Tiệm chú Phồi, một cái tiệm lâu đời ở chợ làng. Chú Phồi đã chết đi từ đời nảo đời nào rồi, chẳng ai nhớ, cũng có ngưòi không biết ông chủ tiệm ấy ra sao, nhưng cái tiệm ở đầu phố ấy, vẫn còn mang tên của ông, tiệm chú Phồi. Tiệm bán đủ món ăn và thức uống: bánh bao, xí mại, giò cháo quảy, bánh phình, hủ tiếu, cà phê sữa, nước đá. Tiệm chú Phồi đã vãn khách và chợ cũng đã tan rồi, nhưng ông Tám Quyện vẫn còn ngồi. Ông ngồi chồm hổm trên chiếc ghế đẩu, một mình một bàn, trong một góc. Ông Tám Quyện, gần sáu mươi nhưng vẫn khỏe mạnh, gân guốc, nước da màu đồng điếu, con ngưòi cao lớn, dềnh dàng, sần sùi góc cạnh như một bức tượng. Ông ăn mặc khác lạ hơn mọi người. Lúc nào ông cũng mặc quần đùi đen, áo xá xẩu cũng đen, đầu cũng đội nón phớt đen. Không hề thấy ông mặc kiểu quần áo nào khác, ngoài cái kiểu: quần đùi với cái áo xá xẩu ấy, dù ở bến xe, bến tàu, trong tiệm nước, hay ở bất kỳ đâu. Ông có thói quen, ngày nào cũng vào tiệm cà phê, một ngày ít nhứt là ba cữ. Có tiền hay không có tiền, điều đó ông không nghĩ tới. Có tiền thì ông trả, không có tiền thì ông ngồi đó, trước sau rồi cũng có một thằng em, bước vào, trả cho ông.
Ở mối đường này, đường sông có ba hãng tàu, đường bộ có ba hãng xe. Đưòng xe, ông đứng bến cho hãng Ứng Hòa, bến tàu ông đứng bến cho hãng Vạn Ký. Sau lưng ông, ông có một đàn em. Nhưng mấy tháng nay, từ ngày đường tàu và đường xe quy về một mối, dưới bến là tàu của cảnh sát Bá, bến xe là xe lam của đại diện Phiến, hai người chủ mới này giành khách và giành bến với những chủ cũ không phải dựa vào dân anh chị mà bằng quyền lực và súng ống. Chủ cũ bị phá sản. Không ai giành khách, giành bến với ai, ông và cả đàn em của ông bị thất nghiệp. Túi không tiền, nhưng ông không bỏ được thói quen vào tiệm cà phê.
Sáng nay, cũng như sáng hôm qua, hôm kia, sau khi uống xong, ông vẫn ngồi đó, ngồi chồm hổm trên chiếc ghế đẩu, đợi một thằng em. Thấy mặt một thằng đàn em vào tiệm ông gọi cho nó một ly. Thằng em bắt chước ông, cũng ngồi chồm hổm. Nghe qua câu chuyện dài dòng của thằng em, ông biết thằng em cũng như ông, không một xu dính túi. Dù không một xu dính túi, ông vẫn giữ được cái tánh hào phóng của một đàn anh, ông bảo:
– Thôi, mày có việc mày cứ đi, để đây cho qua trả. -Thế là trên bàn của ông thêm một ly chưa trả tiền. Và ông lại ngồi đó chờ đứa khác. Thấy một thằng đàn em bước vào, tưởng nó có tiền, ông vừa nhướng mày chào vừa gọi cho nó một ly. Người hủ ki thấy vậy, mừng cho ông, tiếng rao của anh ta cũng vui hơn “Dách cô fé nại xíu xìa thòn lầy...”. Tiếng rao của người hủ ki trầm bổng, ngân nga; kéo dài như một câu hát. Rồi qua câu chuyện dài dòng của nó, ông biết nó muốn đùn ly cà phê cho ông, nhưng ông không để lộ ra điều gì cho thằng em thấy khó xử.
Ông bảo với thằng đàn em như những lần đã sẵn tiền.
– Thôi mày có việc mày cứ đi, để đây cho qua trả. -Sáng hôm qua, hôm kia, và những hôm trước, trên bàn của ông nào ly nào đĩa cứ chồng lên nhau trước mặt ông. Cuối cùng rồi cũng có một thằng đàn em bước vào, nón phớt đội lệch, mồm ngậm điếu thuốc, mặt hớn hở. Rồi sau khi uống xong, nó gọi hủ ki đưa tay đánh một vòng qua bàn, bảo với giọng kiêu hãnh:
– Thẩy xu!
Đến lúc đó, ông mới rời khỏi ghế! Nhưng sáng nay xúi quẩy làm sao, ly tách trước mặt ông đã đầy bàn rồi, mà chưa thấy một thằng đàn em nào tới. Ngưòi chủ già hiểu được tình cảnh của ông, bằng thái độ của một ông chủ biết chiều khách, ông ta đến chào ông, tỏ ra sẵn sàng và hài lòng được để cho ông thiếu, chỉ xin ông cho phép hủ ki được dọn đĩa ly cho gọn, nhưng ông khoát tay.
– Để tôi trả! - Ông đáp lại với vẻ nhục nhã mà lạnh lùng. Nếu cái bàn được dọn đi thì ông ngồi lại đó với cái gì? Và ông vẫn cứ ngồi lại đó, ngồi chồm hổm lên ghế đẩu.
Lúc đó, cảnh sát Bá bước vào tiệm. Nhìn lên cái bàn đầy ly đầy đĩa trước mặt ông, nó hiểu. Ra vẻ nhún nhường, nó khom mình:
– Chào đại ca.
Đứng về vai vế của làng anh chị, thằng Bá thuộc vào bậc đàn em của ông. Ngực nó xăm mặt con cọp, ngực ông thì xăm rồng, một con rồng đang lộn trong mây, nằm trọn trên bộ ngực to tướng của ông. cảnh sát Bá kéo ghế, ngồi cùng một bàn với ông:
– Đại ca uống thêm?
– Tôi uống rồi, đầy bàn đó, chú uống đi.
Thằng Bá gọi một ly cà phê. Nó vừa quậy cà phê vừa nói chuyện với ông:
– Sao đại ca?
– Mày nghĩ tới tao, tao cám ơn! Nhưng tao ngẫm. Cái làng dao búa của mình, mày biết, mỗi lần hành sự, mình phải đề phòng, không thì bị người ta lấy thẹo. Còn công việc của mày, tao ngẫm, mình đánh đập ngưòi ta mà ngưòi ta không dám đánh lại, coi sao được?
– Đánh người ta mà người ta không dám đánh lại, vậy mới sướng chớ, đại ca.
– Làm vậy sao gọi là anh hùng?
– Nói trắng ra thì cũng vì miếng cơm thôi, đại ca?
Ông Tám Quyện nghe nhói đến tận tim. Vì miếng cơm? Ông ngồi lặng thinh. Vì miếng cơm mà ông bước chân vào làng đao búa. Cái miếng cơm ấy bị cướp mất rồi. Bây giờ nó mang miếng cơm đến nhử cái miệng đói của ông.
Thằng Bá uống xong ly cà phê, nó gọi hủ ki, vẫy tay qua mặt:
– Tính hết!
Nó muốn làm nhục ông bằng miếng cơm, bây giờ nó muốn vung tiền ra trước mặt ông nữa. Là dân anh chị, nhưng ông là người trọng nghĩa khinh tài. Không nhịn được, ông chụp lấy bàn tay nó. Bàn tay nó nhỏ như con chim trong bàn tay ông, ông nhìn thẳng vào mặt nó:
– Phần của tao mày để tao.
Thằng Bá ngượng đến đỏ mặt, nhưng nó không dám giận, nó cười, cười giả lả cho qua. Cảnh sát Bá đi rồi, tức mình mà không biết làm gì, ông gọi thêm một ly nữa, uống cho bõ ghét.
Chợt có một chú nhỏ không thuộc đàn em của ông bước vào, lễ phép cúi đầu chào:
– Thưa chú Tám!
Qua cái cung cách chào hỏi đó, đủ biết là ai rồi. Không phải những tay em của ông, nhưng chú lại kéo ghế ngồi cùng bàn vối ông, gọi hủ ki:
– Cho tôi một ly cà phê.
Người hủ ki có đôi mắt quen nhìn khách, biết đây là một chú nhỏ mới tập tành, và cũng biết đây là ông khách đang có tiền, chú ta bèn cất tiếng bảo pha một ly cà phê để nhiều đưòng qua giọng hát trầm bổng và kéo dài.
– Dách cô phé nại tố tố thờn... a...
Chú nhỏ cầm cái muỗng, khuấy đường, rồi múc từng muỗng. Cái muỗng có đục ba cái lỗ nhỏ, nó vừa múc lên, chưa đưa đến miệng thì cà phê đã chảy xuống hết rồi. Đúng là một thằng nhỏ chưa biết uống cà phê.
– Cháu đổ vô dĩa cho nó nguội mà húp. - Ông bảo chú nhỏ, nhưng chú nhỏ không thiết uống cà phê, chú hỏi:
– Thưa chú Tám, lâu nay chú có khỏe không?
Ông không đáp mà hỏi lại:
– Cháu tên gì?
– Dạ, cháu tên Sườn.
– Cháu con ai?
– Dạ, cháu là con của Hai Mậu.
– Hai Mậu xóm nhà ông Sáu Đương phải không?
– Dạ thưa phải.
– Bữa nay cháu đi đâu mà ghé qua đây?
– Dạ, cũng có chuyện.
– Thôi, uống đi, nguội hết.
Thằng Sườn cầm ly, húp một cái rột, thấy vậy, ông bật cười. Uống xong, chú rụt rè:
– Thưa chú Tám. Bữa nay cháu có tiền, chú cho cháu trả hết cái phần của chú.
– Nếu cháu có lòng tốt! - Ông đoán chắc là một thằng nhỏ đang bước vào nghề, muốn kiếm ông làm đại ca.
Hủ ki tính tiền xong, cả thảy là bảy ly. Nếu là đàn em thì vậy là xong, ông sẽ bỏ chân xuống ghế, bước ra cửa. Nhưng đây là một đứa lạ, ông muốn nấn ná hỏi vài câu:
– Tiền đâu mà cháu trả cho chú?
– Dạ... ạ... dạ...
Thấy nó ngập ngừng, đâm nghi, ông nặng lời:
– Sao mậy?
– Dạ... ạ... tiền, không phải của cháu.
– Ủa.
Hai con mắt ông trợn ngược lên.
– Cảnh sát Bá giao tiền cho mày hả? - Giọng ông gầm gừ trong cuống họng và vừa nói vừa nghiến.
– Dạ thưa không.
– Vậy chớ của ai?
– Dạ... ạ của một ngưòi quen với chú.
– Người quen của tao?
– Dạ.
– Mày nói sao mà tao nghe lạ vậy?
Tiệm về trưa, ít khách, Sưòn kéo chiếc ghế ngồi xích lại ông, nói nhỏ:
– Dạ ... ạ, tiền của chú Năm.
– Chú Năm nào?
– Dạ... ạ, chú Năm cũng nghèo. Nhưng chú Năm biết tình cảnh chú, chú Năm đưa tiền cho cháu, biểu cháu ra đây, trả tiền cà phê cho chú!
– Chú Năm mà chú Năm nào? Mày nói tao nghe lạ quá. Mày không nói trôi thì đừng có trả.
– Dạ... ạ, chú bước ra ngoài, cháu mới nói được.
Ông thấy chú nhỏ ngồi trước mặt mình có vẻ lạ, rụt rè nhưng không sợ sệt.
– Mày ra trước đi!
Sườn ra trước, ông ra sau, hai người bước ra cửa tiệm.
– Chú Năm nào, cháu nói chú nghe coi.
– Dạ... ạ, chú Năm Bờ.
Ông giật mình quay lại, nhìn Sườn với vẻ lạ lùng:
– Sao? Cháu nói của ai?
– Dạ, của chú Năm Bờ.
– Của chú Năm Bờ? - Giọng ông lạc hẳn đi.
– Dạ phải, của chú Năm Bờ, chú không biết sao?
– Năm Bờ tức là Hai Dân, con của ông chủ tịch Việt Minh quận, sao tao lại không biết! Mà thiệt vậy sao! Trời đất!
Sườn thấy ông đã biến thành một người khác. Con người dữ dội và sắt đá của ông như mềm dịu lại qua giọng nói thều thào và nhỏ nhẹ của ông. Cũng con người cao lớn, gồ ghề và góc cạnh ấy, cũng cái vẻ ngang tàng ấy, Sườn thấy ông sao hiền lành, dễ gần đến kỳ lạ! Lạ hơn nữa là đôi mắt ông đang mờ qua một làn nước!
Từ lâu, tuy là dân anh chị, nhưng ông vẫn nghĩ mình là “người của anh em”. Không phải mới đây mà từ lâu, từ cái thời trai tráng của ông, trong những ngày còn bóng tối. Ông là đứa trẻ mồ côi của xóm mộc, ông ở đợ nuôi thân. Khi đến tuổi thành người, ông học nghề cưa, ông đã cùng với bạn thợ, vác cưa đi cưa cây trong đêm treo cờ. Nam Kỳ năm 40 bị khủng bố, để thoát khỏi vòng vây của bọn giặc, ông làm bạn chèo cho một ghe cá lên Sài Gòn. Vì miếng ăn, ông bước vào làng anh chị, làm tay sai cho một người anh chị đứng bến xe. Trong một trận đánh, ông dùng cây sắt chọc lò nướng đỏ, xông vào trận, đánh quỵ hết đối phương. Cây sắt nướng đỏ ấy được ghi lại hình ảnh con rồng lộn trong mây trên lồng ngực của ông. Từ đó cuộc đời của làng đao búa đưa ông đi mỗi ngày mỗi xa. Đôi lúc nhớ đến anh em, tự an ủi mình, ông nghĩ: “Thôi, ta đã lỡ nhúng chàm rồi!”. Bây giờ, khi ông lâm vào cảnh đói nghèo, thì cách mạng lại nhớ đến ông.
– Nè cháu, cháu về nói với chú Năm Bờ, chú cám ơn. Nói với chú Năm Bờ, cuộc đời của chú đây chẳng khác gì dòng nước đổ, đục ngầu, nhưng là dòng nước ngọt nghe cháu!