Thế là tôi ở dưới nhà bè cùng với Trần Hoài Sơn với tư cách là bạn của anh. Có lẽ tôi đóng vai ấy không đến nỗi tồi, không có một tên cảnh sát nào đến tra hỏi giấy tờ, khiến cho Trần Hoài Sơn và cả tôi, hai đứa đều vững bụng. Cái nhà bè bập bềnh dưới sông, cách xa mọi người, nhờ đó mà chúng tôi sống thoải mái, nói năng cũng không phải dè dặt. Tôi ở buồng bên trái, anh ở buồng bên phải, phòng giữa là phòng chung của hai người. Cơm mỗi ngày hai bữa do một cô gái mười bốn mười lăm tuổi - đứa ở của bà Út Nhỏ từ trên nhà bưng xuống.
Đứng dưới nhà bè, qua cửa sổ vách sau của căn buồng, tôi có thể nhìn thấy cả xóm đình. Nhà ông Sáu Đương nằm khuất trong vườn chuối, ngôi nhà sàn nhỏ của bà Chín dưới bóng cây xoài bên kia đưòng, nhà sàn lớn của thằng Long với hàng rào lá lưõi cọp, con đường trải đá chạy qua làng với những chiếc xe qua lại, dãy nhà chen chúc hai bên đường và cây lá trong vườn cây ăn trái.
Mỗi ngày ba lần, buổi sáng, buổi trưa và buổi tối, tôi nhờ Trần Hoài Sơn đưa tôi qua các con đường vòng theo chi khu bằng xe Hon đa. Tôi có nhiệm vụ điều tra cách bố phòng của quân địch! Tôi nhìn bằng con mắt của người dân “hợp pháp”. Còn Phải, anh nhìn cách bố phòng của quân địch bằng con mắt của một chiến sĩ đặc công.
Đến chuyến đi lần thứ chín của ngày thứ ba - và qua sự dò hỏi, tôi đã khẳng định được tình hình bố phòng của quân địch.
Vào giữa trưa, lúc vắng người, tôi đến nhà ông Sáu Đương, liên lạc với Năm Bờ.
Ông Sáu Đương một ông lão hơn tám mươi, đôi mắt đã lòa nhưng vẫn cường tráng. Ông chỉ mặc một cái quần đùi, người ông trông dẻo dai như sợi mây già. Ông ngồi trên bộ ngựa, vót nan. Nghe tôi hỏi, ông ngước đôi mắt lòa nhìn tôi, sau khi nhận ra ám hiệu, ông bảo thằng Hải đi chơi. Chú bé Hải cũng như ông lão, mình trần, chỉ mặc một cái quần đùi ngả màu cháo lòng. Trước khi bước ra cửa nó tròn mắt nhìn tôi một hồi lâu. Có lẽ nó đã nhận ra tôi, người ở dưới nhà bè, và cũng có thể là thói quen, nó cần nhìn tôi cho kỹ để tả lại hình dạng một ngưòi lạ cho ông ngoại nghe. Chẳng hiểu nó nghĩ gì mà nó quay lại nhìn tôi toét miệng cười.
Năm Bờ đang nằm trong buồng cách tôi một tấm vách chằm bằng lá, mới nhìn qua, tấm vách như đã nát nhưng không thấy một kẽ hở nào.
Nghe tiếng động bên trong, tôi biết anh đang cựa mình ngồi dậy.
– Sao ông Thắng? - Giọng của anh vừa mừng rỡ vừa sốt ruột.
– Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét của Phải. Bố phòng của nó là bố phòng cố định. Bọn nó không sửa sang cũng không tu bổ gì thêm. Nó chỉ thay hình đổi dạng bằng ánh sáng. Ánh sáng mỗi đêm mỗi khác.
– Chắc không ông Thắng?
– Chắc! - Tôi đáp lại dứt khoát và tự tin.
– Chừng nào anh Năm? - Tôi hỏi lại anh.
– Chắc là nay mai, tôi đoán không thể lâu được nữa. Tìm cách đưa anh Sơn ra vùng mình càng sớm càng tốt. Phải bảo vệ ảnh. Hễ thấy thằng Long về nhà, Thắng báo ngay với Sáu Linh giùm tôi. Nếu không gặp tôi ở đây, ông liên lạc với cơ sở hai.
– Dà...
Báo cáo xong, tôi chào ông Sáu, chào thằng Hải đi trở xuống nhà bè.
Trần Hoài Sơn ngồi xếp bằng trên chiếu bông trải ra ở phòng giữa trước chồng bản thảo, đợi tôi.
– Bữa nay anh thấy hứng không? - Anh hỏi tôi.
– Để làm gì?
– Tôi muốn đọc cho anh nghe một vài chương.
Ba hôm cùng sống vói anh, vì tâm trí đang đổ dồn vào công tác, tôi không có thời giờ tìm hiểu thêm cuộc đời của anh. Nhờ sống chung một nhà - cách biệt với mọi ngưòi, tôi có dịp hiểu rõ anh hơn, đôi điều về cách sống và cách làm việc của anh. Chiều nào anh cũng ra chợ mua báo - báo hàng ngày của Sài Gòn. Báo để trên bàn làm việc, báo để trên giường ngủ, báo để rải rác khắp cả nhà, chỗ nào cũng thấy báo - Báo Điện tín, Sóng thần, Tiền tuyến, Chính luận, Tin sáng, Dân chủ mới, Trắng đen... báo nào cũng có... Là người làm báo tôi tưởng anh cần những tò báo ấy như cơm ăn nước uống, không có nó anh không thể sống nổi, nhưng anh chỉ cần mua, cần thấy mặt chớ chẳng bao giờ đọc - Có thể nói như vậy! Tôi chưa hề thấy anh đọc một bài nào từ đầu cho đến cuối. Cầm tờ báo lên, anh lướt qua các đầu đề rồi ném đi một cách giận dữ, khi ném ngang, khi ném xuống, rồi chộp lấy tờ khác lại ném đi. Rồi cũng không buồn xếp dọn cho gọn. Có tờ vô phúc bị chà đạp dưới bước đi của anh. Theo anh những cơ quan ngôn luận ấy là những cái miệng, những cái miệng nói dối. Anh ví ngòi bút của họ là cái lưỡi, cái lưỡi của một tâm hồn vẩn đục, cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo. Tôi thấy anh phủ nhận những tờ báo ấy có phần quá đáng! Trong trăm ngàn những tờ báo dối trá ấy, ta có thể lọc ra những lời chân thật của một tâm hồn trong sáng. Tôi nghĩ, nhưng chưa đến lúc tranh cãi với anh. Anh phủ nhận tất cả. Qua đó tôi hiểu anh hơn. Tôi nhớ, hôm tôi với anh Năm Bờ được tin anh vào vùng giải phóng, Năm Bờ tưỏng sẽ nổ ra một cuộc tranh luận gay gắt về những quan điểm khác nhau. Anh cứ băn khoăn, không hiểu Trần Hoài Sơn sẽ đặt ra những vấn đề gì và sẽ đối đáp ra sao? Đến lúc gặp nhau thì khác hẳn. Theo cách nói của Trần Hoài Sơn, những cuộc tranh luận ấy đã xảy ra từ lâu ngay trong bản thân anh. Sau những cuộc tranh luận dai dẳng tự thân đã ngã ngũ rồi, anh mới tìm đến chúng tôi. Anh vào vùng giải phóng là nhờ sự thật để chứng minh! Và sự thực: du kích đi hái xoài cho dân, chuyện gia đình ông Hai Cò, sự tiếp xúc giản dị và chân thật của chúng tôi, và những sự thật mà anh hiểu đã chứng minh cho anh. Từ đó theo cách nói của anh, anh quyết định: dấn thân!
Anh thèm khát được nói sự thật của cuộc sống mà mình lăn lộn đến đắng cay! Từ ngày tách mình ra khỏi nó, quay mặt nhìn lại nó, như anh nói, anh thấy bộ mặt thật của nó rõ hơn. Anh bực bội, anh tự trách mình đã bị nó ràng buộc đến hơn nửa cuộc đời! Bây giờ, anh thấy mình được tự do, được nói. Và anh đang nói, anh đang nói bằng ngòi bút của mình - anh viết say mê! Khi cần phải đưa tôi đi, anh mới rời khỏi bàn viết, nhưng đầu óc anh vẫn để lại trên trang giấy. Trở về nhà, anh bước vào bàn viết một cách vội vã. Đêm, anh ngồi viết đến hai ba giờ sáng, có đêm anh ngồi viết đến sáng trắng. Anh làm
việc đến phờ phạc, nhưng đôi mắt lúc nào cũng tỉnh táo, và cái môi dưới của anh lúc nào cũng run run như sắp sửa nói một điều gì.
– Tôi đang viết một chương khó như vượt núi! - Đầu hôm anh nói với tôi như vậy. Trước khi vào bàn, anh chuẩn bị nào cà phê, nào thuốc, một vài món ăn đêm. Và anh đã “đánh vật” vói nó suốt cả đêm.
Bây giờ, anh muốn đọc cho tôi nghe như con gà đẻ xong cần phải cục tác! Tôi hiểu và thông cảm công việc của anh nhưng không đủ tâm trí để nghe. Lòng dạ tôi đang để vào trận đánh sắp xảy ra, tôi chờ đợi đến bồn chồn! Nhưng tôi không muốn làm cho anh mất hứng.
– Đi tắm cho mát mẻ rồi hẵng đọc - Tôi rủ anh.
Suốt ba hôm ở chung với anh, anh chưa tắm lần nào. Có lẽ anh mê viết. Nghe tôi rủ, anh đồng ý ngay. Anh cởi cái máy ảnh dính cả trên vai anh lúc ngồi viết, dằn lên chồng bản thảo.
– Phải, tắm cho tỉnh táo cái đã.
Anh cởi áo, thay đồ tắm. Anh quơ tay, quơ chân, ra vẻ hăm hở, nhưng lại sợ nước như người bị sốt rét.
Anh ngồi trên bậc cầu thang, vỗ vào cái ngực gầy hai ba cái rồi mới dám hụp xuống. Kỳ cọ sơ sịa, chưa đâu vào đâu, anh đã nhảy lên, choàng lấy khăn. Còn tôi, tôi lặn ngụp như con rái. Tôi biết rằng, không còn mấy hôm nữa, không biết ngày nào, có thể đêm nay, cũng có thể là đêm mai, đêm mốt hay đêm kia, sau trận đánh, tôi sẽ đi. Cũng dòng sông này, hơn hai mươi năm trước, trong thời thơ ấu, mỗi ngày hai lần, cùng vói lũ nhỏ hàng xóm chúng tôi lặn hụp, đùa giỡn đến tái cả môi. Ngày ấy lũ nhỏ chúng tôi chưa biết mắc cỡ, tắm hãy còn ở truồng, bây giò tóc trên đầu đã có vài sợi bạc. Suốt hơn hai mươi năm, tôi có dịp đi qua nhiều con sông trên khắp mọi miền đất nước, tôi chưa thấy đâu đó có con sông mênh mông mà hiền hòa như con sông này. Sông Cửu Long! Tên sông gợi cho người đi xa một nỗi thương day dứt! Nước sông ngọt ngào. Nước sông tưới mát cho cánh đồng và vườn tược hai bên bờ. Nước sông như dòng sữa mẹ của cỏ cây và con người. Trong lúc tôi lặn sâu xuống đáy nước mát lạnh, tôi chợt nhớ đến ông bạn bác sĩ già. Ông đang ao ước được uống lại một ngụm nước của con sông!
Tôi trồi lên, thấy Trần Hoài Sơn đang đứng tựa lan can gọi tôi. Tôi lấy hơi, lặn xuống một lần nữa, lặn thật sâu, áp mình xuống mặt cát lạnh...
Tắm xong, cả hai đều sảng khoái! Tôi ngồi ngửa người, hai tay ra sau, nhìn ra cảnh mênh mông của con sông, sẵn sàng nghe anh đọc.
– Tàn bạo thay! Là nhân chứng của lịch sử, tôi đã chứng kiến cái chết của một nữ tù nhân, tuổi mới vừa tròn hai mươi! - Tôi ngạc nhiên vì âm thanh phát ra từ trong giọng đọc khác thường của anh. Giọng anh hơi run run, nghe nghẹn ngào, nhưng rõ từng lời, trầm hẳn xuống, ấm áp vừa gợi lại vừa xa... Niềm xúc động đang hiện lên đôi mắt vẻ mặt và đôi môi run run của anh.
– Chị bị bắt vì tội gì, không ai hiểu vì chính bản thân chị, chị cũng không hiểu nổi! Những đòn tra tấn cực kỳ dã man và cảnh sống cay nghiệt của nhà tù đã làm tổn thương trái tim non trẻ của chị. Chị thường bị ngất khi bị kích động - trái tim tổn thương của chị không thể tiếp nhận một tin buồn hay một tin vui. Nhưng cảnh ngộ của chị thật éo le! Bọn giặc bắt cả người yêu của chị. Chúng tra khảo một ngưòi mà thành hai. Chúng tra khảo chàng trai ấy trước mặt chị! Chị bị chết ngất vì nỗi đau của người yêu. Nhưng chị là một người can trường, là dòng dõi của Trưng Nhị. Khi tỉnh dậy, chị vẫn không hé một
lời khai. Thâm độc hơn, chúng hành hạ chị bằng một tin vui! Một hôm chúng gọi chị và người yêu của chị lên phòng tra. Tên đao phủ tuyên bố: “... Hôm nay, hai anh chị được tự do, được trở về làm đám cưới”. Đột ngột đón nhận lấy tin mừng, chị té xỉu! Và lần này chị không dậy được nữa! Chị chết vì một niềm vui giả dối...
Trần Hoài Sơn hai tay cầm tập bản thảo đưa lên, xúc động và trang trọng!
Tôi chưa nghe anh đọc, chỉ mới nghe anh nói để mở đầu, chưa hiểu văn chương anh ra sao, nhưng trước mắt tôi và cả anh, đó là tấm gương sáng. Chính những con người ấy đã giúp cho anh nhìn thấy cuộc sống, dẫn dắt và đang thôi thúc bước chân anh! Tôi thấy anh gần gũi với tôi hơn. Và anh lại nói trước khi đọc.
– Đây mới là phác thảo đầu tiên. Sau này nếu có thời giờ, tôi sẽ viết lại thành một câu chuyện dài với nhiều tình tiết. - Anh cầm bản thảo đưa lên mắt, say sưa đọc thì có tiếng động. Có bước chân của ai đang nhún nhảy trên thanh ván mỏng bắc từ trên bờ xuống nhà bè.
Trần Hoài Sơn vội xếp bản thảo để vào cái bìa cứng màu xanh, có đề một dòng lớn mực đen: “Bằng chứng của người làm báo”.
Người xuống nhà bè là vợ của đại úy Long. Một ngưòi phụ nữ trẻ, một con, dáng mảnh khảnh trong bộ bà ba, quần đen áo phin trắng nõn, nước da trắng xanh với đôi mắt buồn xa lạ và ngơ ngác. Cái mũi của cô không xứng với gương mặt nhỏ và đôi môi mỏng lúc nào cũng chúm chím muốn cười. Cái mũi hơi to và dẹp.
Chúng tôi chào và mời cô ta ngồi. Trần Hoài Sơn tiếp cô với vẻ niềm nở.
– Anh có thư của nhà tôi! - Cô ngồi xuống bên mép chiếu, vẻ e dè, nói và trao thư cho Trần Hoài Sơn.
– Cô bồng cháu lên thăm ảnh mới về?
Buổi trưa dưới nhà bè vắng lặng, chỉ có tiếng sóng vỗ quanh bè và tiếng gió thổi ù ù.
– Dạ không! - Cô ta đáp - Bữa nay tôi không đi, thằng nhỏ tôi bị sốt! Tôi phải bồng nó trên tay từ đêm tới giờ này, hai tay tôi rụng rời hết.
– Cháu đau làm sao vậy cô? - Trần Hoài Sơn hỏi.
– Bà Chín nói là cháu bị sốt mọc răng. Đầu răng sốt, cuối răng cũng sốt! - Cô nói giọng mệt mỏi.
– Cháu đã đỡ chưa.
– Cháu đang ngủ. Tôi gởi cháu cho cô Út con bà Chín. Tội nghiệp cô ấy, đẹp lại hiền, vậy mà bị điếc.
– Không mang cháu lên cho ảnh, chắc ảnh sốt ruột lắm!
– Kệ ảnh, biết làm thế nào được, ảnh không về thì thôi, ai hơi sức đâu mà bồng con vô đồn vô bót cho ảnh hoài vậy!
Trần Hoài Sơn cầm lá thư của đại úy Long trong tay nhưng chưa vội xem. Thư gửi cho anh, nhưng người sốt ruột, muốn biết nội dung ấy có lẽ là tôi. Qua lá thư tôi có thể đoán hiểu thêm một vài điều.
– Hai anh chừng nào về Sài Gòn? - Cô ta hỏi. Tôi nhường lời cho Trần Hoài Sơn.
– Có lẽ không lâu. - Trần Hoài Sơn đáp.
– Còn anh? - Cô hướng sang tôi.
– Tôi cùng về với anh Sơn.
Cô tắc lưỡi:
– Mấy hôm nay tôi muốn đưa con về Sài Gòn cho yên nhưng ảnh không cho. Hôm qua, hai ngưòi mới cãi nhau.
– Sao lại cãi nhau? - Trần Hoài Sơn hỏi, vẻ ngạc nhiên.
– Tôi một mực đòi bồng con về Sài Gòn. Ảnh lại không cho. Ảnh nổi quạu, ảnh bảo tôi, tôi muốn về thì cứ về một mình, còn con thì để lại cho ảnh. Tôi thì tôi cứ nói với ảnh, tôi là mẹ, tôi đẻ ra nó, tôi có thể xa anh chớ không thể xa con tôi được đâu! Tôi nghĩ, đứa con như cái cầu bắc qua sông vậy anh, chính nó đã nối liền sự ngăn cách của đôi bờ! Sao anh cười? Chừng anh có vợ, có con, rồi anh sẽ biết!
Nói đến đó, cô xếp chân, ngồi bó gối, nhìn ra sông. Dòng sông mênh mông nhưng vắng lặng, không có một cánh buồm, cũng không có một con thuyền.
– Nghĩ về hạnh phúc lứa đôi của con ngưòi thật kỳ lạ. - Cô nói với giọng xa xôi, như không phải nói với chúng tôi, mà nói với những ngọn sóng bạc đầu ngoài xa khơi kia trên giữa dòng sông.
– Tôi có bao giờ ngờ là cuộc đồi lại bị bó chân ở đây. Trước khi tôi lấy ảnh, tôi có biết ảnh là ai đâu! Trong thời học sinh của tôi, tôi có yêu một người cùng trường, học trên tôi hai lớp. Hai người yêu nhau nhưng chưa bao giờ nói. Yêu mà nói, tình yêu ấy không sâu bằng tình im lặng! Một ngày không thể vắng nhau được. Một ngày mà không nghe được tiếng nói của nhau, người cứ thẫn thờ như mất hồn. Chúng tôi hiểu và yêu nhau đến hai năm! Rồi một hôm ảnh đến chia tay với tôi. Ảnh đi! Ảnh đi vào vùng giải phóng...
Tưởng câu chuyện sẽ còn dài, nhưng nói đến đó, cô bỗng đứng phắt dậy:
– Ngồi đây tôi sẽ lảm nhảm như con điên! Thôi tôi về.
– Cô ngồi chơi, về làm gì vội! - Tôi nài cô ngồi nán lại, muốn hiểu rõ cô hơn. Cô đứng trù trừ, muốn ngồi xuống rồi vội quay đi.
– Thôi tôi về, hai anh ngồi chơi...
Trần Hoài Sơn đưa cô ra đến thanh ván bắc lên bờ. Nghe qua tiếng động của thanh ván, tôi biết cô đã lên bờ. Trần Hoài Sơn trở lại và kể tiếp cho tôi nghe câu chuyện dở dang của cô:
– Sau đó một năm, người yêu đầu tiên của cô ấy bị hy sinh. Ở đây, không có người để trò chuyện, cô ấy thường hay tâm sự với tôi. Cô lấy thằng Long ít nhiều cũng có tình yêu. Người anh thứ hai của cô ta cũng là sĩ quan của lính dù, cũng bị thất thế bị ra rìa. Cô ta yêu thằng Long qua lời kể của ông anh về một ngưòi bạn ngông cuồng. Khi thằng Long từ Bảy Núi về Sài Gòn, hai người bất ngờ được gặp nhau...
Chuyện đời của cô ta, Trần Hoài Sơn nghe chắc đã nhàm tai, cô không có gì hứng thú đối với anh nữa, anh vừa nói vừa đọc thư của Long. Đọc xong, anh trao lá thư ấy cho tôi, rồi ngả lưng, nằm xuống chiếu. Thư của thằng Long viết, chữ nghiêng, viết bằng mực màu tím.
Cher ami!
Hơn một tuần nay, chúng ta không gặp nhau. Mấy lần, mình định viết thư khuyên Sơn nên trở về Sài Gòn, nhưng mình nghĩ lại. Sơn có mặt ở đây, một vùng bình định ở bên bờ sông Cửu Long trong dịp này kể cũng lý thú. Sơn sẽ có dịp chứng kiến một cuộc tranh chấp của đôi bên. Nhưng rất tiếc, điều ấy lại không xảy ra ở đây, trước mắt Sơn. Phải nói là những cuộc hành quân nghi binh của đôi phương đã lừa được tôi, đã giam tôi trong công sự chỉ huy, hơn tuần nay, tôi không thể bước chân ra khỏi công sự chỉ huy này. Tình hình như một quả bóng căng thẳng, chẳng biết lúc nào thì nổ. Họ tiến quân về phía của tôi, nhưng chiến sự lại nổ ở một nơi khác, cũng trên bờ sông này, cách đây gần năm mươi cây số, ở một chi khu nằm trong địa giới tỉnh Định Tường. Họ như những làn sóng. Nhưng tiếc thay những làn sóng ấy lại đập vào một quả núi. Sóng đập mạnh bao nhiêu thì tan ra thành bọt bấy nhiêu. Tiếc là chiến sự không xảy ra ở đây trước đôi mắt của một nhân chứng lịch sử.
Cho đến hôm nay mình mới thở được, một hơi thở dài khoan khoái. Cho đến bây giờ mình mới có thời giờ nghĩ đến vợ con và bạn bè. Thôi vài lời vắn tắt. Tôi sợ Sơn chán cái cảnh sống ở đây và bỏ đi! Sẽ gặp lại nhau.
Đọc qua lá thư, tôi không thể băn khoăn. Đúng là chiến sự đã xảy ra, và sự chuẩn bị của chúng tôi ở đây là động tác nghi binh?
Xuất phát từ nhận định ấy mà tình hình từ sáng đến giờ đã dịu hẳn đi? Pháo không nghe bắn. Hoạt động của máy bay phản lực cũng như trực thăng giảm sút đến mức im lặng. Hoạt động của quân địch đã chuyển về một hướng khác, tiếng bom pháo từ xa vẳng lại rền như tiếng sấm.
Tôi đọc lại lá thư, cảm thấy bực bội vì những lòi kiêu căng của hắn.
Tôi trao lá thư lại cho Trần Hoài Sơn và dò xét thái độ của anh. Trần Hoài Sơn tỏ ra hững hờ vói lá thư. Anh nằm, cầm lá thư bằng hai ngón tay, khép lại, đút vào túi. Ba hôm nay, tôi thấy, anh không để tâm đến một cái gì ngoài tập bản thảo của anh. Lá thư rơi ra ngoài túi, anh cũng không hay biết. Tay cầm cây bút mực đỏ, tập bản thảo không rời khỏi mắt anh. Anh bôi, anh xóa, anh ngước đầu lên, viết thêm một vài chữ. Vào những lúc khác, tôi để yên cho anh làm việc, nhưng lúc này, lá thư của thằng Long bắt tôi phải dò hỏi:
– Như vậy là đại úy Long có thể về nhà?
– Tối nay. - Anh đáp nhưng vẫn đọc bình thản.
Cái tin ấy khiến cho tôi phấn chấn đến kỳ lạ.
– Sao anh biết? - Tôi hỏi.
– Hồi nãy, lúc tôi đưa ra cầu, cô ấy nói với tôi. Cô ấy hỏi tôi với anh muốn ăn món gì, để tối nay cô ấy lo.
– Vậy! Anh nói sao?
– Ăn gì mà chẳng được! Gặp nó, anh thấy có ngại gì không? - Mãi đến lúc ấy, tập bản thảo mới ròi khỏi mắt anh. Anh để tập bản thảo xuống chiếu, xoay người ngồi dậy.
– Cũng bình thường - Tôi đáp- Tôi sẽ cố gắng tự nhiên.
– Cuộc gặp gỡ đêm nay, tôi, anh và nó - Anh cố nhấn mạnh tiếng tôi, anh, và nó - ba ngưòi trên những trận tuyến khác nhau, ngồi cùng một bàn, một mâm, sau này nhớ lại kể cũng thú vị hay hay.
Tôi không nghĩ đến sự thú vị của cuộc gặp gỡ mà phải báo ngay cho Sáu Linh.
– Có lúc nào, đại úy Long dao động đến mức muốn đầu hàng chúng ta không? - Tôi nhấn mạnh hai tiếng chúng ta để giữa tôi với anh không có sự cách biệt. Tôi muốn anh đứng hẳn về phía chúng ta, ít nhất là trong câu chuyện anh sắp nói.
– Có.
– Lần nào?
– Có một lần, lúc nguy khốn nhứt của anh ta. Hồi tôi mói về đây chơi lần đầu, hàng chục năm hai đứa mới gặp lại nhau. Có một đêm, không biết làm gì hai đứa ngồi uống rượu suông, nhân kể lại những kỷ niệm cũ, anh ta có kể lại với tôi. - Qua giọng nói của Trần Hoài Sơn, tôi hiểu, tâm trí anh đã thực sự dứt khỏi tập bản thảo của anh, anh kể với giọng chưa thật say mê nhưng không đến nỗi hững hò, anh gọi Long là anh ta không có vẻ ác ý, anh nói:
– ...Từ Phú Quốc, anh ta bị chuyển về Bảy Núi với chức trung úy đồn trưởng của một cái đồn, dưới tay có hơn bốn mươi tên lính. Theo anh ta nói thì đó là một xứ khỉ ho cò gáy. Dân chúng là những ngưòi thuộc đạo Hiếu Nghĩa. Đàn ông không được cạo râu, để tóc như đàn bà. Họ nói với nhau bằng một thứ ngôn ngữ riêng. Có nhiều tiếng phải kiêng. Ví như đường thì phải nói là nẻo, đường để ăn phải nói là ngọt, đèn phải nói là dầu, nếp phải nói là dẻo. Bàn theo kinh sấm, họ nói gần nói xa, bọn lính của anh ta là quỷ dương. Họ sống âm thầm, xa lánh. Người cùng một dải núi mà như người của hai thế giới khác nhau! Anh ta kể, có một lần, súng cối trong đồn bắn vào xóm, giết chết một người đàn bà. Họ không chống lại bằng những cuộc biểu tình, mà chống lại bằng im lặng. Họ khiêng quan tài qua cửa đồn, hàng trăm người chít khăn tang, họ đi, mắt đỏ ngầu, nhưng lặng lẽ, không hề gây ra một tiếng động. Bước chân của họ êm như bước chân một con hổ đang bước nhẹ đến con mồi! Rồi suốt trong ba ngày, chợ không nhóm, đường không người qua lại. Người không nói không cười, không khóc. Không có một tiếng búa đốn cây, không có một tiếng dao động thớt. Chỉ thấy khói nhang trước bàn thờ thông thiên của mỗi nhà nghi ngút suốt ngày đêm! Cái đồn của anh ta và bản thân anh ta bị bao vây trong sự im lặng rùng rợn. Anh ta thú thật với tôi, lần đầu tiên trong đời, anh ta hoảng sợ trước đối phương!
Cái đồn của anh ta đóng giữa một cái vùng núi mà mỗi nhà là một một chùa. Nhà nào cũng có chuông có mõ. Chiều, khi hoàng hôn đổ dài xuống chân núi thì nhà nhà đều gõ mõ gõ chuông. Rồi nửa đêm, đêm hoang vắng của một vùng heo hút, tiếng chuông lại rền qua vách núi. Tiếng chuông khuya như xốc dậy trong lòng anh ta một nỗi ê chề.
Du kích sông lẩn lút trong lòng núi. Súng thường nổ bất thần, nghe đó, thấy đó, rồi cũng mất đó! Anh ta nghĩ, cuộc đời mình đang bị chôn sống ở đây, cái chết đang day dứt rỉa rói cuộc đời mình. Cái thói chơi ngông để giải sầu không có đất sống. Anh ta đâm liều, anh ta muốn nhận một viên đạn của du kích! Bọn lính của anh ta tiêu phí thời gian, tiêu phí tâm lực và cuộc đời bằng rượu và con bạc đỏ đen... Lúc nghe anh ta kể, tôi nghĩ, người lính con cưng của một chế độ bị đày đọa đến thế là cùng! Hoàn cảnh như tôi, hay bất cứ ai, cũng phải tìm một lối thoát. Chết là một lối thoát cuối cùng! Mỗi ngày, sau khi uống một vài chén rượu, anh ta thoát ra khỏi cửa đồn, đến với dân xóm. Theo anh ta kể, anh ta đi không có bảo vệ, cũng không mang súng. Bị bắn cũng được, bị bắt làm tù binh của đối phương, đối với anh ta, đó cũng là một lối thoát. Gặp anh ta, người ta không hỏi, cũng không chào. Anh ta cảm thấy mình xa lạ với con người đến nỗi có lúc phải tự nghĩ: mình là quỷ dương thật chăng? Nhưng may. Có một cô gái! Một cô gái dong dải, cũng âm thầm như những người khác, vẻ xanh xao với đôi mắt mở to. Đôi mắt ấy nhìn anh ta đăm đăm, nhìn với vẻ xót thương. Giọng thỏ thẻ thì thầm như giọng nói trong một giấc mơ, cô ấy hỏi thăm quê quán và cuộc đời lính của anh ta. Gần một năm trời ngoài những tiếng thô lỗ cộc cằn của bọn lính, lần đầu tiên anh ta mới nghe lại tiếng nói của con người, tiếng nói của một người con gái! Đêm trong đồn, trong tiếng gió núi thổi hun hút, đôi mắt mở to ấy lại hiện ra và tiếng nói thỏ thẻ thì thầm ấy lại vẳng đến tai anh ta, khiến anh ta trăn trở, không yên! Từ đó, anh ta không thể vắng được vẻ mặt xanh xao với đôi mắt mở to ấy.
Ngày nào anh ta cũng lần xuống xóm. Theo anh ta, anh ta tự ví mình như một kẻ lạc đường trong đêm tối đang lần về một tia sáng. Dù là một tia sáng nhỏ lập lòe, nhưng đó là tia sáng trong đêm tối. Anh ta cảm thấy mình có gượng sống được là nhờ tia sáng ấy.
Anh ta gởi cho cô gái một lá thư, than thở về cuộc đời lính của mình. Buổi chiều sau đó mấy hôm, sau khi chia tay với cô gái dưới sườn núi, cô gái đặt vào tay anh ta một phong thư.
Về đồn, ngồi một mình, anh ta thận trọng như lần đầu nhận được thư của ngưòi con gái, anh ta xúc động, anh ta hồi hộp. Phong thư mở ra, và anh ta sững người. Trong phong thư, không phải là thư phúc đáp lời tỏ tình của anh ta, phong thư là một lá truyền đơn bằng ba ngón tay in hai hàng chữ đậm: “Hỡi anh em binh sĩ ngụy quyền! Hãy trở về với nhân dân! Hãy trở về với Tổ quốc!”.
Anh ta tưởng, sau khi trao lá truyền đơn ấy, cô gái sẽ lánh mặt. Anh ta sợ mất tia sáng nhỏ trong cuộc đời tăm tối của mình. Không nghĩ gì, cũng không sợ gì nữa, anh ta đâm đầu trở lại xóm. Cô gái vẫn còn đó, vẫn ngồi trên cái chõng như mỗi khi anh ta đến chơi. Và vẫn đôi mắt mở to ấy nhìn anh ta, nồng cháy hơn, vẫn cái giọng thủ thỉ ấy lại nhỏ nhẹ, êm ái hơn và cứng rắn hơn. Rồi sau đó hai hôm, bất thình lình anh được lệnh chuyển về Sài Gòn. Theo lời nhờ gởi của anh ta trước đó, một số bạn bè còn ít nhiều vai vế trong bộ tham mưu vận động cho anh ta. Anh ta chuyển đi trong cái lúc mà anh không ngờ tới.
– Sau khi biết cô gái ấy là người của Giải phóng thì tâm trạng của anh ta thế nào? - Tôi hỏi.
– Trong lúc kể, anh ta tránh nói đến tâm trạng của mình. Mà tôi cũng không hỏi, nhưng tôi hiểu, rõ ràng là anh ta đã yêu cô gái ấy. Anh ta kể, ngồi trên trực thăng, nhìn lại cái xóm nhỏ dưới chân núi, anh ta vẫn còn thấy lại vẻ mặt xanh xao với đôi mắt mở to ấy. Theo anh ta nói, anh ta vừa đau khổ, vừa mừng rỡ vì đã thoát khỏi cái ánh sáng chập chờn trong vòng vây của đêm tối! Theo như anh nói, phải lấy đàn bà trị cái bịnh đàn bà! Về đến Sài Gòn, anh ta đi lấy vợ, vợ của anh ta bây giờ đó. Nhờ bạn bè giúp đõ, và nhân chuyện “Việt Nam hóa chiến tranh”, anh ta được cất nhắc lên chức đại úy.
– Và bây giờ anh ta muốn lập công? - Tôi hỏi.
– Đúng vậy! Theo anh ta nói, anh ta đang muốn lập lại cuộc đời.
Anh ta đã phản bội lại người con gái đã dang tay cứu lấy cuộc đời của anh ta, và bây giờ anh ta đang lập lại cuộc đời bằng con đường gây tội ác. Nhưng anh ta đã lầm! Lầm! Tôi lại chợt nhớ đến nội dung lá thư của anh ta gởi cho Sơn. Ngay trong lá thư ấy, anh ta cũng lầm, đang lầm! Chiến sự xảy ra đêm qua ở một chi khu thuộc tỉnh Định Tường nhất định không phải là mặt trận chính, đây, tại làng Mỹ Hương này. Hôm tôi đi, bộ đội đã lần lượt kéo về, đang ém quân - Và đội nữ pháo thủ của Mai cũng về rồi! Nơi nào có pháo, nơi đó là mặt trận chính! Tôi nghĩ, mọi sự chuẩn bị của chúng tôi, đây mới là mặt trận chính. Còn đó chỉ là một trận đánh nghi binh mà thôi! Tôi quật ngược lại nhận định của anh ta.
Ý nghĩ ấy như đốt cháy trong người. Tôi ngồi trước ngọn gió mát của con sông mà người lại nóng ran như ngồi bên bếp lửa.