Chúng tôi choàng ni lông đứng bên bờ con rạch nhỏ chia hai vùng, nhìn vào bóng tối của đêm ngoài rặng cây - ấp chiến lược, chờ một ánh đèn.
Bọn nó chẳng biết gì, cứ bắn pháo như mọi đêm.
Vẫn mưa - Mưa ngày mưa đêm. Xoài đâm lá non. Cây cỏ xanh tươi, mươn mướt màu xanh. Mưa đến thúi đất. Đã đến mùa lỡ nước lỡ khô. Đất dậy mùi bùn. Nước chưa lên đầy để đi xuồng, đường sá thì lầy lội. Bộ binh với xe tăng không thể càn lên một bãi lầy. Ngày thì máy bay, đêm thì pháo. Trên các ngả đưòng chỉ còn có bước chân người du kích. Một bước đi qua, mưa lại xối xuống nhòe mất dấu. Út Đợ cùng với đội du kích - cánh con trai đã vượt qua con rạch từ lúc tròi vừa sụp đổ mưa, đang dọn đường.
Bóng tối của chi khu như thon thót giật mình, chớp lóe, pháo lại hú qua đầu chúng tôi bay vào bên trong, nổ sau lưng chúng tôi hằng mấy cây số.
Mưa. Là giọt nước mà như những hột đậu bắn vào ni lông đồm độp, giòn khô. Lạnh run, răng đánh cầm cập, không ai nói với ai một lời.
– Có đèn rồi!
Sau cái đêm nằm chung giường với Mười, Sáu bị cảm lạnh vì suốt ngày phải ngồi dưới căn hầm ngập nước. Sáu phải trở về nghỉ ngơi lấy sức. Cô đã trở ra ngoài ấy ba hôm, vẫn theo con đường cũ, cái khăn trùm qua đầu kín mặt, đạp xe đèo bà Chín đi thăm thai bà con nghèo xóm nhà chị Bảy Thá. Và đêm nay, thì đến lượt của Năm Bờ.
Trước mắt chúng tôi, trong đêm tối, vừa bật lên một ánh đèn xanh.
– Mình đi nhá! - Năm Bờ bắt tay tôi.
– Tụi em đi nhá! - Tiếng của các cô gái, của Bé Ba, của Thon, Thả.
Họ đi. Họ vừa bước xuống ruộng, đã hòa trong bóng tối, chỉ còn nghe tiếng dép, tiếng mưa như hột đậu bắn vào ni lông choàng của mỗi người, đồm độp, giòn khô.
Tôi đứng lại một mình. Đêm mưa, trời đất một màu đen. Nhìn cái ánh đèn xanh ấy, tôi bỗng nhớ đến câu nói của Năm Bờ: “...Đàn bà con gái như sao trên trời. Đêm càng tối, sao càng sáng”. Đúng vậy! Và bầu trời không thể chỉ có một vì sao. Đã có Sáu Linh, có bà Chín, bây giờ lại có thêm Mười, và ai nữa? Trong cuộc đấu tranh, có những con ngưòi bật lên, sáng rực, không ai lường trước được. Nếu đêm nay là một đêm sao, sao có chi chít đầy trời, những con đường dưới mặt đất dù có được soi sáng, cũng không thể có được một chuyến đi như đêm nay. Chuyên đi này, đêm nay phải nhìn theo ngọn đèn xanh ấy, ngọn đèn của Mưòi, như con mắt thần. Chỗ đứng của cô, cái lưới kềm kẹp của quân thù đã bị phá vỡ, một mảng to.
Tiếng chân, tiếng mưa quất đồm độp lên ni lông choàng của Năm Bờ, của các cô du kích đã xa, chìm mất trong tiếng ầm ào của cơn mưa. Tôi chợt nhớ đến một trận đánh của một người chỉ huy trẻ, tôi có dịp làm quen. Anh là cán bộ trung đoàn, tuổi mới hơn ba mươi. Trong trận càn “Giônxơn Xyti” của quân Mỹ mùa khô năm sáu mươi bảy (1967) tăng của quân Mỹ không chạy băng qua rừng, mà theo dưới bụng chiếc trực thăng cần cẩu, đổ xuống. Một cụm tăng, một cánh quân Mỹ nằm trong vòng vây của đơn vị anh. Thế mà sáng sớm, rừng còn hơi sương, một chiếc Đakôta màu trắng bay ngang qua đầu anh, bay vòng theo cánh quân của anh, nó bắc loa, nó gọi đúng phiên hiệu của trung đoàn, gọi đúng cả tên anh, người chỉ huy. Nó nói rằng đơn vị của anh đang bị kẹt giữa vòng vây! Nó gọi đúng tên anh, và kêu gọi chiến sĩ của anh hãy buông súng. Chiếc Đakôta lại rè rè và từ trên không kêu vọng xuống: “...Chiêu hồi... hay... tử thần”. Mình đang vây nó mà nó bảo nó đang vây mình. Được! Một quyết định táo bạo, anh ra lệnh cho đơn vị cắt rừng, lặng lẽ chui vào ruột bọn nó. Tên chỉ huy ra lệnh cho tên chiêu hồi tiếp tục đòn tâm lý chiến, nhưng nó thì nó hiểu, nó đang nằm gọn trong vòng vây. Theo lệnh nó, khi tăng bắt đầu chuyển xích, súng bắt đầu nổ, thì bất thần, tiếng súng từ bên trong đánh thốc ra. Tăng không kịp quay đầu, lính không kịp trỏ tay. Nó như một cái vỏ bi nổ từ bên trong vỡ tan... Còn cái chiếc Đakôta “phao tin đồn nhảm” ấy, súng từ dưới đất bắn lên nó không phải là tiếng súng nhỏ của du kích. Cái lườn của nó hứng cả một loạt 13 ly 2, lãnh đủ, không chừa một viên. Tôi có dịp qua chiến trường ấy, một lần, còn thấy xác xe tăng. Nhìn kỹ, tôi thấy những cái xác tăng bị cháy bẹp từ phía sau... như con rùa sắt bị vạt đít, quỳ hai chân sau, cái đầu ngóc lên, bất động.
Trận đánh táo bạo của người chỉ huy trẻ ấy với cuộc chiến đấu của Năm Bờ đêm nay, chẳng có gì giống nhau, khác xa. Không hiểu sao lúc đó tôi lại nhớ. Đêm nay, Năm Bờ sẽ vào ấp chiến lược, sống lẩn lút, gây dựng lại từng cơ sở, chuẩn bị cho một ngày nổi dậy, người dân từ trong ấy sẽ phá ra... Không gọn, không nhanh như một trận đánh. Không phải đêm nay, không phải ngày mai, cũng không phải ngày kia; theo sự tính toán của anh, phải sau mùa nước và phải đến mùa gió chướng. Cái ấp chiến lược này cũng sẽ như cái vỏ, bị nổ từ bên trong, sẽ vỡ tan.
Vẫn có cái gì giống nhau, chớ chẳng phải không. Tôi vẫn đứng đó, dầm mình trong cơn mưa, nhìn ngọn đèn xanh của Mười, nghĩ miên man. Đến lúc ngọn đèn ấy tắt, báo yên, tôi mới quay lại vọng gác, dưới lùm xoài. Tôi đốt ngọn đèn chai xem đồng hồ, đã gần một giờ khuya. Tôi nằm lắc võng hút thuốc, nghỉ lưng. Mưa vẫn đồm độp trên mái tăng.
Tôi với Năm Bờ, hai anh em từ trên Rờ cùng về, đêm nay anh đã vào ấp chiến lược, sẽ được việc chớ không đến nỗi, “không ra cơm cháo gì” như anh nói. Còn tôi, tôi vẫn nằm gí ở đây, chưa làm được việc gì, như người thừa. Ngủ không được, nằm không yên. Tôi bật dậy, đi nấu cháo. Mưa lạnh thế này, anh chị em trở về, có một nồi cháo cá bốc hơi, còn gì bằng.
Cái bếp dã chiến của Út Đợ nằm ngoài mưa, lạnh ngắt lạnh tanh. Tro chảy theo nước trôi mất, chỉ còn ba ông táo như ba con ếch bà ngồi trơ trơ. Nhưng cớ gì phải nản chí? Sao bằng con đường Trường Sơn?
– Miền Nam ơi miền Nam...
Tôi dời ba ông táo vào trong tăng, cạnh bên võng, vừa làm vừa hát. Đố ai tìm được câu hát ấy trong bài nào của ai? Tôi hát theo ngẫu hứng. Tính tôi như vậy, hễ hứng thì tôi hát, chẳng nghĩ gợi gì, cứ bật ra, có lúc tôi hát cả một bài dài, lấy câu hát của bài này nối qua câu của bài khác, lại nhảy qua một câu của bài kia, có ra gì, nhưng là tiếng hát của mình.
“Miền Nam ơi! Miền Nam ơi!”...
Xong cái bếp, tôi rọi đèn quơ củi. Củi xoài ướt mèm. Chọn cành củi mập, tôi róc cái vỏ ướt, rồi chẻ nhỏ để làm mồi. Tôi chui xuống hầm chống phi pháo, xúc gạo vào nồi, định đem xuống bến, vo gạo, lấy nước, bắc lên bếp rồi đi bắt cá. Vậy không tiện. Để cái bếp lửa đỏ mà đi bắt cá, máy bay nó ù tới, ai tắt cho. Phải bắt cá trước, rồi ngồi làm cá cạnh bên bếp, cạnh lửa. Ở chiến trường, những chuyện nho nhỏ như vậy, cũng phải tính toán, nếu không thì sẽ “anh dũng hy sinh mà lớ ngớ”... Tôi để nồi gạo ngay giọt mưa dưới tăng, thổi tắt ngọn đèn chai, rọi đèn pin, quơ một sợi dây, ra mương. Lúc trời mưa sa, Út Đợ có đào mấy cái hầm dọc theo bờ giữa hai con mương. Mỗi cái hầm là một cái lu. Mưa này, cá từ dưới mương lốc lên, con nào lốc qua hầm thì rơi xuống, nằm đó. Đó là cách bắt cá của dân đồng bằng, mùa mưa sa. Tôi cứ ra những cái hầm ấy mà chọn. Cá trê, cá lóc, hầm nào cũng lóc nhóc. Cá mùa này ăn không hết. Nhưng chẳng ế đi đâu. Con nào chưa kịp ăn thì xẻ ra ướp muối, làm khô, làm mắm. Nghĩ thương bà con, cá nó ở đây mà người thì ngoài kia, phải ăn cá chợ!
Rọi đèn, tôi chọn hai con cá lóc bự bằng bắp chuối, lấy dây xỏ qua mang, xách vào.
Ngồi làm cá cạnh nồi cháo bên bếp lửa dưới mái tăng, tôi chợt nhớ tới nhà báo Trần Hoài Sơn, thằng Hơn. Buổi cơm sáng nhà ông Hai, nó bảo: trước khi đi, nó nghĩ nó sẽ bị bắt, bị trói, bị bịt mắt, bị tra hỏi, không ngờ lại được gặp bạn cũ với bữa cơm ngon. Nó tấm tắc cái món canh chua cá vồ, khứa cá cắt xiên, nước canh mỡ màng, ớt như những vòng hoa đỏ, hột ớt là nhụy trắng.
Chiều, trước khi nó theo xuồng bà con để trở về, ông Hai lại đãi nó thêm một món lạ. Món gà hấp rượu. Phải cho chú nhà báo đó thấy đời sống của dân kháng chiến
mình. Món này tôi cũng thạo lắm, nhưng hôm ấy, tôi không muốn nhúng tay, để cho ông, người chủ. Ông bắt con gà mái giập trứng nặng hai cân.
Con gà làm xong, ông đem ướp tỏi, bột ngọt, một muỗng xì ỉu cho có màu. Mâm chén dọn xong, một đĩa rau sống, bốn cái ly với một nhạo rượu. Ông sai thằng Út bưng cả cái cà ràng dưới bếp đem lên, đặt dưới mái hiên, ra lịnh cho thằng Út nổi lửa. Con gà ông để trong xoong, ông cầm cái nhạo, rót một ly rượu trắng. Nhà báo Trần Hoài Sơn - thằng Hơn, nói theo từng cử chỉ của ông như người thuyết minh:
– Rượu chỉ cần độ năm xê xê, một ly nhỏ, cứ đổ vào con gà. Dưới xoong không cần có tấm vỉ, nắp xoong đậy thật kín, rồi bắc lên bếp, lửa cháy đều.
Cái đồng hồ reo để trên bàn thờ ông bà đang tích tắc, nhưng ông không xem, ông hỏi nhà báo Trần Hoài Sơn:
– Mấy giờ rồi chú?
– Dạ bốn giờ năm.
– Đúng bốn giờ mười hai, chú nhắc tôi, bảy phút! Cơm nước xong, chú về thì vừa, tôi có dặn con Bảy Nở hàng xóm, chờ chú...
Chúng tôi lên ngồi quanh mâm, nhìn bếp lửa.
– Mấy phút rồi cháu?
– Dạ hai phút.
– Còn năm phút nữa.
Hơi bốc lên và đã nghe mùi thơm.
– Còn một phút nữa thôi bác.
Ông Hai bước lại bếp, khum khum một bàn tay, quơ qua nắp xoong, hốt lấy hơi đưa lên mũi.
– Bảy phút chưa cháu.
– Dạ đúng bảy phút.
– Út nhắc xuống, con.
Thằng Út mười lăm tuổi, cầm hai miếng giẻ, bưng nồi đặt xuống rế,
– Giở nắp ra, con.
Hơi bốc lên, thơm phức cả nhà.
– Lấy chiếc đũa, xăm nó, đặt lên đây. Còn nước hay khô, con?
– Dạ còn.
– Lấy chén chắt ra, đưa lên đây, con.
Con gà đặt lên đĩa, con gà mái vàng, căng da tươm mỡ, bốc hơi, thơm đến nỗi cái cánh mũi của nhà báo cứ phập phồng. Nước từ con gà rỏ xuống, đọng lại độ một chung mắt trâu. Ông đặt cái chén ấy trước mặt anh nhà báo:
– Phần này là của cháu. Cháu nếm thử.
Nhà báo Trần Hoài Sơn - thằng Hơn, húp một miếng, nó ngồi ngẩn ra, hai con mắt ốc nhồi nhìn lên, mở tròn.
– Sao, cháu?
– Ngon hơn nước trứng vịt lộn.
Món gà hấp rượu, ý của ông, như ông nói, là để đãi khách Sài thành một món ăn của bưng miền, cho lạ miệng, để nhớ lâu. Không ngờ, con gà hấp rượu ấy khiến cho anh nhà báo Trần Hoài Sơn lại nghĩ ra những điều khác; anh nói:
– Thưa bác, thưa hai anh, đây chính là văn hóa. Gà rô ti của Pháp, không thể so nổi con gà hấp rượu này. Món gà của Mỹ lại càng không thể sánh. Món gà hấp rượu này của bác cho cháu hiểu thêm: Một dân tộc có những món ăn như vầy, chứng tỏ là một dân tộc có một nền văn hóa cao, dân tộc ấy nhứt định không thể bị tiêu diệt, dân tộc đó sẽ tồn tại mãi mãi. Cám ơn! Cám ơn! Lần này về Sài Gòn, cháu sẽ làm như bác trưóc mặt bạn bè, cháu sẽ kể lại với anh em. Thưa bác, bác có thể giúp cho cháu hiểu thêm là, món gà hấp rượu này xuất xứ từ đâu và lúc nào. Đây là lần đầu tiên cháu mới được nghe, được thưởng thức.
Ông Hai cầm nhạo, rót đầy cả bốn ly:
– Cháu uống đi. Nó xuất từ đây, xứ Tháp Mười này từ ngày đánh Mỹ. Mỹ nó có phản lực, nghe ù cái là tới, nhìn lên đã thấy nó xa lắc xa lơ. Làm gà mà lửa củi cứ cà rề cà rà, lửa khói lôi thôi, nó ào tới, gà chín mà mình chẳng được ăn. Để khói lửa cho nó liệng bom, mình chỉ được ăn gà cúng. Còn cái món này: đâu đó xong xuôi, đứng dòm bốn phía, không thấy nó nhấp nháy ở đâu, đổ một ly rượu vô đốt lửa lên. Nó có ào tới, mình cũng vừa xong. Nó nhanh thì mình gọn. Vậy đó, cháu!
– Dà... dà... cám ơn, cám ơn bác...
Anh nói, ở Sài Gòn mấy năm sau này, có thêm mấy cái quán, gọi là quán dừa. Những cái quán lá ngoài ngoại ô dưới bóng dừa, theo xa lộ. Vì bom đạn, hằng năm đến ngày hè, ngày tết, người Sài Gòn không mấy khi về quê, họ thường đổ ra quán dừa, ngồi nhìn rặng cây, nhìn cánh đồng, thở hít khí trời trong lành, cho đỡ nhớ quê. Quán dừa bán những món ăn đặc sắc của đồng quê: rùa, rắn, ếch, nhái, tôm. Tất cả đều còn sống, được dộng trong nước, khách có thể nhìn thấy, muốn ăn con nào, chỉ con nấy. Anh thích nhất cái món tôm nướng mía. Nhưng cái món ấy bây giờ đối với anh không thể so sánh với món gà hấp rượu. Anh nói, nghĩ cho cùng, món tôm nướng mía chẳng qua là một món lạ, dành cho kẻ ăn chơi. Còn món gà hấp rượu của ông Hai, anh đang thưởng thức, chính là món ăn thể hiện trình độ văn hóa và tinh thần chiến đấu của nhân dân. Chuyện của anh nói với chúng tôi, không ngờ, chuyện món gà hấp rượu lại là chuyện dài nhất. Từ một món ăn mà phát lên những ý nghĩ như anh, tôi với Năm Bờ thấy có hơi quá, nhưng chúng tôi không muốn tranh cãi. Dù có hơi quá, nhưng đó là ý nghĩ tốt, ý nghĩ xúc động đầu tiên của anh.
Đêm nay, ở Sài Gòn, anh bạn cũ của tôi, thằng Hơn, đang làm một con gà hấp rượu khoe với bạn bè hay làm gì? Chia tay với tôi, Hơn nó hứa, sẽ trở lại làng này một lần nữa. “Xin tái ngộ, xin tái ngộ. Cám ơn! Cám ơn!”. Và Hơn cũng hứa, với riêng tôi, lần sau nếu tôi muốn, bằng cái thẻ căn cước sẵn có của tôi, Hơn sẽ tạo điều kiện giúp tôi ra ngoài ấy, có thể vào ở ngay trong nhà thằng đại úy Long với anh. Cán bộ nội thành sống và hoạt động như vậy là việc bình thường. Với tôi thì mạo hiểm, sau cái mạo hiểm là hấp dẫn, bao giờ cũng vậy. Mùa xuân Mậu Thân năm 68, cái thẻ căn cước mà tôi đang có, chính là để đi một chuyến như vậy, vào hẳn trong nội thành, như một người Sài Gòn, sống và hoạt động. Nhưng tôi chưa kịp đi thì phải nhận một công tác khác, trở về Rờ, cứ tiếc mãi.
Hai con cá làm xong, không cần phải xuống bến, tôi rửa ngay trong một cái nồi đã đầy nước, hứng dưới mái tăng. Trời vẫn mưa. Mưa cho thúi đất mà! Cháo nhừ, tôi thả hai con cá vào nồi. Tôi cời lửa, ngọn liu riu, lại chui xuống hầm.
Từ ngày bà con trở về thăm xóm vườn cũ, anh em du kích sống thật đầy đủ. Bà con mỗi người cho mỗi món, chẳng thiếu thứ gì! Nào tiêu, nào bột ngọt, nào hành, nào tỏi... trà đương, thuốc lá, cả cà phê!
Nồi cháo đã chín rồi mà anh em chưa về. Tôi dụi lửa, cời than.
– Hù!
Hai bàn tay chụp lấy vai tôi, lạnh ngắt. Tôi giật mình quay lại: Út Đợ!
– Làm mình hết hồn. Tưởng biệt kích chớ! Anh Năm đị lọt không?
– Hai ông bà gặp nhau ngoài đó rồi.
– Gặp nhau hả? - Tôi hỏi lại, ngây thơ.
– Nói giỡn với anh vậy thôi.
– Về đủ hết chưa, Út Đợ?
– Đủ, còn đang rửa chân rửa cẳng dưới bến. Bốn trai, ba gái, bảy người về đủ.
– Ngồi lại đây, ngồi xung quanh bếp lửa cho ấm! -Không ai nghĩ là tôi nấu cháo, sau khi mọi người ngồi quây tròn quanh bếp, ngọn lửa vừa bùng lên thì bất thình lình, tôi giở nắp vung ra, hơi bốc lên, thơm lừng.
– Cái gì vậy anh Thắng? - Mấy cô hỏi.
– Cháo cá!
– Hoan hô anh Thắng!
– Tụi em vừa lạnh, lại vừa đói.
– Đứa nào cũng ước có cái gì ăn.
– Đốt đèn!
– Đốt liền hai ba cái cho nó sáng.
– Máy bay nó ướt cánh hết rồi, đốt đi.
Thêm bảy ngọn đèn chai, anh em ngồi túm tụm dưới mái tăng nói, cô gái mặc áo bà ba đen, đầu đội nón lá trong cái chai đèn của Út Đợ, cũng cười.
– Ca của ai người ấy ăn. - Út Đợ bảo - Múc cháo đi.
Nồi cháo có ngon lành gì đâu, nhưng tôi lại sướng đến cuống lên. Nấu được nồi cháo đúng lúc cho anh em! Tôi chui xuống hầm, vội ló đầu lên:
– Khoan, tôi chưa nêm bột ngọt!