Lút đã nhầm, khi quả quyết là ở cách Xanh Rê-mi khoảng vài cây số có một công binh xưởng ngầm, chuyên sản xuất các loại mìn và súng cối. Gã là người đầu tiên đã nói lên điều đó, rồi đến lượt tướng E-véc và thêm một vài sĩ quan tham mưu nữa. Ngay cả tên chỉ huy SS Mi-le cũng tin rằng có thêm nhiều ngôi nhà nhỏ, dọc bên đường, chạy dài về phía cao nguyên, và chắc mẩm đó chính là lối vào binh công xưởng kia. Cho nên tất cả nhũng đứa nắm được điều "bí mật" ấy không mảy may biết rằng thực tế chúng nó đang bảo vệ một địa điểm không người, và tất cả những ngôi nhà ấy được dựng lên với mục đích ngụy trang mà thôi. Bộ tư lệnh Đức hết sức quan tâm cốt làm thế nào bảo vệ được bí mật địa điểm thật mà chúng xem là một mục tiêu đặc biệt quan trọng. Đúng vậy, công xưởng ngầm có thật. Dưới ấy người ta chuyên chế tạo vũ khí. Trong công xưởng đó gồm toàn anh em tù binh người các nước tạm chiếm bị dồn đến đây làm việc. Có điều là không phải ở gần Xanh Rê-mi, mà cách thị trấn những ngoài hai mươi lăm cây số, nơi được mệnh danh là thung lũng Ma. Những người chăn súc vật đặt tên cho thung lũng ấy như vậy. Tuy gọi nó là Ma, nhưng đến bản thân họ cũng không ngờ tin ấy lại đúng sự thật. Họ chỉ bực một nỗi là khó đặt chân vào thung lũng đó lắm và trâu bò cũng không làm sao thò mõm tới những bãi cỏ quái gở kia. Không nghe lòi khuyên của các cụ già, thỉnh thoảng bọn mục đồng chưa từng trải đã lùa súc vật đến sát những quả núi dốc đứng thành vại bao bọc bốn phía quanh thung lũng. Nhưng tất cả những lần thí nghiệm đó hòng tìm thấy lối. xuống ít hiểm trở hơn đều không mang lại kết quả nào. Đứng trên cao nhìn xuống thung lũng, người ta có cảm tưởng hình như một bàn tay khổng lồ nào đó đã dùng chiếc com-pa khổng lồ quay một vòng tròn, sau đó mang những tảng đá dốc đứng kia dựng lên chung quanh thung lũng để bàn chân con người không dẫm được lên tấm thảm xanh tươi mơn mởn trải kín mặt đáy bằng phẳng của cái giếng mênh mông ấy. Các nhà du lịch đã đến xem xét bức tranh thiên nhiên này, họ ngắm nghía phong cảnh, nhưng không dám xuống thung lũng, bởi vì trên những vách đá nhẵn thín vì bị nước bào mòn chẳng thấy có một khóm cây nhỏ nào để làm chỗ bám khi tụt xuống. Thung lũng Ma nằm phơi mưa nắng như vậy cho đến cuối năm 1941 vẫn chưa có ai đặt chân tới. Lúc bấy giờ luận điệu tốc chiến tốc thắng, giọng lưỡi hòng bắt nước Nga Xô-viết quỳ gối trước mặt kẻ chiến thắng, đã lỗi thời. Và mặc dù Bộ tư lệnh tốỉ cao của quân đội Hít-le chưa chịu từ bỏ luận điệu ấy, nhưng sau trận đại bại gần Mạc-tư-khoa, nhiều kẻ đã bắt đầu mở mắt thấy rằng chiến tranh có thể phải kéo dài và cần chuẩn bị thật cẩn thận cho một cuộc tấn công mới. Dĩ nhiên trong cuộc chuẩn bị đó việc trang bị cho quân đội đóng vai trò khá quan trọng, nhất là "đòn bất ngờ", thứ vũ khí được sản xuất trong các công binh xưởng và, theo sự trù tính của bọn Hít-le thì vũ khí ấy sẽ làm tê liệt các vùng hậu phương của bên địch. Nhưng các cuộc công kích của không quân Liên Xô và quân đồng minh vẫn xảy ra ngày càng nhiều. Việc che giấu các binh công xưởng quan trọng nhất để tránh sự oanh tạc của phi cơ là việc vô cùng cần thiết. Chính vì vậy mà sau cuộc đại bại ở Mạc-tư-khoa, tại miền Đông Nam nước Pháp và bên miền Bắc nước Ý người ta thấy xuất hiện không biết cơ man nào là các đoàn chuyên gia quân sự lần mò đi tìm những địa điểm thuận lợi để xây dựng các binh công xưởng ngầm. Một đoàn chuyên gia đã mò xuống tận thung lũng Ma kia. Rồi từ tháng giêng năm 1942 ỏ Xanh Rê-mi không bao giờ ngớt tiếng máy ô-tô. Từng đoàn xe cứ lao vùn vụt qua thị trấn, những chiếc lớn mà đại úy Lút cho là của công xưởng ngầm, lúc nào cũng được ngụy trang cẩn thận, thường ghé lại gần dãy nhà trong vài ba phút, rồi lại chạy về một nơi nào đó ở phía nam, sau khi ngoặt vào con đường chính của thị trấn. Con đường dẫn đến tận đâu thì không ai biết được. Ngay cả các xe quân sự cũng bị cấm chạy vào đường ấy. Đến tháng ba, những đường hầm rộng lớn đã xuyên qua hai triền núi từ thung lũng Ma tỏa ra hai hướng Tây và Đông, rồi sang hè những phân xưởng đầu tiên bắt đầu hoạt động dưới đất sâu, chỗ thấp nhất của thung lũng. Bây giờ thung lũng này mới xứng với cái tên của nó. Pôn, hay nói đúng hơn, con người nấp dưới cái tên đó, chưa bao giờ trông thấy thung lũng Ma. Anh chỉ nghe vợ anh, người chính quê ở một làng nhỏ gần Xanh Rê-mi nói lại cái tên ấy mà thôi. Có ngờ đâu ngày nay thung lũng ấy đang đe dọa tính mạng anh.
Người tù binh số 2948 cắn chặt môi lại để tiếng rên của mình không vang xa khắp trại. Đó là một kỷ niệm cũ, sau khi dọi sáng vào bóng tối, nó lan ra như một ảo ảnh, dù anh cố sức giữ nó lại. Mà trong thực tế có tất cả những việc đó không? Từ khi bị người ta đưa xuống hầm, Pôn đã mất hết cái cảm giác thực tế của mình. Tất cả những sự việc xa xôi nhất đã xảy ra trong đời anh, nay hiện lên mỗi lúc một nhiều trong giấc mơ. Anh tin được rằng ngay dưới thung lũng tĩnh mịch này có một công xưởng ngầm với hàng nghìn công nhân; những con người đang sống thiếu ánh sáng mặt trời và sẽ không bao giờ trông thấy mặt trời nữa? Phải phân tích câu chuyện mà tên tướng Đức vừa phun ra ngày hôm nay đã. Trong chốc lát Pôn nhắm mắt lại, rồi lại mở ra. Không, anh đang thức chứ không phải ngủ, và đây, sự thực mà tên thiếu tướng đã nói. Cần phải sắp xếp lại tất cả trong trí nhớ. Thế là người ta dẫn anh đến một gian phòng. Gian phòng đó cũng ở ngay dưới căn hầm này, cửa sổ chẳng có. Tên lính tống anh vào đó rồi bỏ đi ra. Gian phòng vừa rộng vừa cao. Một bàn giấy kê ngang vói bàn viết, trên đó ngổn ngang những bản vẽ. Một hộp xì-gà đặt ngay trên bàn viết. Chao ôi, Pôn chỉ chực chạy thẳng đến bàn vồ lấy mà hút. Vì đã lâu lắm, từ ngày rơi vào chôn địa ngục này anh chưa được hút điếu xì-gà nào cả... Mà anh ở đây được bao lâu rồi? Một tháng, hai tháng? Chính Pôn cũng không biết nữa. Anh cũng như những người bạn tù khác đã không thèm tính ngày tính tháng nữa. Họ bảo: Cái đó đã xảy ra trong quá khứ hoặc trong thời gian gần đây, chẳng còn ai nhố tới ngày giò. Pôn quay nhìn sang phía khác để khỏi phải trông thấy hộp xì-gà trên bàn. Ngay lúc ấy đôi mắt anh gặp một cái nhìn sắc như dao cạo. Hai con mắt tròn xoe, không có một sợi lông mi, xoáy chặt vào anh, trừng trừng, không chớp. Trên khuôn mặt cằn cỗi dăn deo như một chiếc lá đã khô héo, chỉ có đôi mắt hình như còn sức sống mà thôi. Một lão già đính đôi quân hàm cấp tướng trên vai không biết từ lỗ nào chui ra cất tiếng hỏi: - Tại sao ông cứ đứng trơ ra giữa phòng vậy? - Tôi sợ đến gần cái bàn ấy. Trên bàn bừa bãi những bản vẽ gì đó. Có thể là tài liệu mật... Có tiếng cười the thé vang lên y như ngựa hí. Không rõ thứ tiếng kia từ đâu vẳng lại. Pôn liền đưa mắt nhìn quanh, nhưng chẳng thấy thêm người nào nữa. Và lúc ấy anh mới nhận ra, đó chính là tiếng cười của tên tướng già. Nhưng lão cười lạ thật. Đôi môi dăn dúm khô nẻ của lão không hề động đậy, chẳng một nét mặt nào chuyển động, con mắt không biểu hiện một thay đổi gì. Chỉ có cái bụng phệ rung chuyển đến nỗi hình như mấy chiếc khuy của bộ quân phục suýt bắn tung ra hết, và hai cánh mũi chằng chịt những đường gân đỏ li ti khe khẽ phập phồng mà thôi. - Nếu ông biết được những điều bí mật của công xưởng chúng tôi thì có lợi gì cho ông, mà có hại gì cho chúng tôi kia chứ? Ông sẽ đem đi nói với bạn bè của mình chăng? Hay sẽ bán cho một nước khác? Pôn im lặng, nhưng nói đúng ra thì lão cũng chẳng đợi anh trả lời. - Ông có thể biết được mọi điều bí mật của chúng tôi. Ông cũng hiểu đấy, tất cả! Chắc là ông muốn biết nó ở đâu chứ gì? Được thôi! ở giữa những dãy núi về phía Tây Nam nước Pháp, ngay dưới vùng được mệnh danh là thung lũng Ma ấy... Pôn cắn chặt môi để khỏi kêu lên. - Có lẽ ông muốn biết chúng tôi đang sản xuất những thứ gì phải không? - Sau một chuỗi cười, lão thiếu tướng thở hổn hển, nên cái bụng phệ của lão rung chuyển mạnh hơn - Cái đó thì tôi có thể trả lòi cho ông rõ. Chúng tôi đang chế tạo thứ ống kính dùng để ném bom tự động... Thế bây giờ, dĩ nhiên là ông sẽ hỏi vì sao chúng tôi thành thật đối vói ông như vậy, phải không? Hai con mắt của lão long lên sòng sọc, và tất cả những nếp nhăn trên mặt đều run lên. - Tôi chỉ có một câu hỏi đối với ngài thôi, thưa ngài Thiếu tướng, căn cứ vào đâu mà ngài giữ tôi lại đây. Tôi không phải là tù binh cũng chẳng phải là phạm nhân. Tôi đã ký hợp đồng làm công cho một xưởng chế tạo máy bay Pháp. Thế rồi đang đêm một bọn người lạ mặt kéo đến nhà tôi tự nhận là thay mặt Ban giám đốc nhà máy yêu cầu tôi theo họ ngay tức khắc để hỏi ý kiến về một vấn đề gì đó rất khẩn cấp. Ra đến ngoại ô họ dùng sức mạnh đẩy tôi vào một chiếc ô-tô kín mít và chở tôi đi. Tôi phản kháng những hành động ấy, thưa ngài Thiếu tướng, đó là một sự vi phạm chưa từng thấy vào những điều luật tối thiểu nhất phá hoại quyền sống của con người...
- Đủ rồi! - Bất thình lình tiếng cười của lão thiếu tướng ngắt ngang câu nói của Ăng-đơ-rây, tay lão đập mạnh xuống bàn - Điều luật, quyền sống của con người... Những danh từ ấy ông hãy để dành lại cho các cuộc mít tinh. Chúng tôi là người lớn và có thể xoay chuyển được mọi việc mà không cần những thủ đoạn mỵ dân. Cái quyền hành độc nhất không thể chối cãi được đang tồn tại trên thế giới chính là quyền của sức mạnh. Mà sức mạnh, cái đã từng làm cho ông phải ngạc nhiên, hiện nằm trong tay chúng tôi. Ông là một nhà chế tạo máy bay tài giỏi, nên chúng tôi rất cần ông. Quyền hành của chúng tôi và nhiệm vụ của ông đều xuất phát từ chỗ đó. Ông hiểu chứ? - Không thật hiểu lắm. Trong lập luận của ngài có một điều thiếu sót căn bản, có thể nói, là một sự tính nhầm. Hiện nay ngài có thể ỷ vào sức mạnh vật chất, mà trước đây ngài cũng đã từng cậy khỏe như vậy. Nhưng bạo lực đối với tôi, như ngài đã nói đấy, đối với một người có tài... - Ồ, ông cho chúng tôi trẻ con đến thế ư? Không phải là một sự tính nhầm đâu, mà chính chúng tôi đã căn cứ vào một bài tính chính xác nhất để áp dụng những biện pháp cực đoan đó. Đặt con người vào những điều kiện khắc nghiệt nhất, bóp cái tia hy vọng thoát thân mỏng manh nhất trong lòng họ. Tôi tin là ông đã làm quen với lưới bố phòng của chúng tôi và có dịp đến thăm lò hỏa táng rồi. Cuối cùng chúng tôi chừa lại cho họ cái cơ hội thoát thân bé nhỏ độc nhất. Lão thiếu tướng đắc ý kéo dài câu nói cuối cùng, cố tìm trên nét mặt của người nói chuyện với mình một phản ứng đối với câu nói đó. Nhưng Pôn đã nén lại không để lộ ra nỗi thất vọng của mình và cơn phẫn nộ sắp nổi lên. Anh hỏi bằng một giọng ôn tồn, đến nỗi chính bản thân anh cũng phải ngạc nhiên trước sự bình tĩnh của mình: - Thưa ngài, vậy ngài muôn nói đến cái cơ hội nào thế nhỉ? - Ha - ha - ha! Ông muốn tôi mở những tấm bản đồ của mình ra ngay lập tức bây giờ hay sao? Sợ gì mà tôi lại không giở nó ra kia chứ. Có điều là tất cả những gì mà ông đã và sẽ thấy được trong xưởng của chúng tôi, cũng như những điều mà tôi sắp nói với ông, ông sẽ không thể nào nói lại cho bất cứ một kẻ nào hết, họa chăng ông chỉ nói lại được với Diêm Vương mà thôi. Vì ông không phải tên Pôn nữa, mà ông đang mang con số 2948, và việc thoát khỏi nơi đây để trở lên mặt đất thì đến những người đã hóa ra ma rồi cũng không hòng thực hiện được. - Nghĩa là cái cơ hội mà ngài nói thực tế chỉ bằng con số không thôi hay sao? - Đối với mọi người thì thế thật. Nhưng đối với ông và một vài người nữa đại loại như ông thì không phải thế, cố nhiên nếu ông biết cân nhắc điều hơn lẽ thiệt. Nhân tiện, ông có thể ngồi xuống và lấy xì-gà mà hút. Xì-gà ngon sẽ giúp cho ông cân nhắc được điều hơn lẽ thiệt đó. Lão thiếu tướng đẩy hộp xì-gà đến gần Pôn và tự tay bật lửa lên cho anh. Châm thuốc xong. Pôn rít lấy rít để, nên bỗng chốc mọi vật chung quanh đều bị quay cuồng. - Lâu lắm rồi anh không được hút phải không? ổ, không hề gì! Bây giờ thoát khỏi cái nạn ấy rồi! - Lão thiếu tướng nói với cái giọng y như lão với Pôn là một đôi bạn cũ, hẹn gặp nhau để nói chuyện tâm tình. Pôn rít thêm một hơi nữa, và đầu óc anh đã tỉnh táo ra. Anh tự nhủ thầm: "Đừng để lộ ra sự hồi hộp của mình, cố mà trấn tĩnh, lắng nghe cho bằng hết những điều mà thằng cáo già này sắp phun ra... Chúng đang cần đến mình làm việc gì đó, nên phải lợi dụng ngay cái ấy. Điều chủ yếu là phải tranh thủ thời gian và tìm, tìm, tìm cho được lối thoát!". - Ông có thể cầm lấy xì-gà mà hút. - Thưa Thiếu tướng, tôi được gọi đến đây có phải là để nghe một phát minh mới đầy thú vị không?- Pôn hỏi có ý giễu cợt. - Cũng đúng một phần, chúng tôi có thể giảm nhẹ cái chế độ lao tù đối với các anh, nếu chúng tôi xét thấy anh là một người biết điều. - Giả sử tôi là một người biết điều đi... - Thì anh nên nghĩ như thế này: Thắng lợi của nước Đức là con đường thoát thân độc nhất đối với tôi, với điều kiện là tôi sẽ đóng góp vào thắng lợi đó, bởi vì trong trường hợp bại trận thì công xưởng này sẽ tan ra mây khói, và bản thân tôi cũng tan xác theo nó... - Thưa Thiếu tướng có lẽ chúng ta không cần tấn công nhau về tâm lý nữa, xin ngài cứ nói thẳng cho, ngài cần gì ở tôi?
- Đồng ý thôi, chúng ta sẽ nói chuyện cởi mở với nhau vậy. Tôi thấy ông là một chuyên gia lành nghề. Nguyên là những máy ngắm đặt trên các máy bay ném bom của chúng tôi hiện nay chưa làm cho chúng tôi mãn nguyện. Chúng tôi đã tập hợp lại đây một số kỹ sư lỗi lạc. Chúng tôi không hề để ý đến chủng tộc, xu hướng chính trị và bất cứ một việc nhỏ nhặt khác nào của họ, những thứ mà trên mặt đất có rất nhiều ý nghĩa. Chúng tôi đòi hỏi ở họ, cũng như ở ông chỉ một điều thôi: giúp chúng tôi giải quyết một vài khó khăn về kỹ thuật mà chúng tôi vấp phải trong quá trình cải tiến những máy ngắm nói trên. Tất cả những bản vẽ cần thiết, những số liệu kỹ thuật thì ngày mai ông kỹ sư trưởng sẽ giao lại cho ông. Ông được toàn quyền sử dụng cả một thư viện, một số nhân viên giúp việc, và có quyền ra vào tất cả các phân xưởng. Một tháng sau, ông phải trình bày cho tôi những đề nghị của ông. Chúng tôi sẽ xem xét, và nếu thấy ông đi đúng đường, thì những điều giao ước của chúng tôi mới có giá trị, chúng tôi sẽ bảo đảm tính mạng và tự do cho ông, sau khi công xưởng đã ra công khai, nghĩa là sau khi chiến thắng. Chính cái cơ hội mà tôi vừa nói với ông cũng nằm trong ấy... ... Pôn cẩn thận trở mình trên những tấm ván nhỏ, cố không chạm đến người bên cạnh. Nhưng Stắc có ngủ đâu. Anh ghé sát vào tại tai Pôn, thì thầm: - Nào, cậu định sao? - Thì tôi đã nói với anh rồi đấy thôi. Cứ xé tan những bản vẽ kỹ thuật và ném thẳng vào cái bộ mặt dơ dáng của tên kỹ sư trưởng. - Ngốc ơi là ngốc!- Stắc kêu lên - Cậu cần phải lấy hết những giấy tờ mà chúng sẽ đưa cho cậu. Xong học thuộc lòng tất cả những số liệu kỹ thuật và nói chung phải nhớ hết những gì có liên quan đến kiểu máy ngắm ấy. - Để mang xuống truyền lại cho Diêm Vương như lão Thiếu tướng nói chứ gì? - Để chuyển nó lên mặt đất, nếu chúng tớ thành công trong việc tổ chức cho cậu vượt ngục. - Chúng mình vẫn cứ mừng thầm với những hy vọng hão mãi. Sau cuộc nói chuyện với lão Thiếu tướng tôi càng tin chắc vào điều đó hơn. Nếu có cơ hội thoát đi chăng nữa, nhưng chúng không giao những bản vẽ bí mật kia cho tôi thì ăn thua gì. - Nhưng những bộ phận máy đang được đóng hòm và chất vào xe ngầm. Chẳng lẽ làm như vậy để rồi bỏ lại đây, dưới hầm này hay sao. Bây giờ anh em đang chở những hòm ấy theo con đường sắt đi đến một địa điểm khác. Trong vòng một tháng mà chúng đã cho cậu, cần phải lợi dụng cơ hội để tránh những hành động liều lĩnh nguy hiểm cho tính mạng... Phụ trách việc đóng hòm là hai đồng chí của ta, Rô-be và Va-stáp. Hôm nay tớ sẽ bàn bạc với các cậu ấy. - Chúng ta có thể làm tan vỡ tổ chức bí mật này. - Chúng mình tổ chức nó để đấu tranh. Mà đấu tranh thì phải mạo hiểm. Nhiệm vụ của chúng mình là hết sức giảm bớt sự mạo hiểm ấy. Nhưng đó là công việc của ủy ban, chứ không phải của cậu đâu. - Nhưng vì sao tôi lại là một trong những người được cái may mắn thoát thân cơ chứ? Anh Giu-lơ, và Rô-be còn có thể làm được bao nhiêu việc có ích cho sự nghiệp chung. Anh nắm những đầu mối liên lạc rộng rãi và đã làm công tác bí mật lâu năm rồi, còn tôi chỉ là một cán bộ tầm thường của phong trào kháng chiến mà thôi. - Trong trường hợp này cậu là một người có thể giúp ích cho sự nghiệp của chúng ta nhiều hơn ai hết. Cậu là kỹ sư, mà nhiệm vụ chính của chúng ta là phải chuyển giao tài liệu bí mật về thứ vũ khí mới này. Cho nên thay mặt ủy ban tớ ra lệnh cho cậu: Hãy giả vờ cúi đầu nhận phúc lành của lão Thiếu tướng đã ban cho... - Nếu anh lấy tư cách Chủ tịch ủy ban ra lệnh cho tôi thì... - Gượm đã! Trước hết cậu hãy kiểm điểm lại bản thân xem có đủ can đảm để làm cái việc liều lĩnh đó không? Cân nhắc xem. Hiện chúng ta chưa biết những chiếc hòm máy móc ấy sẽ được chuyên chở đi đâu. Có thể là anh em đang còn kiểm tra lại trước khi cất lên các toa xe. Cậu chớ quên là nơi trú ẩn tạm thời có thể biến thành chiếc quan tài vĩnh viễn đấy. Vì chúng ta không tưởng tượng được những hòm đồ đạc kia đang được sắp xếp như thế nào. Cậu có thể thoát khỏi tay chúng không? Cậu sẵn sàng đảm nhiệm công tác đấy chứ? - Tôi sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ của ủy ban bí mật. - Thế thì ngày mai chúng ta sẽ vạch kế hoạch và bắt đầu chuẩn bị thực hiện thôi. Cậu sẽ đứng ngoài để tránh sự nghi ngờ. Công việc của cậu là nhớ cho bằng hết mọi điều gì có thể giúp ích được cho anh em chúng ta trên mặt đất... Và bây giờ cậu hãy ngủ đi! Tất cả chúng ta cần giữ đầu óc cho tỉnh táo. Stắc ròi khỏi anh bạn láng giềng và lăn ra ngủ ngay. Riêng Pôn vẫn nằm thao thức mãi. Mái trần bê tông thấp lè tè gần sát mặt giường. Cho nên anh cảm thấy như có một cái nắp quan tài đang áp trên người mình. Phải chăng muốn thoát khỏi cái chốn này quay lên mặt đất thì chỉ có cách chui vào hòm và đóng kín lại? Vậy thì Pôn còn hy vọng trông thấy ánh sáng mặt trời và kể lại cho người ta nghe những điều bí mật của thung lũng Ma chăng? Quả thực đây chỉ là trò hú hoạ, 'CÒ quay, trăm phần không chắc được một! Và lấy cái gì để đảm hảo rằng anh không bị chết ngạt trước khi anh được tự do! Vì cái hòm mà anh em sắp bỏ anh vào rất có thể bị chất dưới cùng và lúc đó thì...-Pôn thở dài đánh thượt một cái, đưa tay kéo mạnh cổ áo sơ mi xuống tựa hồ như anh đang bị thiếu không khí thật. Anh có hoảng không? Tất nhiên là có! Sợ đây không có nghĩa là hèn nhát. Thực ra thì Pôn tự nguyện để cho anh em liệm sống mình vào cái quan tài chật hẹp ấy. Nhưng anh nhất định sẽ thoát khỏi nơi này! Anh sẽ hoàn thành những việc các đồng chí giao cho. Pôn chống khuỷu tay chồm dậy và nhìn sang trại lính. Đằng cuối lối đi, giữa những dãy sạp ván hai tầng, một ngọn đèn điện bé tí tỏa ánh sáng lờ mờ. Trong khoảng tòi, ngọn đèn chiếu rõ hai đầu sạp và mấy cái thân hình nằm còng queo trên ấy. Người tù binh 1101! Ban chiều một trận sốt rét đã hành hạ anh ta, gần sáng, chắc anh ta không dậy nổi, vì thế anh ta chỉ còn một con đường duy nhất! Phải trốn khỏi nơi này ngay! Và không chỉ cốt thoát thân mà thôi. Anh còn nhiệm vụ tước lấy thứ vũ khí quái gở kia trong tay kẻ địch. Dù chỉ còn một cơ hội nhỏ nhất để đạt được mục đích ấy. Pôn cũng phải lợi dụng ngay cơ hội đó. Anh thiếp đi và trong phút chốc anh mơ thấy Lu-y-da đứng trước mặt mình. Đúng là chị đã từ Pa-ri về làng và đang sống với mẹ ở cách chỗ anh vẻn vẹn có vài cây số thôi. Giá mà chị biết hai người sống rất xa nhau mà lại rất gần nhau như thế này nhỉ! Mới đấy mà đã gần ba năm trời họ không gặp nhau rồi. Trước khi Pa-ri thất thủ Ăng-dơ-rây, một đảng viên cộng sản đã đổi tên họ và làm ở xưởng chế tạo máy bay bị quân đội Hít-le tịch thu. Ăng-đơ-rây tức là Pôn không gửi được thư về cho vợ. Rồi ít lâu sau anh bị người ta bắt cóc xuống đây.