"Ba đã được nghỉ phép mười hôm, kể từ ngày 25 tháng giêng. Đúng ngày 24 tháng giêng con phải về đến Mu-khen. Hôn con. Ba của con". Giọng đó giống một mệnh lệnh hơn là lời mời. Hen-rích nhận được bức điện của Béc-gôn ở phòng tham mưu và anh tức tốc đi tìm E-véc. Nhưng E-véc không đọc qua bức điện. - Tôi biết rồi, biết hết cả rồi! Hôm kia thiếu tướng Béc-gôn có gọi dây nói cho tôi, và tôi cũng đã hứa cho anh về rồi. Nhưng tôi không thể nào cho anh về quá năm ngày. Anh báo lại cho ba anh biết hoàn cảnh của chúng ta để ông ấy đừng có ấn tượng là tôi quá khắt khe với sĩ quan, vả lại, tôi tin rằng ba anh thông hiểu tình hình ở đây chẳng kém gì chúng ta đâu. Giá mà lúc khác thì tôi sẵn sàng để cho anh nghỉ đến hàng tháng cũng được, nhưng bây giờ thì... - Thưa Trung tướng, xin cảm ơn ngài! Thê là lại phải đi Mu-khen. Chỉ còn một mình Mi-le biết được mục đích của chuyến đi này mà thôi. Ngay đối với đại úy Lút, Hen-rích cũng quyết định chưa nói cho gã biết vội về quan hệ giữa anh và con gái tướng Béc-gôn. Biết tin Hen-rích sắp đi phép, Lút dặn dò: - Thôi, cậu sắm sửa mà lên đường, Hen-rích nhé - Lút vừa nói vừa thở dài - Tớ hy vọng cậu sẽ moi được ở ba cậu những tin tức mà ngay cả báo chí và đài phát thanh cũng không thấy nói đến. Tớ muốn hiểu biết cái thế giới bên ngoài vô cùng. Chán cuộc đời sên ốc này lắm rồi: người ta chôn vùi mình trong cái xó u tì này, rồi ngồi đây, chẳng thấy, mà cũng chẳng nghe cóc khô gì hết. Những ngày sửa soạn nghỉ phép trôi qua vùn vụt. Phải xuống Pôn-chây một lần nữa để xem xét lại việc xây công sự, mang tập công văn về Sam-bê-ri, hoàn thành vài công việc lặt vặt, nhưng khá phức tạp. Vì bù đầu trong công việc nên Hen-rích chỉ gặp Mô-níc một lần: nàng đến để báo cho anh biết Lút-vin đã bình yên vô sự. Nàng quá lo cho số phận của Lút-vin và Hen-rích đến nỗi bây giờ gương mặt nàng sáng ngời lên vì sung sưống, cho nên Hen- rích không muốn nói cho nàng biết chuyến đi Mu-khen của mình. Nhưng Hen-rích không thể giấu mãi được nữa. Trước hôm lên đường anh xuống tiệm ăn báo tin là buổi chiều anh sẽ đến để từ biệt. Bà Tác-van trách anh: - Ông Hen-rích, mới đó mà đã ba ngày ông không bước chân qua ngưỡng cửa hiệu này rồi! Tôi biết là chúng tôi đã làm ông phải lo nghĩ nhiều!... - Lạy chúa. Quả thật tôi không muốn phiền bà nhiều. Vì hiện nay phải chật vật lắm mới tìm ra cái ăn. Ông chủ câu lạc bộ, nơi chúng tôi ăn trưa, thường phàn nàn như vậy, mà ông ta thì lúc nào cũng được mua trước và mua tha hồ. - Nhưng tôi có mở thêm hàng cơm nữa đâu! Đối với ông thì lúc nào chúng tôi cũng cố xoay ra cái ăn cho đủ, khó khăn gì cái ấy. - Thưa bà, tôi vô cùng cảm động trước lòng tốt của bà. Mỗi một bước chân đi, tôi đều cảm thấy thế. Và bây giờ tôi rất buồn vì phải xa bà và cô Mô-níc trong vài hôm. - Thế nào, anh lại đi à? Bao giờ, đi đâu?- Mô-níc cố giấu nỗi lo lắng, nhưng mặt nàng bỗng buồn thỉu. - Sáng mai tôi đi Mu-khen. - Ô, lại đi Mu-khen! - Lần này nghỉ vẻn vẹn có năm hôm thôi. Trung tướng không cho phép tôi đi lâu hơn nữa. - Vậy mà anh rẽ sang đây từ giã thế đấy, chỉ được một tẹo!- Mô-níc nói dỗi. - Tôi đến để xin phép được gặp cô chiều hôm nay. Đã lâu chúng ta không gặp nhau! Nhưng đến chiều Hen-rích không gặp Mô-níc được. Lút ở đâu bỗng mò đến. - Thế nào mà cậu phá cả tập quán vậy, Hen-rích? Buổi chiều trước khi ra đi phải bù khú vói anh em trong đơn vị chứ. - Tất nhiên, giá mà tổ chức được buổi liên hoan chia tay nho nhỏ thì hay quá, nhưng cái món ấy bây giờ không hợp thời đâu Lút ạ, thậm chí còn có vẻ bất tiện nữa. Tình hình chiến sự không được tươi lắm... - Cứ nói trắng ra là rất bi đát. - Nếu cứ nói toạc móng heo thì bi đát vô cùng! - Vì vậy mà ngót tháng nay tổ phải chạy như một thằng rồ - Lút than vãn mệt mỏi - Tớ có cảm tưởng y như lúc nào người ta cũng lừa dối tớ, như phỉnh một thằng ngốc, rồi độp một cái tất cả đều lòi đuôi: hết thảy những gì tớ tin tưởng đều đúng cả, còn những gì mà người ta buộc tớ phải tin đều là ảo tưởng, là trò hề, không hơn không kém. - Tình hình chiến sự ở Sta-lin-gơ-rát ảnh hưởng đến cậu ghê thế à? - Cái ấy chỉ giúp tớ nhận thấy vấn đề nhanh hơn mà thôi. Nước Đức, như trước kia người ta vẫn khoe với chúng mình, cần phải chinh phục cả hoàn cầu, cần bắt cả châu Âu phải quỳ gối trước mặt nó, bây giờ nó không thể nào giải vây nổi cho ba chục vạn quân tinh nhuệ của mình nữa! Bộ tư lệnh của chúng ta cử viện binh đến cứu bọn bị vây, y như ném củi vào lò vậy, chúng ta đang dốc vào Sta-lin-gò-rát tất cả những sư đoàn, quân đoàn mới, và thực ra chúng cũng đang cháy sạch ra tro. Tốt hơn hết là rút béng những đội quân đã mất hồn, đã tơi tả kia ra khỏi cái đất ấy đi! Chao ôi, sao lòng tớ thấy đau xót đến thế!
Hen-rích và Lút đã nhiều lần bàn tán về tình hình chiến sự, nhưng chưa khi nào Hen-rích thấy bạn mình có một tâm trạng nặng nề như lần này. - Thôi, Lút ạ, cậu ngủ lại đây một đêm vậy. Chúng mình sẽ ăn cơm, tri kỷ vụn với nhau... Mình cũng chưa từ giã cô Mô-níc nữa, ta mời cả cô ấy nhé. - Tổ ở lại đây không làm phiền gì cậu chứ? - Nếu cậu đồng ý, mình sẽ gọi dây nói mời cô ấy và đặt vài món ăn. Hen-rích với lấy ông nói, nhưng những ông khách bất ngờ là Mi-le và Dộ-ghen lại tới gõ cửa. - À, ra thế! Ông định cuốn gói về Mu-khen mà không từ biệt anh em đấy phỏng?- Mi-le đứng trên ngưỡng cửa nói vào. - Ông xem này, tôi còn đứng bên cạnh máy nói và đang định gọi ông đây- Hen-rích nói dối. - Dô-ghen, vậy mà tôi bảo chúng mình vác mặt đến chưa được một lời mời nào là không tiện đấy! Còn ông Lút, ông cũng ở đây à? Thật là anh hùng tương ngộ! Ngày 24 còn vui hơn nữa đấy. Mà có lẽ chúng mình mời cô ả sang chứ? Trong cái thế giới đàn bà, các ông biết không... Hen-rích liếc nhanh đôi mắt nhìn Lút, và gã hiểu ý. - Được sự ủy quyền của thượng úy Hen-rích trong khi ông ta bận mặc quần áo, tôi đã có lời mời cô ả rồi. Nhưng cô ả đang mệt. Thế là buổi liên hoan của chúng ta hoàn toàn chỉ có mấy thằng đực rựa chưa vợ. Hen-rích không còn cách nào khác, đành lôi mấy ông khách trâng tráo của mình ra hiệu. Dù Hen-rích cố dứt ra khỏi hai tên Mi-le và Dô-ghen thật sớm, nhưng bữa cơm tối cũng kéo đến khuya. Chẳng còn cách gì để nghĩ đến cuộc gặp gỡ với Mô-níc nữa. Thật vậy, mãi gần sáng Hen-rích mới kịp tranh thủ tạt qua chỗ nàng vài phút. Anh đinh ninh là mọi việc sẽ tốt đẹp, nhưng Mô-níc không tin là khách khứa bất ngờ kéo đến phòng Hen-rích khiến anh không đến được với nàng. Hen-rích vế với vợ chưa cưới của mình, lòng nặng trĩu. Và trước khi đi cũng như lúc vừa lên tàu anh cố không nghĩ đến ả, thậm chí cố quên là mình đi Mu-khen với mục đích gì. Thoạt tiên anh đã xua đuổi được những ý nghĩ đó. Rồi hình như nét mặt buồn bã thoáng vẻ giận dỗi của Mô-níc hiện ra trước mắt anh che lấp hết mọi vật chung quanh. Phải, nàng có quyền giận anh. Mà không phải vì lý do anh không giữ đúng lời hứa và không đến để từ giã nàng đâu. Hen-rích đau khổ vì chuyến đi của anh như một việc làm vụng trộm, vì anh không nói rõ cho Mô-níc biết trò chơi bất đắc dĩ của anh đối với Lô-ra. Nhưng làm thế nào để giải thích được mối quan hệ của mình với ả kia? Không rõ nguyên nhân, Mô-níc không sao bỏ qua được câu chuyện đó. Mà trình bày nguyên nhân ra thì không thể được. Mọi việc trở nên rắc rối... chỉ vì trên đường đi của anh có thêm Mô-níc và anh không phát hiện được đúng lúc mối nguy cơ đang đe dọa anh và Mô-níc. "Bây giờ muộn rồi... bây giờ muộn rồi... bây giờ muộn rồi"- bánh xe kêu sình sịch đều đều như nhắc nhở. Lúc này không nên nghĩ vớ vẩn nữa. Hen-rích cố xua đuổi những ý nghĩ vương vấn. Tốt hơn hết là nghĩ đến Lô-ra, đến những cô gái bất hạnh bị ả hành hạ. ít ra ý nghĩ đó cũng gây nên sự giận dữ mà giận dữ căm phẫn bao giờ cũng đi liền nhau. Thực ra thì anh thiết gì vợ chưa cưới của mình, thiết gì đến mọi thứ của nhà vợ, nhưng anh giả vờ say mê, và tán tỉnh Lô-ra, cần nghe những câu châm ngôn dài lê thê của Béc-gôn, cần hôn tay mụ En-da. Và cuối cùng anh còn phải đeo chiếc nhẫn cưới vào ngón tay của Lô-ra nữa. Cái ngón tay đã từng cầm roi da vụt vào đầu chị em tù nhân. Không được, bây giò ngủ một giấc còn tốt hơn nghĩ đến chuyện ấy. Giúi cho người nhân viên hỏa xa món tiền để anh ta không xếp thêm người vào buồng mới hòng yên giấc được đến sáng. Tảng sáng Hen-rích tỉnh dậy tại Mun-ga, một thị trấn Đức nhỏ bé ở miền biên giói. Anh phải tạm nghỉ lại đây đến chiều mới chuyển sang chuyến tàu đi Mu-khen. Sau khi gửi va-li vào phòng hành lý, Hen-rích đi dạo phố. Bị om mãi trong bầu không khí oi bức trên toa khiến đầu óc trở nên nặng nề, nên khi lững thững bước trên hè phố hít thở làn không khí lành lạnh anh cảm thấy khoan khoái vô cùng. Tuy vậy chỉ được một chốc Hen-rích đã thấy chán. Anh không mệt, nhưng anh nhìn thị trấn bằng con mắt dửng dưng, buồn bã. Phố xá trông trải yên lặng khác thường. Khách qua đường nhiều nhất là phụ nữ và trẻ con lủi thủi im lặng, lo âu rảo bước vội vàng thỉnh thoảng vừa đi vừa thì thầm với nhau vài câu cụt lủn gay gắt. Ngay đến đám học sinh cũng giống hệt như các cụ non, không hề cười đùa, nô nghịch, kêu la như thường lệ.
Khoảng mười một giờ, Hen-rích đã đói, nên vừa trông thấy tấm biển của một hàng cơm, anh liền rẽ vào ăn trưa. Trong phòng cũng vắng ngắt. Một người khách độc nhất rầu rầu gục đầu trên cốc bia thiu thiu ngủ và cô hầu bàn đang lúi húi bên quầy hàng. Trông thấy khách mới vào, cô vội vàng bước lại gần và trước tiên cô hỏi xem Hen-rích có phiếu thực phẩm không. Rồi cô chậm chạp xé phiếu, và sau đó mới hỏi anh dùng những thức gì. Cô chỉ hỏi theo thói quen nhà nghề, bởi vì sau một lúc hỏi thăm mới rõ là những thức anh chọn, trong quán đều không có. Cả bữa ăn vẻn vẹn có hai quả trứng, ít cá hộp, một cốc bia và một tách cà-phê. Ăn xong, Hen-rích mới ân hận vì anh không nghe lời bà Tác- van nên đã không mang theo thức ăn dọc đường. Trong cá hộp thấy có vật gì đáng nghi nên Hen-rích không dám đụng đến, bia thì rót trong thùng tô nô ra có mùi đăng đắng, còn cà-phê, như cô hầu bàn đã báo trước, là cà-phê giả. Ăn hết hai quả trứng, Hen-rích lại thấy đói hơn. Lúc dùng cà-phê, đôi mắt anh dừng lại chỗ ông khách độc nhất trong quán. Đó là một ông già trạc sáu mươi nhăm. Ông ta đang say mềm. Thời xưa chắc cặp mắt ông cũng xanh, nhưng bây giờ ông đang nhìn Hen-rích với con mắt tàn héo của tuổi già, trong đó lóe lên sự căm thù, và đôi môi ông cong vênh lên trong nụ cười kháy khinh bỉ: - Thế nào, thưa quan lớn, ngấy lắm phải không? - Ông giễu cợt hỏi và hất hàm về phía cốc bia và hộp cá bị gạt sang bên - Ngài tưởng rằng ngài đáng được hưởng hơn thế nữa ư? Tôi bảo là không! Ngài không đáng được hưởng hơn thế nữa. Ông già cầm lấy cốc bia uống dở và ngồi lại gần Hen-rích. Bây giờ họ ngồi sau dãy bàn bên cạnh, gần như ngang đấy, Hen-rích nghe rõ cả hơi thở khò khè của ông già. - Cõi thiên đàng mà các ngài định xây trên nước Đức giờ ở đâu vậy, thưa ngài? Đã hơn mười năm nay tôi chờ đợi cõi thiên đàng đó. Từ ngày mà tôi tin theo các ngài và cùng với các ngài hò hét: "Nước Đức, nước Đức trên hết!". Chao ôi, tôi không khỏi xấu hổ khi nhớ lại hành vi ngu ngốc tai hại kia! Tin tưởng các ngài! Để cho các ngài lừa bịp như thế! Tôi xin hỏi ngài, tất cả những gì các ngài đã hứa với tôi, một người dân Đức bình thường, ngoài hai bàn tay trắng ra không có một vật gì khác, ở đâu! Hen-rích ngả người trên ghế, lấy làm thú vị nghe ông già thuyết. - Đấy, ngài đã nếm mùi một bữa ăn sáng và ngài phải gạt ra! Cái mùi khó ngửi quá nhỉ. Ngài không quen với nó ư? Ngài có biết rằng tôi không mua nổi hai quả trứng về nhà cho mụ vợ đang ốm của tôi không? Các ngài hứa cho tôi toàn thế giới, mà bây giờ tôi sắp chết đói, tôi không có một thứ gì để nuôi gia đình tôi nữa... Các ngài chiếm nước Áo, cái khoản ấy thì vừa vặn cho vài đội lính cảnh sát. Các ngài chiếm đóng nước Tiệp Khắc bị bán rẻ, nhưng đất nước ấy đã làm cho các ngài quay đầu lại. Các ngài lại rơi vào nước Nga! Các ngài muốn cướp đồng ruộng và lúa mì của nước ấy phỏng? Thế thằng Hen-mút của tôi đâu? Tôi hỏi ngài thằng con duy nhất của tôi đâu? Quỷ thần ơi tôi cần cái đất Sta-lin-gờ-rát đó làm đếch gì kia chứ? Ai sẽ trả con cho tôi? Ai? Hả, sao ngài nhìn tôi chòng chọc thế kia? Ngài tưởng tôi sợ à? Tôi muốn nhổ toẹt vào mặt ngài ấy! Các ngài đã bắt mất đứa con trai độc nhất của tôi, vợ tôi hiện nay đang ngắc ngoải, thế mà các ngài muốn tôi tự an ủi mình bằng cái giọng lừa phỉnh: rồi con em của các bậc cha mẹ khác cũng sẽ anh dũng hy sinh trên bờ sông Vôn-ga thôi! Ngài nhìn gì tôi? Nào, ngài bắt tôi đi! Bắt đi, xích tay lại đi! Người ta sẽ gắn lên bụng ngài thêm một "chữ thập sắt"1 nữa vì công thanh trừ một kẻ thù bên trong của nước Đức. Nhưng tôi không phải là kẻ thù đâu! Kẻ thù chính là các ngài đấy! Tôi mến nước Đức! Tôi yêu nước Đức; chứ không phải như các ngài! - Ông nói hết chưa?- Hen-rích bình tĩnh hỏi, đưa mắt nhìn về phía quầy hàng. Nhìn cả cô hầu bàn và tên chủ quán từ phòng sau ló đầu nhòm ra, hình như họ vừa nghe lỏm được những lời phản nghịch quá trớn của ông già. - Chưa, tôi chưa nói hết! Tôi còn chưa nói điều này: tôi không phải là cộng sản, nhưng bây giờ, khi nào tôi được gặp lại bạn bè của ông Ten-lơ-man2, tôi sẽ đứng cách ba bước và ngả mũ trước mặt họ, tôi sẽ xin lỗi vì đã không nghe lời họ, mà đi tìm các ngài, cả một phường lừa đảo!------------------- 1. Một loại huân chương thưởng cho các sĩ quan có công với chế độ phát xít Hít-le (ND) 2. Tổng bí thư Đảng cộng sản Đức (ND)
Hen-rích cầm con dao ăn gõ vào đĩa, trả tiền cho cô hầu bàn rồi bỏ ra. "Lại chén chú chén anh rồi!- Hen-rích thầm nghĩ - Đấy, những hậu quả đầu tiên của trận Sta-lin-gờ-rát đấy. Mặc cho say sưa, mặc cho đau khổ, vì con trai của ông ta đã chết gục ở một nơi nào đó trên đồng cỏ vùng Vôn-ga, nhưng người dân Đức bình thường kia đã mở được mắt ra, ông thét vào mặt một sĩ quan Đức những ý nghĩ, mà hồi đầu chiến tranh ông không hề nghĩ đến!". Hen-rích lên xe lửa đi Mu-khen với một cảm giác nhẹ nhõm. Lần này anh không chiếm được một buồng riêng nữa. Bọn sĩ quan tràn lên tàu đầy quá mức. Đơn vị của chúng đang kéo sang mặt trận phía Đông. Suốt đêm chúng chè chén trong toa, gào thét bài ca "Li-li Ma-rơ-len". Nhưng chúng không tìm được nguồn vui, mà chỉ có độc một ước mơ tuyệt vọng là xua đuổi sự sợ hãi đối với mặt trận phía Đông, nơi họ đang đổ xô về, khác nào về chốn âm ti địa ngục... Đúng bốn giờ sáng xe lửa đỗ lại Mu-khen. Hen-rích rẽ vào hiệu, cạo qua bộ râu và quyết định đáp xe về nhà Béc-gôn ngay tức khắc, vì anh còn nhớ lần trước mụ En-da đã không bằng lòng về việc anh ngủ trọ trong khách sạn nhà ga. Sau lần nghỉ phép trước của anh, vợ chồng Béc-gôn bắt đầu chiều theo mọi ý muốn của con gái. Dù muốn hay không, Lô-ra cũng đã sắp thành Nam tước phu nhân rồi! Mặc dầu chưa tổ chức lễ đính hôn chính thức, nhưng Béc-gôn đã thủ thỉ với vợ, với con gái từng lời một trong câu chuyện giữa lão với Hen-rích, rồi lần lượt hai cái mồm đàn bà kia lại mang đi tung ra trong đám bạn bè và những người quen biết. Tiếng đồn vợ chồng Béc- gôn khéo chọn chỗ danh giá cho con gái đã bay đi khắp. Những cánh cửa mà trước kia bất đắc dĩ mới chịu mở ra trước mặt mụ En-da và Lô-ra thì nay lại sẵn sàng mở rộng đón mời. Sự chú ý đó làm cho lòng tự ái của Lô-ra khuây khoả rất nhiều, hơn nữa còn làm nguôi lòng ghen ghét của đám bạn gái. Bây giờ ả tỏ ra đứng đắn hơn, nhìn những người quen cũ bằng con mắt nghiêm trang, còn đối với Bét-ti-na, một người mà cách đây không lâu ả cho là tấm gương sáng đối với mình, nay ả hoàn toàn cắt đứt. Chính mụ En-da đã bắt buộc Lô-ra làm như thế. Phải, Lô-ra hí hửng vì chẳng mấy chốc nữa ả sẽ trở thành Nam tước phu nhân, ả sốt ruột chờ đợi cái danh vọng này, cố sắm sửa cho ngày vui sắp tới. Tất cả thời giờ rỗi ả đều dành để chuẩn bị của hồi môn. Những áo quần đồ đạc theo mốt cũ mà mụ En-da cất kỹ trong các tủ đứng, hòm, tủ ngăn hoàn toàn không làm vừa ý ả. Lô-ra lại thèm trải lên giường ngủ trong căn phòng tân hôn của mình những tấm khăn dệt bằng thứ sợi gai thô sơ kia sao? Hay ả phải mặc chiếc áo ngủ với những đường thêu xiêu vẹo đó? Có thể lấy tấm lụa nhét tận đáy hòm đã ngót nửa thế kỷ nay để may một chiếc áo dài lịch sự chăng? Vậy thì các loại vải thanh nhã của Hòa-lan, các hàng đăng ten của Bỉ, những tấm lụa nổi của Pháp để làm gì kia chứ? Thế là Lô-ga chạy vù ra các hiệu mà ả có thể mua được những thứ hàng ấy bằng lối chợ đen, rồi ả còn trách ông bố Béc-gôn không mang những tấm lông thú từ bên Nga về thay cho mấy bức tượng kinh tởm mà ngày nào ả cũng phải cầm phất trần phất qua một lượt. Lô-ra vòi tiền mụ En-da, hết món này đến món khác, để ả khỏi phải bẽ mặt với Hen-rích, trước vị Nam tước yêu quí của ả, người thừa kế quang vinh của dòng họ Phôn Gôn-rinh. Trong phần của hồi môn lại có cả cái ấp trại đen tối kia. Cho nên bây giờ bà chúa trại tương lai đến đó không phải để giải trí, mà để kiểm tra từng chi tiết lặt vặt, từng mệnh lệnh của ả nhằm phát triển và làm thịnh vượng cái dinh cơ nhỏ bé này bằng con mắt của một bà chủ. Và ngọn roi da nặng chịch, cong tếu mà Béc-ti-na tặng ả ngày nào đang treo trên tường lại được lôi xuống. Lô-ra khoe với mụ En-da là ả đã may thêm một bộ quần áo đi làm tuyệt đẹp. Việc trang điểm đó do Béc-ti-na bày vẽ cho. Cứ mỗi lần đến trại là ả vận ngay bộ cánh ấy vào: chiếc áo da ngắn đến thắt lưng, cái quần ống tuýp với những đường thêu tinh vi đến nỗi chúng làm mờ cả mấy bộ trang phục rất lộng lẫy của Nam tưốc phu nhân tương lai, đôi giày ống đánh xi bóng lộn, chiếc mũ lông nhỏ xíu chụp trên đầu. Mụ En-da cũng phải thừa nhận rằng ngọn roi da đã làm nổi bật nét độc đáo của bộ y phục thể thao nửa mùa kia. Những cuộc giải trí ngày trước của cô con gái không làm cho mụ lo lắng nữa - vì Lô-ra đã thực sự trở thành một con người điểm đạm rồi. Và bây giò thì ả bận túi bụi với công việc tề gia nội trợ. Vì một người phụ nữ Đức đảm đang không những chỉ quan tâm đến tổ ấm của mình, mà còn phải làm thế nào để cái nguồn nuôi sống tổ ấm đó không bị kiệt quệ nữa.
Quả thực Lô-ra có giữ được những tập quán lạ lùng kia trong ít lâu. Rồi nếu thời gian xa cách vị hôn phu kéo dài thì thái độ kiên nhẫn đối xử với bọn phụ nữ "lười nhác", coi thường quyền lợi của bà chủ họ, lại giảm đi. Và chị em tù binh bất hạnh lại phải nếm ngọn roi da cứ rít lên nghe đến rợn gáy của Lô-ra. Á hành hạ hết sức tàn nhẫn những người dám làm nhục ả, dù chỉ một lần thôi, bằng một hành động bướng bỉnh, hoặc một nụ cười, một cái nhìn. Ngay hôm đầu ả vận bộ y phục thể thao đến trại, chị Ma-ri-na, tuổi mới mười bảy, không nhịn được nên lấy tay che miệng cười thầm. Lô-ra vờ không biết, nhưng suốt buổi sáng hôm đó ả tìm mọi cách để rửa cái nhục ấy. Chỉ một lát sau ả đã kiếm được cớ ngay: Ma-ri-na xách nước sôi để trộn thức ăn cho súc vật, bị vấp ngã, đánh đổ cả thùng nước, và không may cánh tay lại bị bỏng. Chưa kịp đứng dậy thì một trận mưa roi đã trút xuống. Từ đó trở đi Lô-ra không rồi mắt rình mò cái bóng dáng bé nhỏ của Ma-ri-na. Còn Ma-ri-na thì cúi gập người lại dưói sức nặng của hai cái thùng to tướng, suốt ngày cô phải gánh nưốc và bê thức ăn cho súc vật. vết bỏng trên cánh tay chữa lên da non đã bị thối loét, nên chẳng những lúc làm việc cô thấy khó khăn hơn, mà trong khi đi đứng cô cũng thấy vướng. Vậy mà ngày nào cũng vẫn bị roi vụt tới tấp vào vai, vào lưng, vào cánh tay đau của cô. Vì làm việc nhiều, vì đau đớn, vì những lời đay nghiến hàng ngày mà Ma-ri-na bị kiệt sức, và gần như mất trí. Hễ nghe tiếng còi xe hơi là cô lập cập run lên như đang cơn sốt, chạy núp vào sau lưng các bạn, cố không cho bà chủ trại trông thấy. Nhưng ả vẫn tìm ra cô. Một sớm, Ma-ri-na không làm sao dậy nổi, nên lúc Lô-ra đáp xe đến các chị em bạn bè mang cô đi giấu. Họ đặt Ma-ri-na ở sau bếp lò đun nước sôi vừa to vừa cao trong căn nhà nấu thức ăn cho súc vật, và lấy những cành củi khô phủ lên trên, che kín thân hình tiều tụy của cô. Nhưng khi không trông thấy mặt Ma-ri-na, Lô-ra liền sục đi tìm và ả biết ngay có một người đang trốn dưới đống củi. Ma-ri-na bị ghép vào tội không phục tùng, có những hành động táo bạo ghê gớm, muốn làm loạn. Lần này Lô- ra tỏ ra cho mọi người biết là tất cả họ đều nằm trong tay ả. Thậm chí nếu cần đánh chết con người lười nhác đã cố tình làm bỏng tay mình để trốn việc, ả cũng đủ quyền. Ả lấy chân đá tung hết đống củi, rồi giang thẳng cánh vụt lấy vụt để lên lưng Ma-ri-na. Người nữ tù binh đứng tuổi với nét mặt rắn rỏi đang đứng gần đấy thương hại Ma-ri-na quá phát khùng lên bèn ngáng chân cho Lô-ra ngã giúi xuống, rồi vớ lấy thùng nước sôi trên lò giội cả lên người ả. Một giờ sau, khi Béc-gôn về đến trại, thì tên giám thị đã trói gô mấy chị em phạm tội đặt nằm dài trên đông củi. Cạnh đó, Lô-ra - một giọt máu và nguồn hy vọng độc nhất của Béc-gôn, đáng quằn quại trên nền đất vì đau đớn, và đang gào thét khủng khiếp. Chỉ tốn hai viên đạn cũng đủ để trừng trị những kẻ phạm tội, nhưng Béc-gôn không có thời giờ để dây dưa với họ: Trước tiên cần phải tìm cách mang Lô-ra về nhà đã. Chúng đưa nhau về Mu-khen không phải bằng xe nhà, mà bằng xe cứu thương, và mỗi ổ gà trên đường đều khiến cho Lô-ra đau đớn vô cùng. Dọc đường, nghe tiếng con gái rên Béc-gôn mới hoàn hồn. Các bác sĩ cố an ủi lão và cho lão biết rằng còn nguy hiểm hơn, nếu không có chiếc áo da và đôi giày ống che bớt nước sôi: bệnh nhân chỉ bị bỏng nửa dưới, từ thắt lưng xuống đến gối. Bệnh nhân phải nằm sấp không đứng và ngồi được. Việc này xảy ra trước ngày lễ đính hôn, ngày mong ước và chò đợi bấy lâu, chỉ có hai hôm. Gia đình Béc-gôn rất cay cú trước câu chuyện rắc rối bất ngờ. Mỗi người một nỗi khổ: Lô-ra thì khóc sướt mướt từ sáng đến chiều vì đau đớn và xấu hổ. Á không ngờ mình sẽ ra mắt vị hôn phu với bộ mặt như thế. Béc-gôn thì điếng người khi nghĩ rằng tấn bi kịch của gia đình nhà lão không khỏi làm trò cười cho thiên hạ. Còn mụ En-da thì lo ngay ngáy, sợ bao nhiêu tội vạ sẽ đổ lên đầu mụ, vì mụ không trông nom con gái đến nơi đến chốn. Cho nên bây giờ lễ đính hôn sẽ không được tưng bừng như mọi người hằng mơ tưởng. Ngay trước ngày vui của gia đình Béc-gôn một hôm, cảnh tượng trong nhà bận y như cảnh đám tang. Hen-rích về đến nơi lúc bốn giờ ba mươi phút. Mọi người đang chờ đợi anh: tên lính gác chưa kịp giơ tay lên bấm nút chuông điện bên cửa ra vào, thì Béc-gôn đã thân hành ra đến gian nhà ngoài rồi. Mụ En-da cũng nặng nề lê cái khối thịt nùng nục theo gót lão. Hen-rích hơi ngạc nhiên vì không thấy Lô-ra, và Béc-gôn phải bảo anh là Lô-ra hơi khó ở và ả còn ngủ, chứ lão không nói rõ. - Thôi, việc đó ta sẽ bàn sau! Bây giờ con đi tắm rửa, thay quần áo đi, rồi nằm mà nghỉ một tí. Ba thì quen như ở đơn vị rồi nên ba ăn sáng sớm lắm. Nếu con đồng ý thì hai giờ sau cha con ta sẽ gặp nhau dưói nhà ăn. Hen-rích vui lòng nhận lời, anh cảm thấy người như rã rồi sau một đêm mất ngủ trên toa tàu đầy ắp những sĩ quan.
Tắm rửa xong, người tươi tỉnh hẳn và cơn buồn ngủ cũng mất. Ngả lưng được một giờ, anh dậy mặc quần áo và đúng bẩy giờ xuống nhà ăn. Trên bàn đã bày sẵn thức ăn. Béc-gôn và En- da ngồi vào chỗ thường ngày. Ghế của Lô-ra bỏ trống. - Em Lô-ra con hãy còn ngủ hả ba?- Hen-rích ngơ ngác. - Ba khống muốn con phải ngạc nhiên ngay lúc nãy vì một tin buồn. Em Lô-ra con đang ốm, rất nặng. - Ba làm con lo quá, liệu có việc gì không ba? - Giọng Hen- rích run run vì sung sướng: "Có thể phải hoãn lễ đính hôn". Nhưng mụ En-da và Béc-gôn lại hiểu câu đó theo ý của chúng. - Đừng lo, đừng lo con ạ, không việc gì đến tính mạng đâu! Tuy rằng ba phải nhận là sự việc vừa rồi đã cứu thoát Lô-ra. Nguyên nhân là hai ngày trước đây em con nó đáp xe đến cái trại mà ba mẹ định dành làm của hồi môn cho các con. Trong trại có một đứa con gái vừa chây lười vừa ngang bướng. Lô-ra lấy roi vút nó, nhưng không ngờ nó lại cướp mất roi. Lúc đó, con có tưởng tượng được như thế nào không? Một đứa trong bọn tù binh man rợ kia xông tới, ngáng chân làm Lô-ra ngã rồi vơ lấy thùng nước đang sôi sục mà trút vào người nó. Con cũng không thể tưởng tượng được thái độ của ba khi ba trông thấy em con. Có thể vì nhớ đến tiếng rít ghê rợn của ngọn roi trong tay Lô-ra, có thể vì một đêm mất ngủ mà Hen-rích không tự chủ được. Anh đứng phắt dậy, nhìn vợ chồng Béc-gôn bằng cặp mắt kì lạ, giơ chân đạp lùi chiếc ghế của Lô-ra qua một bên rồi bỗng nhiên đâm bổ sang phòng bên ngã vật xuống ghế bành. Lần đầu tiên trong suốt thời gian hoạt động trong lòng địch, anh không kiềm chế nổi lòng mình, để lộ ra một cách dại dột như thế! Ở Bông-vin, khi tưởng đã nắm chắc cái chết trong tay, anh còn chịu nổi sự căng thẳng tột độ của hệ thần kinh mà không hề lộ ra một tí gì trong lúc bị hỏi cung ở sở Giét-ta-pô; anh đã tốn bao nhiêu tâm trí để tìm ra công xưởng ngầm. Thế mà bây giờ anh lại hành động như một đứa trẻ! Nhất là lúc này mỗi cử chỉ vụng về của anh đều có một ý nghĩa đặc biệt! Không thể được, phải uốn nắn lệch lạc này lại, phải che giấu cái hành động điên rồ vừa rồi bằng một lý do tự nhiên nào đó... Thôi, tốt nhất là vin vào cớ từ ngày bị du kích đánh úp đến nay thỉnh thoảng anh vẫn bị những cơn động kinh như thế... đặc biệt trong những phút quá xúc động... và tin buồn của Lô-ra đã khiến anh lên cơn thần kinh! Hen-rích đứng lên và cương quyết bước ra cửa. Nhưng một câu nói từ phòng ăn vẳng vào khiến anh dừng lại. - Cái thằng nó yêu con Lô-ra quá thể! Mình nghĩ mà xem, tin con bé ốm làm nó suýt ngất đi như thế đấy!- Mụ En-da động lòng thương xót. - Ừ, nó yêu con bé thật. Nhưng tôi không vừa lòng với tính tình nóng nảy của nó. Tất nhiên là tuổi trẻ, tình yêu, tất cả cái đó tôi hiểu quá đi rồi... Hen-rích rón rén lùi khỏi cửa và lại nhẹ nhàng ngồi xuống ghế bành. "Đấy là một bài học cho mình, anh khẽ thì thầm - suýt nữa lại phạm thêm một sai lầm thứ hai!". Tuy nhiên anh đóng vai kịch đó một cách khó khăn và bực bội. Có ai biết được những cảm giác của anh khi ngồi trong phòng này? Vị hôn phu đang say đắm yêu đương chực bóp chết người vợ chưa cưới tàn bạo của mình. Người ngoài lại tưởng nhầm Hen-rích đang cảm động. Ai biết được anh ghê tởm cái cảnh trước mắt như thế nào. Mới đây anh đã được thăng cấp bậc đại úy quân đội Xô-viết và được tặng thưởng huân chương "Cờ đỏ" vì thành tích khám phá ra công xưởng ngầm. Anh vừa nhận được lời tuyên dương vì anh đã điều tra được kiểu xe tăng "Gô-li-áp". Và chắc rằng không một ai tin là anh hoàn thành những nhiệm vụ đó còn dễ dàng hơn so với việc "tìm hiểu" này, một cuộc tìm hiểu ghê tởm, nhưng vô cùng cần thiết cho công tác tình báo của anh. Nếu sau này anh phải kể lại các chuyến đi Mu-khen thì những người nghe chắc sẽ cười lăn ra xem việc "tìm hiểu" này là một chi tiết lý thú trong tiểu sử của anh. Nhưng chính nó đang cướp mất của anh rất nhiều sức lực. Thực ra thì chịu đựng ba buổi hỏi cung của Lem-ke còn dễ chịu hơn phải ở cạnh Lô-ra một ngày. - Hen-rích, con của ba!- Béc-gôn khẽ đẩy hé cánh cửa và bước vào phòng - Ba cũng khổ sở không kém gì con đâu nhưng con thấy đấy, ba vẫn tự chủ được. Bình tĩnh lại con ạ, sự lo lắng của con chỉ làm cho sức khỏe của Lô-ra sút đi mà thôi. Khốn nạn, em con cứ khóc thút thít hết ngày nọ sang ngày kia. Được, sau đây ba sẽ trả thù cho Lô-ra. Kẻ nào đã chạm vào người em con, kẻ đó phải đền mạng! "Trả thù cho Lô-ra! Thế còn ai sẽ trả thù cho chị em phụ nữ Bạch Nga kia?!"
Chuông điện thoại trên bàn kêu vang, Béc-gôn nhắc ống nghe lên. - Vâng, thiếu tướng Béc-gôn đây!... Việc gì thế? Béc-gôn ném ống nghe lăn long lóc, rồi đâm bổ tới chỗ đặt máy thu thanh. Mấy ngón tay lão run lên bần bật đến nỗi vất vả lắm lão mới bắt đúng làn sóng. Khi tìm ra làn sóng thì chỉ còn nghe được mỗi một đoạn tin phát thanh: "... Khắp nước Đức đang để tang các chiến sĩ của chúng ta đã hy sinh ở Sta-lin-gờ-rát". Hen-rích ngồi yên, không dám động đậy. Vì chỉ cần lộ ra một hành động cỏn con, một ánh mắt vui mừng không hợp thời là tất cả đều tan vỡ. Béc-gôn lặng thinh lắng nghe xong và gục đầu xuống. Buổi phát thanh chấm dứt. Điệu nhạc tang còn rền rĩ thảm thiết. Hen-rích đứng dậy, cúi đầu, làm giống y như Béc-gôn. Khúc nhạc chiêu hồn nỉ non khá lâu, tuy vậy Hen-rích vẫn tự chủ được. Đạo quân của Pa-u-lút đã bị ra tro! Tin mừng đó đã xóa nhòa những khó khăn của anh, làm cho việc riêng của anh trở nên bé nhỏ. Tiếng nhạc vừa tắt, Béc-gôn liền nắm lấy tay Hen-rích. - Đi theo ba, cha con ta nên bàn tí việc... Không đợi chàng rể tương lai trả lời, Béc-gôn sang thẳng phòng giấy, một căn phòng to trong góc nhà, các cửa sổ đều trông ra vườn và ra đường. Sau khi châm thuốc, hai người ngồi xuống ghế và yên lặng rít hồi lâu. Béc-gôn lên tiếng trước: - Hen-rích, con nghĩ thế nào về tin kia hở con? - Thưa ba, con biết ba muốn kiểm tra xem con thấu hiểu tình hình chiến sự đó nhanh chậm ra làm sao? Nhưng con quá cảm động trước tin đột ngột ấy đến nỗi con không thể nào tập trung được tư tưởng ba ạ. Béc-gôn đứng dậy, đi đi lại lại khắp phòng từ góc này sang góc khác. - Đột ngột! Không đột ngột đâu con ạ. Bốn ngày trước khi ba rời đơn vị về đây, Bộ tham mưu đã biết chắc tin này rồi sẽ xảy ra... - Thế mà không tìm biện pháp để... - Qua các tin tức, con phải hiểu rằng chúng ta có thi hành nhiều biện pháp đấy chứ. Không phải chỉ có một sư đoàn tinh nhuệ của ta nằm ở sông Vôn-ga cố mở đường máu đâu, con ạ, vấn đề là ở chỗ chiến tranh đã bước sang một giai đoạn mà ta đã mất thế chủ động tấn công và như thế tất nhiên phần lợi sẽ về phía địch... Nhưng tai họa không phải chỉ có thế thôi. Trong tay ba có cả một màng lưói điệp viên, cho nên hơn ai hết, ba biết rõ tâm trạng của bọn lính, bọn sĩ quan và của cả Bộ tư lệnh tối cao nữa. Điều tệ hại nhất là càng ngày lòng tin vào thắng lợi càng lung lay. - Thực có những hạng người như thế hả ba? - Nhiều! Nhiều lắm. Nhất là trong bọn lính tráng và đám tướng tá cũ! Chao ôi, những tên tướng già kia! Chúng hiện đang nằm trong tay ba... Một số tỏ vẻ bất mãn, moi móc những sai lầm về chiến lược của Quốc trưởng. - Chúng dám nói thê cơ à? - Tất nhiên, không dám công khai. Nhưng những câu chuyện như thế có thật... Béc-gôn dừng lại bên cửa sổ và mơ màng nhìn những bông tuyết nhẹ chậm chạp quay tròn trong không khí. Rồi chợt lão hỏi: - Hen-rích, con sẽ làm gì sau khi chiến tranh kết thúc, nếu giả sử, nưốc Đức thua trận? - Con sẽ dành riêng cho con viên đạn cuối cùng trong khẩu súng lục này! - Đồ ngốc! Con tha lỗi cho ba lời thô tục đó, nhưng đôi khi người cha có thể nói mà không cần phải chọn lời. Súng lục... viên đạn... ba cấm con nghĩ ngợi đến những hành động lãng mạn đó. Ba không cho rằng câu chuyện này làm con bi quan đến thế... nhưng ba dám nói là nó đã gây cho con một phản ứng không lành mạnh. - "Bịa vừa chứ!" - Hen-rích tự nhủ thầm. - Ôi, con vui sướng vô cùng, vì trong những giây phút nặng nề này con được ở cạnh ba, một người thông minh, giàu kinh nghiệm, am hiểu thấy trước được tương lai... Con hứa sẽ luôn luôn nghe lời dạy bảo của ba trong mọi vấn đề! Béc-gôn mỉm cười tự đắc. - Hen-rích con, lão già đa mưu túc trí bao giờ chả nhìn xa thấy rộng hơn đám thanh niên bồng bột! Ba mừng vì con đã nghe theo tiếng nói của lý trí đã tin ở kinh nghiệm của ba. Và con hãy tin ba. Ba sẽ cho con biết thêm việc này, hoàn toàn không phải để làm mờ mơ tưởng của con đối với con một chân trời mới. Phải, quân ta bị tiêu diệt ở Sta-lin-gờ-rát, uy tín của quân đội chúng ta, Bộ tư lệnh chúng ta bị lung lay. Nhưng ba nói để con tin rằng chiến tranh chưa phải đã kết thúc và chưa đến lúc bắt đầu giai đoạn kết thúc. Hiện nay Bộ tham mưu đang ráo riết nghiên cứu một cuộc hành binh, cuộc hành binh này sẽ gỡ lại danh dự cho quân đội bách chiến bách thắng của chúng ta. Chưa phải lúc nói đến kết quả của cuộc hành binh ấy, nhưng ba quả quyết bọn bôn-sê-vích sẽ được nếm những đòn ác liệt của ta và kết quả tạm thời của chúng nhất định sẽ sụp đổ trước những chiến thắng mới rực rỡ của ta! - Nhưng thưa ba, quân đội của ta ngày nào cũng cứ rút lui... - Có thể, từ rày trở đi ta vẫn còn rút lui nữa. Muốn thực hiện những kế hoạch to lổn cần phải có thời gian. Tuy vậy bọn Nga cũng phải trả một giá rất đắt về các cuộc rút lui của ta đấy. Con biết hiện nay ba con đang thi hành nhiệm vụ gì không? - Con rất muốn biết điều đó.
- Không phải cấp trên cho ba nghỉ phép để lo việc gia đình không thôi đâu. Một tuần nữa ba phải trình bày những biện pháp mà chúng ta sẽ thực hiện trên đất Nga, trước khi quân ta tháo chạy. Chiều nay ba sẽ cho con biết những biện pháp đó. Ba đang chuẩn bị cho quân Nga những cú bất ngờ ghê gớm! Nơi nào quân ta tràn qua, sẽ không còn lại một thành phố, một làng mạc nào nữa chỉ còn gạch vụn và ngói nát với thây người. Ồ, đó không phải là những cảnh tàn phá thông thường sau chiến tranh. Không, ba vạch ra một kế hoạch có nhiều cái vĩ đại hơn! Các đội công binh và các đội phá hoại đặc biệt sẽ hoạt động theo những chỉ thị, đã được nghiên cứu tỉ mỉ, vừa rút lui vừa san phẳng thành bình địa: công xưởng, nhà cửa, tháp chứa nước, nhà máy thủy điện, cầu cống, đồng lúa, vườn tược. Dân chúng sẽ không còn được trốn tránh, ta sẽ lùa một số lớn có sức lao động về làm việc trong các công xưởng, nhà máy, trên các đồng ruộng của chúng ta, và số còn lại thì thiêu sạch. Cứ mặc cho kẻ địch của chúng ta tiến quân lên phía trước với những điều kiện như thế. Cứ mặc cho chúng xây dựng lại cuộc sống trong đói rét và điêu tàn. Béc-gôn siết hai nắm đấm lại với vẻ tàn bạo, hằn học. Tim Hen-rích ngùn ngụt căm hờn. - Thật là vĩ đại! Con rất vui sướng được tìm hiểu kế hoạch của ba, và nếu sự hiểu biết của con về nước Nga... - Ổ, ông tướng con! Ba quên bẵng là con có thể làm một cố vấn cừ khôi cho kế hoạch này. Kẻ địch nhất định sẽ phải đền tội giết hại cha con, con ạ! Tiếng chân bước vang vang, rồi mụ En-da ló đầu vào cửa. - Mình ạ, mình nhớ cho là suốt dọc đường Hen-rích nó chưa có gì vào bụng đấy. - À, mình cứ mặc chúng tôi, chưa đến giờ ăn sáng cơ mà! Mụ En-da vào phòng và ngồi xuống ghế, nhưng sau khi thấy cái nhìn sốt ruột của chồng, mụ vội vàng nhẹ bước lùi ra. Béc-gôn im lặng trong giây lát, đưa mắt theo dõi làn khói lam bốc lên từ điếu xì-gà đặt trên cái gạt tàn. - Nhưng, Hen-rích con, ba cho là ba có nhiệm vụ báo trước với con rằng tất cả mọi hy vọng có thể tan ra như làn khói này - Béc-gôn nghiêng đầu phía điếu xì-gà - Việc đó không thể bỏ qua được. Cũng như những người biết phòng xa, chúng ta cần đề phòng mọi mặt. Thực ra, chính vì mục đích đó mà ba định nói với con câu chuyện này. Con chú ý nghe nhé! Hen-rích, ba với con đều làm cái nghề tình báo, đều là những sĩ quan tình báo! Nếu như bây giờ con có sang một công tác khác, thì dù sớm dù muộn, con cũng sẽ quay lại cái nghiệp tình báo gia truyền mà thôi. Mặc cho bọn sĩ quan tham mưu khoe khoang công lao của chúng. Hơn ai hết, ba con ta biết rằng, cuộc chiến tranh hiện nay không thể tiến hành nổi nếu thiếu chúng ta. Ba nói "thiếu chúng ta", có ý nói thiếu những sĩ quan tình báo đấy. Chúng ta cần thiết cho xã hội hơn bất cứ một thằng chính khách ăn tục nói phét nào, hơn cả cái lũ nhà văn, họa sĩ, hơn cả bọn bác học gấp trăm vạn lần. Và sau chiến tranh, sĩ quan tình báo chúng ta sẽ cần thiết hơn bây giờ nhiều. Dù phần thắng có về tay kẻ nào đi nữa! Ba đã nói với con là ba rất tin vào thắng lợi của chúng ta. Nhưng tin tưởng là một việc, còn cái thực tế cay đắng lại là một việc hoàn toàn khác hẳn. Cho nên phải luôn luôn nghĩ đến thất bại. Phi-đơ-rích đại đế đã dạy cho đám văn quan võ tướng của Người như thế, mặc dầu chính bản thân mình là người lạc quan đặc biệt... Bây giờ chúng ta thử tính trước sự thất bại, Hen-rích nhé! Phòng khi bất trắc... À, mà con còn bao nhiêu tiền gửi trong nhà băng nào con nhỉ?- Béc-gôn bỗng kết thúc những ý nghĩ triết lý của lão bằng một câu hỏi vô cùng thực tế. - Một triệu chín mươi vạn mác ở ngân hàng quốc gia Thụy Sĩ và ba chục vạn ở nhà băng Đức. - Tất cả khoản di sản đấy à? - Vâng. Nhưng con chỉ tiêu trong phạm vi số tiền lãi thôi. - Đáng khen, đáng khen lắm! Cần chuyển tất cả số tiền gửi ở nhà băng Đức sang nhà băng Thụy Sĩ đi. Đó là điều thứ nhất. Rồi đổi hết khoản tiền đó ra đô-la. Thế yên trí hơn con ạ. - Cần làm việc ấy ngay bây giờ hả ba? - Không, thư thả ít lâu đã. Đợi đến khi nào quốc tang hẵng hay, làm thế để khỏi đập vào mắt kẻ khác. Con nghe tiếp đây. Số tiền dành dụm của ba, ba sẽ chuyển cả cho con, và con cứ gộp chung vào phần của con đi. Hiện nay ba không tiện chuyển tiền ra nhà băng ngoại quốc. - Con hiểu rồi!
- Ba sẽ dành cho Lô-ra một nhà máy bột mì để làm hồi môn. Tiếc rằng cái nhà máy thứ hai đã bị bắn phá tan tành. Vậy ba sẽ cho cả cái trại kia nữa. Con hãy giao cho người ta quản lý, còn tiền thì con cũng cứ gửi hết vào nhà băng Thụy Sĩ. - Vâng ạ! - Nhưng trong hoàn cảnh hiện nay chúng ta cần có sự bảo đảm để tránh mọi việc bất trắc, ví dụ như việc lạm phát chẳng hạn. Chiến tranh có thể làm sụt giá đồng đô-la, và nếu vậy thì chúng ta sẽ bị thiệt to. Trong những trường hợp đó bất động sản là một bảo đảm chắc chắn nhất cho việc xuất vốn đầu tư. Thế thì con nên tậu lấy một xí nghiệp cố định ở ngay Thụy Sĩ, cùng lắm thì cũng phải tậu cho được một khách sạn hoặc một biệt thự nguy nga. Ba sẽ tranh thủ cơ hội thuận tiện để vù sang bên ấy dò la trước. Nhưng con đừng tự tiện hành động nếu không có ý kiến của ba. về mặt này con chưa có kinh nghiệm gì đâu, nên có thể bị mắc lừa lắm. - Thưa ba, con xin tuân lời ba! - Phải làm cho gia đình chúng ta có thể sống yên ổn sau chiến tranh. Con không cần nghĩ ngợi gì đến tương lai hết, có ba, con sẽ đứng vững như tượng đồng. Một sĩ quan tình báo như Béc-gôn này, không bao giờ hết việc làm đâu. Không phải hắn sẽ đi tìm chủ mới, mà chính họ phải đi tìm hắn. Không phải họ sẽ đặt điều kiện cho hắn, mà chính hắn bắt họ phải theo mình, ừ, ba yêu tổ quốc lắm! Nhưng nếu tình thế xoay chiều bất lợi cho người Đức chúng ta, thì ba buộc lòng phải từ giã đồng mác để đi theo tiếng gọi của đồng đô-la, ba sẽ vì đồng tiền vàng mà hoạt động tận tụy như bây giò. "Thóc đến đâu bồ câu đến đấy" mà lại! Hen-rích, con nhớ ai nói câu ấy không? - Thưa ba, không ạ! - Con thấy kế của ba thế nào? - Thưa, thật quả là diệu kế. Lúc đó trên gác hai, Lô-ra bỗng giở chứng. Suốt đêm qua ả không ngủ được. Người sốt hầm hập, những vết bỏng đau rát kinh khủng, lòng ả rối bời vì không được gặp mặt người yêu. Khi một hồi chuông lanh lảnh réo lên phá tan không khí tĩnh mịch ban mai, báo tin Hen-rích đã về, ả khóc sướt mướt và từ lúc ấy đến giờ hai má ả luôn luôn đầm đìa nước mắt. Trong khi Hen-rích tắm rửa, thay quần áo, vợ chồng Béc- gôn lo đi an ủi con gái. Nhưng những cố gắng ấy chỉ là công dã tràng mà thôi. Lô-ra ngắm hình dạng mình trong gương và ả đã phải khiếp đảm: mặt ả đỏ loét, hai con mắt sưng húp, cánh mũi cũng cọ xát vào đó. Á ném cái gương xuống đất và khóc to hơn: ai cũng biết, gương vỡ là một điềm dữ! Giữa lúc Béc-gôn bàn chuyện với Hen-rích, mụ En-da đi mời về biệt thự một chuyên viên trang điểm nổi tiếng. Lão đặt lên mặt Lô-ra mấy miếng vải ép, dùng sáp bôi khắp mặt, rồi xoa đều và đánh phấn. Lô-ra nằm yên cắn răng chịu đựng hết thảy, chỉ cốt sao được gặp mặt người yêu. Cơm sáng xong, vợ chồng Béc-gôn lên chỗ con gái, chúng thấy rằng số tiền trả công cho gã chuyên viên trang điểm kia quả là không phí, nhưng dù sao cũng không nên để cho chàng rể trông thấy bộ mặt ấy. Khi ăn cơm trưa, Béc-gôn buộc lòng phải báo cho Hen-rích biết bệnh tình trầm trọng của Lô-ra. Cả hai vợ chồng đều thấy lòng nặng trĩu, câu chuyện quanh bàn ăn uể oải, buồn tẻ. Mãi gần xong bữa, khi nghe Hen-rích khoe mấy tấm ảnh của Béc-ti- na gửi cho, Béc-gôn mới sôi máu lên. Trước kia mụ En-da đã biết Béc-ti-na chỉ là một đứa mặt dày mày dạn, quỷ quyệt, nên mụ đã ngăn cấm Lô-ra đi lại giao du với "bà chị họ" đó. Béc-gôn liền trút lên đầu Béc-ti-na đủ những lời mạt sát tục tằn đến nỗi mụ vỢ phải lảng ra nơi khác. Sau bữa ăn, khi Béc-gôn và Hen-rích sang phòng giấy để uống cà phê với rượu ngọt, và hút xì-gà, lão lại quay về câu chuyện đứa cháu họ và tìm cách ngăn cản không cho chàng rể thư từ qua lại với Béc-ti-na nữa. Cô dâu và chú rể tương lại gặp mặt nhau vào một buổi tối. Sau khi vắt óc bày mưu tính kế, mụ En-da bố trí một ngọn đèn đêm đặt trên bàn che cái chao đèn sẫm màu, để cho khuôn mặt của Lô-ra chìm trong bóng tối ở giữa chồng gối. Thấy tư thế nằm của Lô-ra, Hen-rích suýt bật cười. Bề ngoài anh giả vờ thông cảm với ả và oán trách số phận làm cho anh phải thiệt thời sau thòi gian xa cách đằng đẵng, tưởng chừng như anh có thể ôm lấy ả. Nhưng trong bụng thì sướng như mở cờ: có lẽ được hoãn lễ đính hôn lại một lần nữa. - Thôi chiều mai các con trao nhẫn cho nhau đi, chắc là vào giờ này con Lô-ra nó sẽ dễ chịu đấy. Con thấy thế nào? Hen-rích bực cả mình, nhưng anh gượng đáp: - Thưa ba, thế cũng được! Thế là chiều hôm sau, người ta tổ chức lễ đính hôn. Lô-ra lại phải chịu đựng thêm một nỗi thất vọng nữa: Á biết rằng vì bệnh tình của mình nên buổi lễ chắc sẽ không được nghiêm trang, tuy nhiên ả vẫn mong khách, mong quà tặng, mong những lòi chúc tụng. Nhưng lúc đó toàn nước Đức đang có quốc tang, nên Béc-gôn không thể để cho người ngoài biết ngày lễ đính hôn của con gái lão. Nếu làm linh đình thì có thể gây điều bất lợi cho Hen-rích nữa. Thế là, ngoài mấy bố con trong nhà ra, chẳng còn ma nào khác. Nhưng rồi mọi việc cũng được dàn xếp đâu vào đấy. Sau khi đeo chiếc nhẫn cưới vào ngón tay bên phải, Lô-ra khóc òa lên - ả muốn đeo vào tay trái, nhưng tay trái đã bị bỏng. Chiều hôm ấy, họ ăn cơm ngay cạnh giường của Lô-ra, trong tiếng rên rỉ của ả, vì ả quên bẵng mất là mình cần phải ngậm mồm ngậm miệng. Sáng ngày, Hen-rích lên đường. Chỉ một mình Béc-gôn tiễn anh ra ga. - Con nhớ tất cả những điều cha con ta bàn bạc chứ? - Thưa ba, vâng ạ! - Con có hiểu là không nên lộ cho một kẻ nào khác biết câu chuyện giữa chúng ta không? - Ba xem con như một đứa trẻ con không bằng! - Ổ, không phải thế đâu, con của ta sẽ là một tay tình báo lỗi lạc, Hen-rích nhỉ! - Béc-gôn tiễn Hen-rích bằng một câu nịnh hót.