Đoan bồng con đứng tựa cửa nhìn ra. Đêm mưa, đưòng vắng. Ngoài sông, sóng đã chồm lên mặt bờ, đập ầm ì. Gió thổi lạnh. Đoan đặt thằng con ngồi vào giữa chõng, bước vào, nói thỏ thẻ qua vách buồng:
– Trời đang mưa, Sáu dặn thằng Tòng kỹ không?
– Kỹ.
– Tụi trời đánh, chắc thế nào tụi nó cũng tới. Thôi, nằm đó nghen.
– Tối rồi, sao chưa đốt nhang?
– Ừ mấy bữa nay mình quên.
Đoan trở ra, bồng con, đốt một nắm nhang có gần một chục cây, cắm vào lư hương. Khói nhang ngùn ngụt như bếp hun muỗi.
Đoan là bạn cùng xóm với Sáu, lớn hơn Sáu ba tuổi, theo chồng ra bờ sông đã ba năm. Sau ngày sanh nở được ba tháng, hai vợ chồng ra riêng. Con chưa đầy năm, chồng bị bắt lính, bị đưa ra tận A Sầu, ngoài Huế. Tay nách con, không làm được gì, ruộng đất cũng không có. Đoan nhờ bên chồng, mỗi người một ít làm vốn mở tiệm “chập bô” bán tương, đưòng, nước mắm, hành tỏi... với rượu. Từ A Sầu, chồng gởi về cho một lá thư, rồi biền biệt gần năm. Một hôm, thằng đại diện Phiến cho người mang tới cái giấy báo tử. Sau đó có một anh hàng xóm, cùng một ngày lính, cùng đơn vị, thân tàn ma dại, bộ quần áo rằn ri, một ống quần lép kẹp, gió thổi phất phơ, chống cây nạng, trở về:
– Chị Đoan ơi! Chị nghe tin của anh chưa?
– Rồi! Anh có thấy xác ba nó không? Chào chú đi con. Hay là nhà tôi cũng như anh mà ngưòi ta báo lầm.
– Tôi rủi mà may. Chưa hành quân thì tôi bị một miểng pháo. Còn ảnh, xác làm sao thấy được. Tôi nghe mấy đứa chạy về nói. Ảnh nằm ngay cái chỗ máy bay đồng mình rắc bom hủy diệt. Làm sao thấy xác được.
Vậy là chắc rồi. Cô mang tấm ảnh ra chợ, mướn thợ vẽ, họa lại to ra, rồi lập bàn thờ, thờ chồng.
– Ngày ảnh đi, khóc - Ngày được thơ ảnh từ A Sầu gởi về, khóc - Ngày nhận được giấy báo tử, khóc, - Ngày anh bạn hàng xóm cho tin, khóc. Đoan khóc, khóc mãi mà không hết nước mắt. Đến ngày lập bàn thờ - không hy vọng gì nữa, nước mắt lại nhiều hơn!
Một hôm, bà Chín đi đâu đó, tạt qua chơi, thăm sức khỏe thằng nhỏ. Bà hỏi:
– Mày được tin gì chưa Đoan?
– Tin gì mà được, dì Chín?
– Thằng chồng mày còn sống.
Đoan mừng đến tái người, đứng sững ngưòi, nhìn bà một hồi, mới bật ra tiếng:
– Sao dì biết? Thiệt không dì Chín! Thiệt không dì Chín? - Cô mừng đến rối ruột rối gan.
– Mày ngồi xuống đi, bình tĩnh, tao nói đầu đuôi khúc ngọn cho mà nghe.
– Dạ, cháu ngồi. Con ngồi im, ngồi im nghe bà nói. -Cô vẫn chưa bình tĩnh, nói ngồi mà vẫn đứng, bồng con trên tay mà bảo con ngồi im.
– Tối qua tao đi thăm vợ thằng Bảy Thá xóm trong, tao gặp con Sáu.
– Sáu nào dì Chín?
– Sáu Linh chớ Sáu nào nữa.
– Dì gặp được con Sáu? Nó khỏe mạnh. Xóm trong bây giờ làm sao mà dì gặp được con Sáu?
– Nửa mình, nửa nó.
– Rồi sao. Tin ba nó làm sao dì Chín?
– Con Sáu nó nhờ tao nhắn với mày là chồng mày còn sống. Chồng mày bị quân giải phóng bắt, có chết đâu!
– Thiệt vậy hả dì Chín? Rồi sao nữa, dì? Con Sáu nó gặp ba nó hay sao dì Chín?
– Chồng mày bị bắt ở ngoài kia, con Sáu làm sao gặp được. Con Sáu được tin là nhờ vậy. Trong chỗ con Sáu, xã đội của nó có một cái ra-đi-ô ghi âm. Con Sáu phân công cho con Thảnh hàng ngày phải nghe đài theo dõi tin tức. Hôm đó con Thảnh nghe chồng mày nhắn tin cho mẹ con mày...
– Anh nói trong máy hả dì, đúng tiếng của ảnh không gì? Con ơi, con có nghe bà nói gì không con?
– Tao có nghe đâu mà biết. Con Sáu sợ mày không tin, nó gởi luôn cái này cho mày.
– Cái gì vậy dì Chín?
Đoan nhìn theo bàn tay bà Chín đưa vào túi lấy ra cái gì đó gói trong chiếc khăn trầu sọc đỏ. Bà mở cái khăn ra.
– Cái băng ghi âm đây. Trong này có tiếng nói của chồng mày. - Bà Chín thấy Đoan đưa tay cầm cái băng ghi âm như đứa trẻ nhỏ đang đói đưa tay cầm lấy cái bánh.
Đoan để cái băng ghi âm tròn màu cánh gián trong lòng tay, nhìn không chớp mắt, ngực thở phập phồng. Nhìn một lúc lâu lại áp cái băng vào tai:
– Biết ai có ra-đi-ô mà nghe nhờ dì Chín?
– Mày nhớ xem, xóm mình ai có.
– Có thì thiếu gì người có, nhưng toàn là bọn nó.
– Hay là như vầy. Nếu không nhờ nhà ai được thì bồng con vô chơi nhà vợ chồng thằng Bảy Thá, nhắn với con Sáu nó đem máy ra.
– Được vậy thì tiện nhất. Dì làm ơn giúp cho cháu, nhắn với con Sáu giùm cho cháu một tiếng.
– Chuyện gì chớ chuyện đó thì tao giúp được. Mày tính xem ngày nào thì mày đi.
– Ngay tối nay được không dì, cháu sốt ruột quá! Dì làm ơn giúp cháu một phen.
– Để tao tính lại coi. Mà thôi, cũng được.
Ngay đêm đó, Đoan mượn chiếc xuồng gắn máy đuôi tôm, cùng với bà Chín vào nhà vợ chồng anh Bảy Thá, xóm trong.
Cái ra-đi-ô có băng ghi âm màu đen để trên bàn bên ngọn đèn. Đoan với con, với cả nhà anh Bảy Thá, bà Chín, Sáu Linh, Thon, Thả và người hàng xóm ngồi chật trên bộ ngựa. Đoan ôm con vào lòng, ngồi trước, sát bên ra-đi-ô. Thảnh ấn nút. Tiếng máy chạy rè rè, cái băng màu cánh gián chạy tháo ra, bật lên tiếng nói:
– Tôi là Huỳnh Văn Sơn nhắn cho vợ là Lê Thị Đoan xã Mỹ Hương thuộc tỉnh Long Châu Sa. Em và con yêu quý. Trong trận càn vùng căn cứ rừng A Sầu, anh được quân Giải phóng bắt. Nhờ lượng khoan hồng của Mặt trận Dân tộc giải phóng và Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, anh được bình an, được đối xử tử tế, được ăn uống đầy đủ, được học tập để biết đường ngay lẽ phải. Hôm nay anh nhờ Đài phát thanh Giải phóng, nhắn tin này cho em, cho con, cho ba má, bà con họ hàng hai bên cùng bà con hàng xóm. Hôn em và hôn con! Huỳnh Văn Sơn...
Nước mắt Đoan chảy ròng ròng:
– Cho chị nghe lại một lần nữa Thảnh!... - Cái băng ghi âm quay đi quay lại đến bảy lần cho Đoan nghe.
Về đến nhà, đã nửa đêm, không ngủ được. Đoan chạy đi tìm thằng Tòng. Tòng và Sơn - chồng cô, là hai anh em chú bác, nhưng thương nhau như anh em cùng một cha một mẹ. Cô báo tin mừng với em chồng! Sau đó mấy hôm cô đưa Tòng đến gặp Sáu, ngay trong nhà mình.
Đêm nay, Tòng hứa sẽ đưa hai thằng bạn phòng vệ dân sự đến gặp Sáu.
Đốt xong nắm nhang lấy lệ, cô đặt con lên võng, ru nó, rồi bế vào buồng, gởi cho Sáu.
Cô trở ra, quét dọn lại cho gọn. Nhà cô, ngôi nhà nhỏ, nền đất, cạnh đưòng, ở giữa xóm. Nhà ngăn đôi: gian trong là buồng ngủ và nhà bếp; ngăn ngoài là tiệm, lổn nga lổn ngổn nào cần xé, nào hũ, nào khạp và chai.
Dài theo cửa sổ thì treo nào bánh tét, bánh dừa và vở học trò. Chật chội và xông lên đủ thứ mùi: nào tỏi, nào hành, tương, đường với nước mắm... nồng nặc. Nhưng là tiệm của cô vợ lính vắng chồng, lại là gái một con. Vì vậy mà ngày cũng như đêm, bọn con trai - nhất là bọn phòng vệ dân sự, đi đâu cũng tạt qua. Tiệm không bàn, không ghế, chỉ có cái chõng tre trước bàn thờ. Nhưng khách hàng có cần gì bàn với ghế, hai bàn chân chà vào nhau, vỗ bạch bạch mấy cái, rồi rút chân lên ngồi xếp bằng, làm một vài ly, vậy là được rồi. Có mấy đứa hư thân, lấy rượu làm nư, nhìn cô, cười liếc muốn bỏ mòi. Cô muốn tống nó ra cửa, nhưng chính những thằng đó nó mang tiền đến nộp cho tiệm của cô nhiều hơn cả! Hết tiền nó dẫn khách hàng đến cho cô. Đêm nào cũng ồn ào cho tới khuya! Có đêm cô phải đuổi khéo:
– Thôi mấy ông nội, rượu hết, để tối mai.
– Vậy thì tụi tôi ngủ ở đây, mai uống tiếp.
– Làm gì mà lườm đàn em dữ vậy a chị Hai?
– Thôi, về tụi bây. Khuya rồi.
– “Gút bay” bà chị.
Có đứa chụp lấy bàn tay của cô, đặt vào tay nó “bông sua”.
Nhục và mủi lòng! Nhưng biết làm cách nào? Từ ngày được Sáu cho nghe cái băng, cô trở nên cứng cỏi. Đối với bọn nó, cô là vợ của một người lính chết trận, cô chẳng sợ ai! Đối với anh em thì chồng cô và cô là người của anh em, cô vui thầm với con.
Cô quét nhà, giũ chiếu, nhìn ra cửa. Cô bước sát lại vách buồng.
– Sáu ơi, tụi nó tới.
Một đứa bước vào cửa, ni lông choàng qua vai, đầu súng chúc xuống đất, hỏi:
– Có gì vui không chị Hai?
– Mấy đứa?
– Ba thôi.
– Vô đi.
Ba anh con trai phòng vệ dân sự, cởi ni lông choàng, vắt bừa lên thanh cửa, bước vô. Thằng Xẹ, rồi thằng Sanh, cuối cùng là Tòng, bộ ba đi đâu cũng có nhau.
– Vậy mà hồi chiều tụi nó nói rượu chị hết rồi, tối nay chị nghỉ.
– Ngưòi ta thì hết, nhưng mấy cậu thì còn.
Thằng Xẹ liếc thằng Sanh, vênh mặt nháy một con mắt.
– Mà cũng chỉ ba cậu thôi, ai hỏi thì nói là rượu mấy cậu đem lại nghe hôn! Đừng mời mọc thêm đứa nào, om sòm lắm! Đóng cửa lại, Tòng.
Ba đứa đặt lên chõng ba cái ra-đi-ô National Panasonic một cái màu đen của thằng Xẹ, hai cái màu đỏ của hai đứa kia.
Ba đứa leo lên chõng, mỗi đứa một góc.
Đoan lấy tờ nhựt trình trải lên chiếu, đưa ra một chai rượu, một đĩa tôm khô củ kiệu, ba cái ly.
– Còn khô sặc, đứa nào muốn thì nói tôi đi nướng.
Thằng Xẹ đưa tay bốc một con tôm, há họng, ngửa mặt, bỏ vào miệng, nhai.
– Kiếm sáu câu nghe mày Xẹ, trời mưa rả rích này.
– Ra-đi-ô nào? - Thằng Xẹ hỏi.
– Mày! - Thằng Sanh đáp.
Thằng Xẹ cười. Nó hỏi chơi vậy thôi, không mở ra-đi-ô của nó thì mỏ ra-đi-ô của ai nữa! Trong xóm bây giò, bọn thanh niên gặp nhau là bày ra đấu, không phải đấu đá hay đấu lý gì, mà đấu của, đấu đồng hồ với ra-đi-ô.
Đem ra-đi-ô của nhau ra so, xem của ai tốt. Tiêu chuẩn tốt xấu của ra-đi-ô không căn cứ vào máy móc, bởi vì có ai biết được máy móc đâu mà ra tiêu chuẩn? Những người có của đem ra đấu vừa đặt ra tiêu chuẩn vừa làm trọng tài. Ra-đi-ô đứa nào kêu to nhất, ra-đi-ô của đứa đó tốt, một tiêu chuẩn. Cần “ăng ten” ra-đi-ô nào nhiều mắt, cái đó tốt, tiêu chuẩn thứ hai. Bật qua, bật lại âm thanh trầm bổng của ra-đi-ô nào rõ nhất, cái đó tốt, tiêu chuẩn thứ ba. Còn đồng hồ, cái nào có đủ ba kim, có thứ, có ngày, có tháng cái đó nhất - về đồng hồ, tiêu chuẩn để so sánh ngày mỗi cao. Đồng hồ nào ngâm dưới nước vẫn chạy, đồng hồ đó tốt. Vài hôm sau, đồng hồ loại đó trở thành lạc hậu. Đồng hồ nào ném xuống mặt đưòng đá không bể mà vẫn chạy, đồng hồ đó mới đáng hạng nhất. Cao hơn thế nữa, đồng hồ nào ném vô lửa không cháy mà vẫn chạy, đồng hồ đó mới đáng “bậc anh hùng”.
Bộ ba này là bộ ba chơi ra-đi-ô. Trong cuộc đấu ra-đi-ô vừa rồi, ra-đi-ô của thằng Xẹ đoạt giải nhất. Ra-đi-ô ba băng, mặt đen, cần “ăng-ten” tám nấc, trầm bổng rõ ràng, có máy đo điện, có cả đèn. Ra-đi-ô làm từ bên Nhật. Còn ra-đi-ô của thằng Sanh, thằng Tòng, của mấy đứa khác là ra-đi-ô ráp ở Sài Gòn - thua xa.
Thằng Xẹ đắc ý với cái ra-đi-ô của mình, nó ngồi xếp bằng, đặt ra-đi-ô lên đùi, vặn tới vặn lui. Cái ra-đi-ô kêu rồ rồ rẹt rẹt, chạy qua bao nhiêu làn sóng, làn sóng đài Hà Nội, đài Giải phóng, đài Sài Gòn, đài Quân đội. Nó vặn tới, vặn lui, vặn qua rồi vặn lại mãi mà không tìm được sáu câu vọng cổ. Thằng Sanh lấy đó làm thích, nó trề môi:
– Đêm mưa rúc rắc, ngồi uống rượu, ra-đi-ô số dách mà không mở được sáu câu! Tao mà như mày tao đá bỏ.
Thằng Xẹ cười:
– Mày giỏi thì mở cái ra-đi-ô của mày đi!
– Nếu ra-đi-ô tao là ra-đi-ô số dách thì tao bật lúc nào nó “sáu câu” lúc đó, không phải như mày.
– Đài nó không phát thì ra-đi-ô nào bắt được?
– Vậy mà có đó.
– Nói dóc.
– Rồi mày coi. Tết tao sẽ có một ra-đi-ô, mày muốn sáu câu giờ nào, tao cho mày nghe giờ đó! Nửa đêm giựt mình thức dậy, đài tắt hết, mà mày muốn nghe, nó sẽ ca cho mày nghe.
– Thôi đừng nói dóc, uống đi! - Thằng Xẹ đặt cái ra-đi-ô cạnh bên đùi, cầm ly.
– Tao nói thiệt. Mày chưa thấy mày không biết.
– Tao mà chưa thấy?
– Mày thấy ở đâu?
– Ở Sài Gòn chớ đâu!
– Bao lớn?
– Bằng cái đình.
– Ôi trời đất mẹ ơi!
– Trong ra-đi-ô có một gánh hát.
Thằng Xẹ biết thằng Sanh đang xỏ mình, nó cười nhạt!
– Mày dốt lắm! Ra-đi-ô đó là ra-đi-ô có băng ghi âm hiểu chưa?
– À... à... - Thằng Xẹ cầm ly, gật gù - Tưởng gì chớ cái đó, sang năm tao cũng có! Tòng uống đi mậy.
Tự nãy giờ, thằng Tòng ngồi làm thinh, nó đang nghĩ đến một chuyện khác! Cái bộ ba phòng vệ dân sự này, bao giờ cũng vậy, mở đầu bữa rượu là chuyện ra-đi-ô, - Nhóm khác thì chuyện đồng hồ, chuyện Honda.
Không được nghe vọng cổ, dẹp ra-đi-ô qua một bên, ba đứa bắt đầu uống.
Đoan ngồi ở mép chõng. Trước đây - chẳng mấy hôm, thấy bọn nó uống bao nhiêu thì Đoan vui bấy nhiêu. Bây giờ, ngồi nhìn bọn nó, Đoan thấy thương thương! Thằng Xẹ mới mười tám, thằng Sanh mười chín, thằng Tòng cũng mới mười chín, chưa có đứa nào đến tuổi hai mươi nhưng khi ngồi bên ly rượu, đứa nào trông cũng sành sỏi, bê tha! Thằng Xẹ cầm ly rượu, cánh tay cong cong, ly rượu đưa vào môi đánh trót một cái, cạn nửa ly. Ba lần nâng ly, cạn hết nửa lít! Đứa nào trông cũng khác. Đoan thuộc hết tính nết của khách hàng. Như thằng Xẹ, trong suốt bữa rượu, tánh tình nó thay đổi đến ba lần, lúc bình thưòng, miệng mồm lách chách như con tép, uống rượu vào nó không nói, mặt tai tái, lầm lì. Đó là giai đoạn đầu. Đến giai đoạn thứ hai thì nó bắt đầu nói, nhưng lại nói rỉ vào tai người khác. Chẳng biết nó rù rì cái gì, bất thình lình nó bật lên một tiếng “nhưng”, lại rù rì lại “nhưng”. Đến giai đoạn thứ ba thì vừa nói vừa đập vai người bên cạnh; cuối cùng đầu nó gục xuống. Thằng Sanh bình thường ít nói hơn, nhưng rượu vào, thì cười ha hả, nói oang oang, chưởi thề không ngớt miệng. Còn thằng Tòng, đêm nay có ý, nó lặng lẽ, nghĩ suy.
Thằng Xẹ lại cầm cái ra-đi-ô, vặn rọt rẹt một lúc rồi đặt xuống.
– Cho em thêm một chai nữa, chị Hai!
– Hết.
Thằng Xẹ, thằng Sanh mới đến giai đoạn thứ nhứt mà hết rượu, nó ngước nhìn chị như bị hẫng.
– Đừng giỡn chớ chị Hai!
– Thôi, uống vậy được rồi.
– Trời đất mẹ, uống chưa đã “ngứa” mà hết! Lấy cho tụi em thêm một chai nữa chị Hai. Trời đang mưa mà sáu câu thì chưa có, chị Hai!
Đoan cầm cái chai, vẫn ngồi bên mép chõng:
– Uống nhiều làm sao canh gác?
– Canh ai với gác ai, chị Hai?
– Canh gác Việt cộng chớ ai, làm phòng vệ dân sự mà hỏi sao nghe lạ vậy ha?
– Bình định rồi, Việt cộng đâu mà canh với gác chị Hai!
– Tôi sẽ đong thêm một chai.
– Có vậy chớ! - Hai đứa lại hào hứng, nháy nhau, cười re ré - Chị nướng cho mấy em thêm vài con sặc nữa chị Hai.
Đoan nói vậy nhưng vẫn ngồi đó, bên mép chõng:
– Nhưng trước khi đong chị hỏi mấy em một điều.
– Điều gì chị Hai cứ hỏi. - Thằng Sanh lẹ miệng.
– Đong đi rồi hỏi chị Hai, em chua miệng quá! Thằng Xẹ nói giục!
Đoan hỏi:
– Chị hỏi mấy em điều này.
– Điều gì, chị cứ hỏi, em trả lời một cái re.
– Chị hỏi, nếu mấy em gặp Việt cộng, mấy em có bắn không?
Cả hai đứa đều chưng hửng, không ngờ bị hỏi câu đó, cả hai như tỉnh rượu nhìn nhau.
– Nói trả lời một cái re mà sao ngồi làm thinh vậy, ba đứa?
Thằng Sanh hừ lên một tiếng:
– Người ta sao thì em vậy, chị Hai.
– Còn thằng Xẹ, em thì sao?
– Chị đong đi rồi em nói.
Đoan vẫn ngồi ở mép chõng:
– Chị hỏi thêm câu nữa. Ví dụ như mấy em gặp Sáu Linh thì sao?
Thằng Sanh lẹ miệng:
– Tròi đất mẹ ơi, sao chị lại xúi tụi em gặp, chị Hai?
Đoan cưòi:
– Chị ví dụ vậy mà mấy em không trả lời được, rồi nay mai, mấy em gặp, mấy em làm sao?
Thằng Xẹ sốt ruột:
– Chuyện tới đâu hay tới đó chị Hai, chị đong cho tụi em đi.
– Không! - Chừng nào mấy em trả lời một câu nghe dứt khoát, chị mới đong.
Thằng Sanh nhìn lại thằng Tòng:
– Tòng! Đêm nay mày đớ lưõi sao mà nãy giờ, mày làm thinh vậy. Mày trả lời một câu cho chỉ nghe được cái coi mậy.
Thằng Xẹ nhìn lên bàn thờ.
– Mày trả lời sao cho tao có rượu thì trả lời.
Thằng Tòng nhớm lưng ra:
– Tao hả! Tao mà gặp chỉ thì tao quỳ xuống tao lạy.
Thằng Sanh, thằng Xẹ tưởng chị chủ quán sẽ giận vì cái bàn thờ chồng, khói còn nghi ngút đó, nhưng nó thấy chị cười, hai đứa bắt cười theo.
– Thằng Tòng thì vậy, còn hai em thì sao?
Hai đứa lại nhìn nhau, lại nhìn lên bàn thờ, thằng Sanh cũng lẹ miệng hơn:
– Thằng Tòng là em chú bác của ảnh. Còn tôi, tôi nói với chị là ai sao tôi vậy.
– Thiệt là quỳ xuống lạy phải không Tòng?
– Thiệt.
Đoan vẫn ngồi ở mép chõng, nhìn hết ba đứa, ngước mắt lên:
– Kìa, mấy em quay lưng lại, coi ai kìa?
Thằng Sanh nhìn qua, nó thấy trước. Một cô gái bất thần hiện ra, đứng bên mép chõng: Sáu Linh! Hết hồn hết vía, nó la hoảng:
– Trời ơi! Ma! Chị Sáu! - Chân tay nó chới với. Thằng Xẹ thấy Sáu, nó vừa lết vừa lui lại sau.
– Chị chớ ma đâu mà ma! Ba em ngồi lại đây, chị muốn nói chuyện với ba em.
Thằng Sanh, thằng Xẹ, hai đứa hãy còn run. Đoan không nhịn được cười, cô bụm miệng quay mặt, bảo Tòng:
– Tòng, em ra ngoài gác, còn thằng Sanh với thằng Xẹ ở lại đây nói chuyện với chị Sáu.
– Dạ! - Thằng Tòng bước xuống chõng, cầm súng, mở cửa, rồi quay lại, dặn:
– Hai đứa bây ở lại vơi chị Sáu, tao đi gác cho.
Thằng Sanh nhìn thằng Tòng, trách móc:
– Mày! Vậy mà mày giấu tao.
Thằng Tòng khoác ni lông, cười, rồi nhảy ra ngoài mưa.
– Hai em ngồi lại đi, xích vô - Đoan vừa bảo vừa đưa tay đẩy lưng hai đứa.
Thằng Sanh vừa lết vào vừa nói:
– Nói cho có trời làm chứng, hồi nãy có chị Hai đây, em có nói là thằng Tòng làm sao thì em làm vậy!
Thằng Xẹ đã tỉnh rượu, nhưng môi hãy còn run:
– Chị Sáu thương tụi em! Tụi em mà không vô phòng vệ dân sự thì tụi em bị bắt lính, bị đưa đi ngoài A Sầu!
– Chuyện của mấy em chị biết! - Sáu nói.
– Dà... - Hai đứa ngồi sát vào nhau, dựa lưng vào bàn thờ, mặt cúi gầm, đứa này nhìn qua vế của đứa kia.
Đoan chạy vào buồng thăm chừng giấc ngủ của con rồi trở ra, ngồi ở mép chõng, chỗ cũ lúc nãy. Sáu cũng ngồi ở mép chõng, đầu này. Sáu nói, giọng nho nhỏ, êm êm:
– Chị coi hai em như em của chị. Hai em cầm súng phòng vệ dân sự, chẳng qua là vì hoàn cảnh!
– Dà... phải, thưa chị Sáu, - Thằng Xẹ nói - ba má em phải chạy tiền nếu không thì...
Thằng Sanh đưa cùi chỏ thúc thằng Xẹ, khiến nó nín bặt.
– Chị biết, mấy em cầm súng của tụi nó, nhưng lòng của mấy em thì theo anh em, bà con với xóm làng.
– Dạ. Chị Sáu nói đúng ý em. Em cầm súng của tụi nó, nhưng đêm nào tụi em cũng mong anh em đằng mình...
Lần này, thằng Sanh không thúc cùi chỏ mà đưa tay véo thằng Xẹ, thằng Xẹ đau đến phải nhổm lên.
– Để chị Sáu nói, ăn cơm hớt! - Thằng Xẹ cúi gầm mặt làm thinh.
– Chị gặp hai em đêm nay là muốn khuyên hai em mấy điều!
– Dạ tụi em có gì sai lầm, xin chị Sáu cứ giáo dục -Người lên tiếng cũng là thằng Xẹ.
– Chị khuyên hai em không nên rượu chè.
– Dạ, mấy em buồn uống chơi chớ không ghiền đâu chị Sáu!
– Biết là mấy em uống chơi, rồi dần dần sẽ quen, sẽ bê tha, bị bọn giặc lợi dụng mà không biết.
– Dà.
– Chị khuyên hai em đừng chạy đua theo vật chất, không nên đấu ra-đi-ô với đồng hồ; chạy theo nó, không đủ tiền thì về moi của cha mẹ, cha mẹ không có thì làm sao? Có em vì đồng hồ, vì ra-đi-ô, vì một chiếc xe HON ĐA mà làm tay sai cho bọn nó! Một lần, hai lần, rồi thành tay sai thành ác ôn; trong làng có mấy đứa như vậy, hai em biết rồi. Đó là gương xấu, chị khuyên hai em nên tránh!
– Mấy thằng đó tụi em không ưa.
– Được vậy, chị mừng.
Và Sáu nói thêm với hai chú phòng vệ dân sự ấy về lý tưởng và nhiệm vụ của thanh niên. Những điều đó, thằng Sanh, thằng Xẹ đã có nghe rồi, nhưng hôm nay, cũng những lời đó, nhưng là lời của một người chị; một người mà nó đã thầm phục! Hai đứa ngồi im, nghe như mới nghe lần đầu.
– Những điều chị nói, hai em về suy nghĩ thêm.
– Dà.
– Hồi nãy chị không đong thêm rượu cho tụi bây là vậy, đừng giận! - Đoan nói - Bây giờ hai đứa bây, đứa nào muốn vô du kích của chị Sáu.
– Chuyện này, chị không ép, hai em suy nghĩ kỹ đi.
– Dạ, hồi nãy em có nói thằng Tòng sao thì em vậy.
– Còn thằng Xẹ? - Đoan hỏi.
– Thằng Tòng, thằng Sanh không vô, em cũng vô! -Thằng Sanh lại đưa cùi chỏ thúc thằng Xẹ. Đến lúc đó, hai đứa mới ngẩng lên nhìn. Thấy Sáu cười, hai đứa cúi xuống, thò tay quèo nhau, cười theo...