Mùa Gió Chướng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10

❊ ❊ ❊

Út Đợ đưa tôi ra khỏi khu vườn, chỗ mấy cô du kích đang lom khom lượm xoài.

Chân mang dép cao su, nhưng khi bước lên con đường tôi vẫn nghe gan bàn chân mình mát lạnh vì hơi đất. Con đường đất! Lần đầu tiên tôi bước chân trên con đường này, nhưng con đường lại thân thuộc với thời thơ ấu cách đây đã hai mươi năm. Con đường đất rộng cặp bờ kinh chạy qua trước sân nhà! Con đường vừa cho chiếc xe ngựa qua lại, con đường lúc nào cũng có tiếng vó ngựa nện đều đều và tiếng lục lạc leng keng... Cũng như bao nhiêu con đường qua những làng khác, bước ngang qua con đường trước mỗi nhà là một cái bến nước, cây cầu, và một chiếc xuồng. Nhưng con đường này bây giờ - dân làng bị xúc đi, chỉ còn là một con đường vắng, dài hun hút. Con đường đầy lá. Và bến nước dài theo bờ kinh vẫn còn những chiếc cầu nho nhỏ đó, không thấy ai múc nước, không thấy ai giặt giũ, không thấy ai ngồi gội đầu, vắng tanh. Lác đác trên một vài bến nước, vẫn hãy còn cái gáo dừa cán dài móc trên cột cầu nằm đó.

Hai đứa đi trên con đường vắng, qua những ngôi nhà đổ nát, qua những khu vườn cháy, đi ngược lại chiều con nước, con nước buổi sáng từ dòng sông Cửu Long đổ vào, căng đầy, ngầu đục chất phù sa.

Một nỗi buồn tê tái xâm chiếm lấy tâm hồn tôi, tôi muốn thoát khỏi. Tôi gợi chuyện:

– Út Đợ, chú có vợ con gì chưa vậy? - Tôi hỏi và liếc nhìn tấm ảnh của cô gái đang chao qua chao lại trong cây đèn chai của anh.

– Không có thằng Mỹ hề thì tôi làm đám cưới rồi!

– Chú nói sao! - Tôi hỏi và quay sang nhìn Út Đợ, xem anh chàng vui tính này nói đùa hay nói thật. Mỹ thì Mỹ, sao lại có Mỹ hề? Hai người vẫn sóng vai nhau đi trên con đường vắng.

– Ở trên Rờ, anh có nghe nói hai thằng Mỹ hề ở chiến trường này không?

– Mỹ thì ai mà chẳng nghe nói, còn Mỹ hề thì tôi không nghe. Tôi cũng chưa nghe anh Năm Bờ nói lần nào.

– Mỹ hề có cách đây mới hai năm thôi, sau khi anh Năm về trển.

– Sao lại là Mỹ hề, hả?

Tôi lại quay nhìn Út Đợ.

– Vậy mới có chuyện nói chớ!

– Ừ... a. Sao nói nghe.

– Sau đợt tổng công kích năm sáu mươi tám thì xuất hiện hai thằng Mỹ hề...

Tôi lại quay nhìn Út Đợ, xem anh nói thiệt hay nói chơi.

Từ khi tôi về đến làng này, đã mấy hôm rồi, nhưng tôi vẫn ngỡ ngàng. Từ cảnh đến người, cả những điều nho nhỏ khác, như con cá vồ, con khô sặc, trái xoài non, trái xoài chín, vốn quen thuộc đối với tôi; bây giờ gặp lại, tất cả cái gì cũng khiến cho tôi xúc động. Mấy cô du kích có lúc thấy tôi như một người ngớ ngẩn. Sáng nay, trước khi họp, cô du kích bé nhất - Út Trầm - chắc có một cô nào đó bày cho cô, tự dưng cô chạy đến tôi, đưa cho tôi một trái cau tươi, bảo:

– Anh Thắng, ăn đi, ngon lắm, ngon lắm!

Tôi chưa kịp hiểu thì cô Thảnh tiếp:

– Anh ăn đi, nhưng ăn xong thì đừng có nổ súng bắn tụi tôi nghen!

Rồi các cô nhìn tôi, có lẽ tôi đang ngơ ngác, các cô đấm vào vai nhau, cười rũ ra, cười đến đỏ mặt, tía tai.

Tôi chẳng biết gì cũng cười theo, thấy vậy, các cô càng cười to hơn. Út Trầm cười đến chảy nước mắt. Bé Ba đỏ mặt ngượng thay cho tôi. Còn Sáu Linh thì quay nhìn chỗ khác, tủm tỉm một mình. Một hồi sau, mấy cô gái mới giải thích cho tôi. Khi quân Mỹ đổ xuống Bình Đức, dùng tàu mủ chạy dọc theo sông Cửu Long, cái bọn mũi lõ mắt xanh râu ria lông ngực thấy cái gì ở xứ này nó cũng lạ. Một hôm có hai thằng Mỹ ngồi trên xuồng máy chạy trên sông thấy một bà chở cau ra chợ. Nó cho nổ máy nhỏ, cặp theo chiếc xuồng cau của bà. Hai thằng: thằng già, thằng trẻ, cả hai đều chồm qua xuồng của bà, mỗi thằng vớ lấy một buồng cau, mắt sáng rỡ. Nó “ô kê, ô kết” gì đó như con vịt kêu càm cạp, bà đoán là nó hỏi mua, bà nói:

– Cau để ăn trầu, ăn không được.

Thằng Mỹ, hai thằng lính ấy có biết gì đâu, nó đưa lên ba ngón tay ý chừng là trả ba đồng. Bà lắc đầu.

– Để ăn trầu, ăn không được, mua làm gì?

Nhưng nó có nghe có biết gì đâu, hai thằng nhìn nhau, xòe cả năm ngón tay đưa lên. Bà cũng lại lắc đầu, vừa giảng giải vừa đưa tay làm như ngoáy trầu cho nó thấy.

– Cau này để ăn trầu, ăn không được đâu, chát ngầm hè, một đô la tôi cũng không bán. - Bà nói to hơn, tưởng như nói to thì nó nghe thấy vậy. Nó ngu chứ có điếc đâu, mà bà nói lớn! Nó tưởng bà chê rẻ. Hai thằng lại nhìn nhau, nói với nhau, thằng nhỏ lại xòe cả hai bàn tay, đủ mười ngón, đưa lên.

– Cau ăn trầu chớ không phải xoài đâu mà mua.

Thằng Mỹ già banh hai con mắt đục ra nhìn bà. Thằng nhỏ móc ví bóp, móc tiền ra, ném đại vào xuồng của bà, rồi mỗi thằng chụp lấy một buồng cau, xô xuồng, nổ máy chạy băng ra giữa sông. Biết là nó mua lầm, may là cũng vừa tới đầu vàm, bà khom lưng bơi riết vô kinh.

Hai thằng Mỹ đó lầm thiệt, ra tới giữa sông, nó bẻ cau, đưa lên miệng, cắn, chát ngầm. Tức mình, nó nổ súng bắn đuổi theo...

– Hồi sáng là chuyện trái cau, bây giờ là chuyện Mỹ hề, hả chú? - Tôi hỏi.

– Tôi nói thiệt, tôi có là con gái đâu mà chọc anh.

– Ờ thiệt, thiệt thì kể đi.

– Chuyện đó đầu đuôi như vậy nè. Sau trận tổng công kích Mậu Thân năm một ngàn chín trăm sáu mươi tám, thằng Mỹ chỉ huy căn cứ Bình Đức nó nói: “Vi Ci đánh du kích, Mỹ cũng đánh du kích”. Mấy người thông ngôn nói với dân, dân nói lại với mình. Từ đó, ngày nào cũng vậy, khoảng bốn năm giờ sáng, trời còn mờ đất, có ba chiếc trực thăng chớp đèn đít, lạch cạch bay, từ Bình Đức bay tận xuống đây, rồi bay xa nữa, đâu đâu chẳng nhìn thấy, nó quần, nó đảo, hết chỗ này, đến chỗ khác. Trong ba chiếc đó có một chiếc hạ thấp thả xuống hai thằng Mỹ. Hai thằng Mỹ đó, đố anh thấy nó được. Nó mặc quần áo xanh lá cây, mặt mày nó cũng sơn màu lá cây. Từ trên trực thăng nhảy giò xuống, nó mới lủi vô sậy, vô đế, lủi vô ruộng, lủi vô vườn, “quánh” du kích với mình.

– Vậy thì sao gọi là Mỹ hề?

– Hề là vì mặt mũi nó vẽ, vẽ rằn vẽ rện như hề, người ta mới gọi là Mỹ hề.

– À. Té ra là như vậy.

– Hề còn có cái nghĩa khác nữa, nhưng để chút nữa rồi tôi nói. Có cái thằng, mà nó làm rối loạn cả một vùng. Nó nằm phục ở đâu đó, bất thình lình nó nổ một phát, giết một người, rồi nó lủi mất. Quần áo, mặt mũi nó tiệp màu với cây cỏ, không ai lùng được. Nó bắn không lựa chọn gì hết. Không phân biệt bộ đội, phân biệt già trẻ gì ráo. Nó chủ trương giết được người trong vùng giải phóng mình, gây hoang mang là được. Nó không dám nổ súng nhiều. Nó bắn bằng carbin, nó chỉ nổ một phát, “bép” một cái, giết một người, rồi lủi mất. Mai nó ở làng này, mốt nó ở làng kia, lúc ở xa, lúc ở gần, khi ở ngoài đồng, khi ở trong vườn... Có hai thằng mà tưởng như ở chỗ nào cũng có nó. Từ Bình Đức xuôi về đây, ngày nào cũng nghe có người chết vì hai thằng Mỹ ôn binh dịch vật đó. Nó không dám bắn bộ đội, cũng không dám đụng đầu với du kích, nhè dân mà nó bắn. Đi đâu người ta cũng nơm nớp. Người ta sợ nó hơn sợ cả pháo đĩ? Anh biết pháo đĩ là pháo gì nữa không đó?

Pháo đĩ là tiếng pháo do bọn con gái điếm bắn chơi. Pháo đó chẳng theo một quy luật gì của chiến tranh, không giờ giấc, nổ vào những lúc bất ngờ, chẳng biết đâu mà tránh.

– Sao lại không biết. Sao nữa, kể tiếp đi.

– Hai thằng Mỹ ôn binh dịch vật đó quấy rối như vậy từ bốn năm giờ sáng cho tới tối. Trời vừa sâm sẩm thì ba chiếc trực thăng lạch cạch bay tới, bay là là trên mặt bãi, quăng dây kéo nó lên. Nó thả giò mỗi ngày mỗi chỗ khác nhau, mỗi chiều nó rước về, cũng mỗi chỗ khác nhau, chẳng biết đâu mà phục mà đánh. Nó có vô tuyến liên lạc với nhau mà.

Nó lộng hành quá. Ban chỉ huy vành đai, rồi huyện đội, xã đội ra lệnh cho bộ đội, ra lệnh cho du kích phải diệt cho kỳ được hai thằng Mỹ chó đẻ đó.

Hai đứa đang say chuyện, trời chuyển lúc nào chẳng để ý, đến lúc mưa đổ hạt mới biết. Hai đứa mở bao ni lông, choàng qua người, đi ngược lại chiều gió.

– Sao nữa? - Tôi hỏi.

– Du kích thì phải có dân mới sống, mới hoạt động được Đằng này nó không có dân mà nó dám đánh du kích với mình, mình thua nó sao?

– Nói cho đúng chữ, không phải đánh du kích mà phải gọi là đánh lén.

– Ừ đúng, đánh lén, đánh lén, phải! - Út Đợ thú vị với cái từ mới ấy, anh bước nhanh, giọng càng hào hứng.

Nói vậy chớ không phải dễ. Một hôm nó nổ súng bắn người gần đại đội địa phương quân. Đại đội liền mở vòng vây, vây chặt cả một vùng nó mới nổ súng. Tụi tôi chắc mẻm là nó tới số rồi. Chỗ nào rậm rạp thì nổ súng bắn. Rồi dậm như dậm cù. Vậy mà cũng không tìm được nó. Chiều lại, trời vừa sâm sẩm tối, ba chiếc trực thăng lạch bạch bay tới. Một chiếc rà xuống quăng dây, hai thằng nằm trong đám lác, cách chỗ dậm cù chẳng bao xa, chạy ra, đeo dây, leo lên trực thăng, bay thẳng về Bình Đức. Anh nghĩ có tức không? Rồi một hôm nó lại nổ súng giết một cô gái mười tám tuổi đang chèo xuồng giữa trưa, ngay con kinh này. Nghe tin đó, tụi tôi kéo hết du kích, cả dân trong xóm, vây chặt hai bên bờ kinh, lùng sục từng bụi cỏ. Rồi sâm sẩm tối, hai thằng lại leo lên trực thăng bay đi. Cô gái chèo xuồng giữa kinh là vợ chưa cưới của tôi! Nếu không thì Tết này, hai đứa tôi làm đám cưới rồi!

Hai người vẫn đi ngược lại chiều gió. Gió cuốn những hạt mưa, từ đâu chẳng biết, ném xuống từng hạt vào người, vào mặt hai đứa tôi. Trên gương mặt góc cạnh của Út Đợ có vài hạt mưa như những giọt nước mắt vỡ tan. Anh đi nhanh hơn, bàn chân anh nện mạnh hơn, nghe rõ tiếng dép nện bem bép xuống mặt đường. Tôi lại nhìn cây đèn chai của anh. Tấm ảnh của cô gái đầu đội nón lá, mặc chiếc áo bà ba đen đang chao qua chao lại và lúc nào cũng bên anh trên mọi ngả đường.

– Sao, rồi mình có diệt được nó không? - Tôi sốt ruột, cố hỏi to để phá tan sự im lặng.

– Không diệt được nó thì làm du kích làm gì? Tôi tự hạ quyết tâm, nếu không lùng được hai thằng chó đẻ đó, thì tôi, tôi sẽ ra tận Bình Đức, sẽ giết nó trước khi nó leo lên trực thăng. Sau đó ban chỉ huy xã đội năm xã dọc theo sông Cửu Long này họp lại, phối hợp chiến đấu. Nửa đêm, du kích của năm xã đều ra đồng, chia ra từng tổ, nằm phục sẵn trong những bãi nó thường đổ quân.

Trời tờ mờ sáng, ba chiếc trực thăng chớp đèn đít, lạch cạch bay vào, nó chia ra mỗi chiếc một nơi cách nhau hằng cây số. Nó sà xuống chỗ này, nó đáp xuống chỗ khác, rồi cất lên, lại quần đảo, nó cứ quần đảo như vậy đến nửa giờ. Một chiếc sà xuống, lướt qua đám đế ngay chỗ tôi. Tôi lom khom nhìn theo nó mà người cứ run lên. Tôi thủ cây bá đỏ, đạn lên nòng, sẵn sàng, nó mà nhảy xuống là tôi nổ ngay. Nhưng rủi cho tôi, tôi nằm phục ngay cái bãi nó dùng để nghi binh. Ở một bãi khác, cách tôi không xa, một chiếc trực thăng vừa sà xuống lại bay lên rất nhanh. Sau này, nghe anh em chỗ đó nói lại, vừa thấy thằng Mỹ từ trên nhảy xuống, anh em định chờ cho trực thăng bay xa, nhưng trực thăng vừa cất cao lên thì thằng Mỹ lủi đâu mất. Lúc đó mà bắn thì bị lộ - Còn ở một bãi khác, chiếc trực thăng quần đảo rất lâu, sà xuống cất lên, lại sà xuống cất lên đến mấy lần, lần cuối cùng nó sà lướt qua một vạt đế, thằng Mỹ hề từ trên trực thăng vừa nhảy xuống, chân chưa chấm đất nó bị lấy họng không kịp ngáp. Chỗ đó là chỗ của Sáu Linh và thằng Châu. Sáu Linh với thằng Châu cùng nổ một lúc. “Bằn” một viên trúng đầu, một viên trúng ngực. Chiếc trực thăng vừa thả giò liền quay lại, bắn. Hai chiếc khác cũng bu lại. Năm người, năm cây súng giữa đồng trống làm sao đánh lại ba chiếc trực thăng. Tôi liền kéo anh em chỗ tôi đạp đế, băng đồng, chạy tới, tiếp viện. Cánh đồng dài theo năm xã, tất cả du kích đều nổ súng. Nó quần đảo xa gần gì cũng bị súng dưới mặt đất bắn lên. Nó hoảng, nó kêu tụi F đến rắc bom bi. Tụi F vừa tới thì du kích tụi tôi cũng vừa bám được địa hình.

– Mình có ai làm sao không? - Tôi hỏi.

– Người nào cũng bị thương.

– Dữ vậy?

– Nhưng không phải bị thương vì bom vì đạn của nó. Bị thương vì sậy đế, người nào người nấy, sậy đế, đưng lác cắt nát mặt nát mày hết.

– Vậy là mình giết được có một thằng?

– Chưa hết. Còn cái thằng lủi mất đó, nó sợ, nó không dám bắn ai nữa. Mà cũng không ai biết nó lủi đi đâu. Nhưng nó tới số. Nó gặp một em nhỏ đi đào dế câu cá. Em nhỏ mười hai tuổi, chú đi đào dế ở trong vườn. Thằng Mỹ hề đó lủi vô vườn hồi nào, ai biết? Nó ngồi co ro trong bụi rậm. Chú nhỏ mười hai tuổi nghe tiếng dế gáy re re, chú cầm cái xuổng đi tới. Thấy hang dế, chú cắm cúi đào, đào gần tới, con dế cơm từ dưới hang búng lên cái tách, thoát khỏi tay chú. Con dế búng nhảy vô bụi rậm. Vậy là chú nhỏ bắt gặp thằng Mỹ. Chú nhận ra được nó là nhờ hai con mắt mở trừng trừng của nó. Như mọi lần thì nó bắn chú nhỏ rồi. Bữa đó nó sợ. Thấy hai con mắt xanh lè của nó, lúc đầu chú tưởng là mèo nhà ai. Nhìn kỹ, chú thấy cái nòng súng. Chú nhỏ muốn bỏ chạy. Nhưng thằng Mỹ tới số, chú làm tỉnh, chú trở lại cái hang dế, chú đào, chú móc như chẳng có việc gì xảy ra. Xong cái hang dế đó, chú lại đào cái hang khác. Bỏ đi ngay, sợ nó nghi, mà chỗ đó thì hết hang dế rồi. Chú mới nghĩ: thằng Mỹ thì biết gì cái chuyện đào dế, có phải thằng ngụy đâu. Khôn quá!

– Con nít bây giờ khôn lắm.

– Nghĩ như vậy, chú ngồi xuống cạnh đó, đào đại xuống đất một hồi. Một lúc, chú mới bỏ đi, nhưng cũng không bỏ đi xa. Chú đào một chỗ khác xa hơn, có ý cho thằng Mỹ nhìn thấy. Cứ như vậy mà chú đi xa dần, rồi đi khuất con mắt của nó, trước khi chạy đi báo, chú còn nghêu ngao ca một câu vọng cổ cho nó nghe nữa. Vừa xuống chữ hò, là chú cắm đầu cắm cổ chạy về. Thằng Mỹ đó tới số. Chị Sáu với du kích tụi tôi chưa kịp phân tán. Bọn tôi lập tức bủa vòng vây, cả dân xóm, người súng, người gậy, người cuốc, người phảng, người dao, giậm như giậm cù; nghĩa là, tụi tôi vạch từng cọng cỏ. Nó không thể thoát. Anh biết nó làm sao không? Quýnh quá, thấy con mương vườn, tưởng con mương sâu, nó vụt chạy rồi nhào xuống, định trầm mình rồi lặn mất. Có ngờ đâu, nó vừa lao xuống thì đầu cắm xuống bùn. Tới nước cùng, nó vùng dậy, giơ súng bắn. Nhưng súng đã nổ vô đầu nó trước rồi.

– Anh bắn, hay ai bắn?

– Tôi bắn thì còn nói gì. Tôi vừa bóp cò thì nó đã giãy đành đạch rồi. Có tức không?

– Ai bắn cũng vậy, giết được nó là được.

– Biết vậy, nhưng nếu tôi bắn được nó trước, thì vong linh của vợ tôi mới hả. Ông bà mình nói: vong linh người chết còn lại trong vong linh của mình. Mình thấy hả thì vong linh người chết được hả theo, mình chưa hả thì vong linh người chết còn ấm ức. Nhiều đêm tôi nằm nghĩ như vậy - Tôi nói tiếp: nó quậy cái mương vườn bùn đất nổi lên như trâu đầm. Kéo cái xác nó lên, thấy nó bận hai lớp áo, một lớp nó vẽ sậy vẽ đế, một lớp nó vẽ lúa vẽ lá cây. Hai lớp áo, bốn mặt vải, mỗi mặt nó vẽ mỗi kiểu khác nhau, giống hệt. Còn mặt của nó thì rằn rện, thấy có màu đất, màu lá tươi, lẫn lá khô lá chết. Mỗi thằng có hai cây súng, một cây carbin, một cây lục, với cái máy bộ đàm.

Không liên lạc được với nhau, thằng chỉ huy Bình Đức biết sự thể như thế nào rồi. Nó khôn trật đời. Nó làm như chẳng có gì xảy ra. Nó bắt hai thằng lính Mỹ khác, vẽ mặt vẽ mày y như vậy. Chiều, nó cho lên trực thăng cũng quần đảo, sà xuống cất lên như mọi chiều. Về tới Bình Đức, nó thả hai thằng Mỹ hề giả đó xuống, tuyên truyền với dân chúng là hôm nay Vi Ci kéo về một trung đoàn đánh với hai thằng Mỹ hề, hai thằng Mỹ hề diệt của Vi Ci gần một đại đội, và trở về an toàn. Đó, hai thằng còn y nguyên đó!

Nó quên là nó còn hai cái xác của hai thằng Mỹ hề ở đây. Ở trên Rờ của anh ra làm sao tôi không biết, còn ở đây, chiến trường này, thằng Mỹ có điểm khác hơn thằng ngụy ở chỗ: thua gì thì thua, nó cũng không bỏ xác lại chiến trường. Lấy không được xác thì nó ném bom cho cháy sạch để phi tang. Lần đầu tiên, nó phải để lại hai cái xác nguyên vẹn.

Nghe tụi nó tuyên truyền là hai thằng Mỹ hề vẫn trở về an toàn, tụi tôi ức lắm. Trong xóm có ông già Hai Cờ. Ông già đem cho con cá vồ đêm anh mới về đó, anh nhớ không? Ông già vui tính lắm. Nghe đồng bào ấp chiến lược nói vậy, ông đến xã đội xin hai cái xác của hai thằng Mỹ hề. Anh biết ổng làm gì không? Ổng đổ tro lên chiếc xe bò, rồi cho hai thằng Mỹ lên nằm trong đống tro. Sáng sớm, ông đánh xe ra ấp chiến lược, chiếc xe bò chở hai cái xác của hai thằng Mỹ hề cứ lọc cọc chạy theo con đường đá dọc theo sông. Đi đến đâu ông cũng nói, ông đem xác Mỹ hề trả cho Mỹ. Dân chúng hai bên đường chạy ra hỏi, ra xem. Ông vừa đưa cây roi chỉ hai thằng Mỹ hề nằm trên đống tro, kể cái chuyện nó đánh lén giết người, kể tên từng người chết vì nó, rồi kể cả chuyện du kích đánh nó như thế nào... Chiếc xe bò của ông cứ lọc cọc đi trên đường, qua làng, qua xóm. Gần tới chốt Mỹ, ông làm một xị, lấy rượu làm nư, ông đánh chiếc xe bò tới ngay cổng gác của nó. Ông nhờ người thông ngôn nói: “Tôi thấy người Mỹ chết mà chẳng có ai chôn, tội nghiệp, tôi chở ra cho mấy ông”.

– Nó có làm gì ổng không? - Tôi hỏi.

– Không. Lúc đó nó đang mị dân.

Thằng đại úy ra tiếp ông, móc bóp cho mười đô la, ông cầm đô la nói: “Tiền này là tiền của dân tôi, tôi lấy lại, chớ không phải là của Mỹ”. Người thông ngôn không dám dịch lại, thấy vậy ông không chịu đi. Cuối cùng, người thông ngôn phải nănnỉ: “Thôi bác, bác lấy mười đô la về uống rượu, nói đi nói lại với nó làm gì”. Ông già tức mình, to tiếng với người thông ngôn: “Chú thông ngôn lại lời của tôi chớ chú có nói đâu mà chú sợ, hả”. Người thông ngôn quay lại thằng Mỹ, ô cà ô kê gì đó, ổng mới chịu đi. Ổng nói với tụi tôi: “Tao biết thằng thông ngôn nói cái gì đó thôi, nhưng thây kệ cha nó, thằng thông ngôn nghe là được rồi, không thì nó tưởng mình ham tiền, mà mình bỏ thì nó nói mình ngu”.

– Sau đó còn thêm thằng Mỹ nào như vậy nữa không? - Tôi hỏi.

– Thôi! Nó hoảng cha, nó thôi luôn cho tới ngày cuốn gói.

– Nè, hai thằng Mỹ đó nó sơn mặt sơn mày như vậy thì phải gọi là Mỹ ma hay Mỹ quỷ gì mới phải, chớ sao gọi là Mỹ hề, lúc mới nghe tôi tưởng nó làm hề cho người ta cười.

– Cái mặt của nó, nó có làm hề mình cũng không cười được. Hề mà tôi nói lúc đầu là nói theo người không biết chữ. Còn người biết chữ thì hiểu theo cái nghĩa khác. Anh biết chữ Nho không?

– Không.

– Ông Hai Cờ ổng biết. Cái hòm chở xác hai thằng Mỹ hề trên chiếc xe bò đi tuyên truyền chiến thắng trở về, ổng làm gà đãi du kích, uống ba hột hừng hừng, ổng mới cắt nghĩa cho tụi tôi nghe. Ông ngồi chồm hổm đầu bịt khăn khấc, ông nói: “Mấy cháu giết được hai thằng Mỹ hề, hỏi vậy mấy cháu ngồi đây, đứa nào biết được chữ hề là giỏi lắm đó, chữ hề viết như vầy nè!”. Rồi ổng đưa lên một ngón tay vẽ quằn quện như vẽ bùa. “Mấy cháu thấy chưa? Chữ hề này là chữ Hán. Hề chữ Hán có nghĩa là ôi, và vậy là vậy thay. Mỹ hề là Mỹ ôi, Mỹ vậy, Mỹ vậy thay, Mỹ ôi ôi”. Ông vừa cắt nghĩa vừa gục gật cái đầu bịt khăn khấc, tụi tôi cười muốn nôn ruột. Ông còn nói thêm: “Thằng Mỹ ngựa, thằng Mỹ ăn cắp, thằng nào cũng là Mỹ hề tuốt!”. Anh có nghe nói thằng Mỹ ngựa không?

– Kể đi! - Tôi vừa giục vừa rảo bước theo Út Đợ. Đi trên con đường vắng, nghe chuyện cũng đỡ mỏi chân.

– Ừ... à! Tôi kể cho anh nghe. Thằng Mỹ nào mà chẳng có tên. Nhưng cái tên nó, muốn nói phải vặn mồm bẻ miệng, nói nghe như đớ lưỡi, khó lắm. Thằng Mỹ này nó tên gì, thây kệ cha nó. Đồng bào đặt cho nó cái tên: “ngựa” là vì nó chạy như ngựa vậy. À! Cái tụi lính Mỹ mặt mày nó làm sao mà khó đoán tuổi quá. Mặt thằng nào cũng sần sần, không ra trẻ cũng không ra già. Thằng Mỹ ngựa này cũng vậy, mặt nó sần sần, cao như cây tre miễu. Nó hay đi ruồng một mình, một mình một cây súng, nó ruồng qua xóm này rồi đến xóm khác, nó ruồng theo vườn, lội qua sông.

– Du kích mình đâu mà để nó tung hoành như vậy? - Tôi hỏi.

– Nó chỉ ruồng trong ấp chiến lược với mấy cái xóm chung quanh cái chốt của nó. Lâu lâu, bất thình lình nó mới chọt ra ngoài một cái, rồi ù chạy về. Tôi nói là nó chạy như ngựa mà.

– Ừa.

– Vậy đó. Cái gì ăn được là nó lấy. Gặp vịt bắt vịt, gặp gà bắt gà. Mãng cầu xiêm, vú sữa, hoặc đu đủ, thấy trái nào chín là đưa tay hái, thồn vô túi quần. Nó thích nhứt là vịt. Gặp vịt hãng người ta nuôi ở ngoài đồng là nó rượt bắt. Nó định bắt con nào thì con đó đừng hòng thoát khỏi tay nó. Tôi nói là nó chạy như ngựa mà! Nó đụng lựu đạn gài của du kích mấy lần mà không chết. Đang đi, vấp phải dây là nó vụt chạy, lựu đạn nổ cái đùng là nó đã chạy ra khỏi tầm rồi, giỏi vậy. Ở xứ này, người mình, ở Mỹ Tho có chị Gấm là nhanh không thua nó. Một hôm, nó thấy cô gái đi lượm củi ở trong vườn. Nó rượt bắt. Nó chạy như ngựa, làm sao chạy kịp nó. Nó bắt được. Nó vừa hiếp vừa bóp cổ người ta. Dân ấp chiến lược khiêng xác cô gái đi đấu tranh. Nó phá làng phá xóm dữ quá. Phải triệt nó. Ban chỉ huy xã đội phái tôi đi. Anh Năm Bờ ảnh không nói cho anh chuyện đó à?

– Không, kể tiếp đi.

– Ờ! Ra ấp chiến lược, tôi cải trang làm thằng chăn vịt. Tay cầm roi đầu đội nón lá, tôi đuổi một bầy vịt ra đồng. Tôi thấy nó từ xa, cao lêu nghêu như cây tre miễu, quần áo rằn ri, cây carbin bá xếp nó cầm trong tay, thấy nhỏ xíu như đồ chơi. Nó rà tới, đứng bên cạnh tôi, người tôi dềnh dàng như vầy mà chỉ đứng tới ngực nó. Nó ô kê ô ka gì đó, tôi chỉ cái đám vịt cho nó. Nó cứ dòm tôi, dường như thấy một người lạ. Nó lật cái áo của tôi lên. Biết nó không nghe được tiếng mình, tôi mới chửi nó: “Đ... mẹ mày, tao là du kích, bữa nay tao giết mày để trả thù cho đồng bào tao, mày biết chưa?”. Nó nhăn răng cười rồi nhảy ào xuống ruộng. Bầy vịt cạp cạp chạy tứ tung. Nó rượt nó đuổi, nó chụp nó bắt. Tôi cúi xuống, dỡ đống cỏ, ngay dưới chân, cắn chốt lựu đạn. Lựu đạn nổ một cái đùng. Nó thì giãy, vịt thì chạy. Tôi cũng ba chân bốn cẳng rút lui. Pháo nó bắn theo, thôi khỏi phải nói!

– Nó chết?

– Chết.

Hai đứa tôi lại cắm cúi đi.

– Tôi muốn ra ngoài sông, được không? - Tôi chợt hỏi sau một lúc im lặng, câu hỏi của tôi không dính dáng gì đến câu chuyện của mấy thằng Mỹ anh đã kể.

– Anh đi chưa được đâu.

– Chú có thường ra ngoài không?

– Lâu lâu tôi chọt ra một lần.

– Đã sắp tới chưa?

– Đêm, trời động thì ở đây nghe được tiếng sóng.

– Vậy!

Con đường cặp bờ theo kinh chạy dài ra bờ sông Cửu Long, vẫn vắng tanh. Trên con đường chỉ có hai đứa, khoác ni lông, đi ngược lại chiều gió, cùng với những câu chuyện của anh.

Nguyễn Quang Sáng Tiểu Thuyết MÙA GIÓ CHƯỚNG Thực hiện ebook : hoi_ls Rút trong tập “NGUYỄN QUANG SÁNG Tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chí MinhNhà xuất bản Văn học 2007
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.