thì xẹp xuống lúc lại cuốn trốc gốc, cỏ mục với rác cứ cuốn lên; lúc đó, rùa, rắn, trăn, con nào cũng hoảng. Nhiều nhất là rùa, ôi thôi, bị động ổ, nó bò lổm ngổm không biết bao nhiêu mà kể. Lúc đó không chậm như mình nói đâu, bốn cẳng cứ bơi bơi, nó bò qua tay, qua chân, bò qua cả mình tụi em. Có con bò rớt xuống hầm. Lúc đầu còn ham, trực thăng kệ trực thăng, thấy con nào là bắt bỏ hầm con nấy. Sau rồi kệ nó, nó muốn bò đi đâu thì bò. Sau trận càn đó, nhà nào cũng ăn rùa. Nào rùa rang muối, rùa luộc, rùa xé phay, có nhà còn rọng ăn tới mấy bữa sau.
Nghe cô nói chuyện rùa, tôi chợt nhớ chuyện rùa của ông Ba Phi mà bác sĩ Chín kể cho tôi, tôi muốn kể lại với cô nhưng tôi kịp nghĩ, kể lại lúc ấy thật vô duyên. - Thôi ăn cơm đi, ăn đỡ thịt rừng, chừng nào trực thăng đổ quân thì mình ăn rùa. - Cô nhìn lại tôi, cười, rồi vẫn giữ cái lễ độ của một cô gái gia đình, cô giành phần bới cơm cho chúng tôi.
– Chuyện làng mình bây giờ ra sao, em kể cho anh nghe đi. Bà con mình ai còn ai mất, ai ở ai đi?
– Em không kể cho anh nghe đâu, anh cứ về thì anh biết. Em chỉ dặn anh một điều.
– Điều gì em cứ nói.
– Anh phải chuẩn bị một câu trả lời là tại sao lâu nay anh không biên thơ cho chị Sáu em?
Vừa lúc đó, Năm Bờ đưa tay gỡ cái kiếng mát. Tôi thấy cô giật mình khi nhìn thấy vết thương của anh. Cô bàng hoàng, rồi cúi mặt, chống đôi đũa xuống chén cơm như đang mắc nghẹn. Bây giờ, có lẽ cô đã hiểu vì sao anh không biên thư cho chị Sáu của cô. Cô chớp mắt liếc nhìn tôi không nói gì, vẻ ỉu xìu, lặng thinh.
Và tôi cũng bắt đầu hiểu.