Tướng E-véc không chịu trách nhiệm về việc lùng bắt Pôn. Lão chỉ có bổn phận giao cho Mi-le một số lính và số sĩ quan cần thiết mà thôi. Các đơn vị được đi săn Pôn chẳng báo cáo và chẳng nhận chỉ thị gì của phòng tham mưu sư đoàn về việc này cả. Mọi việc đều do cơ quan SS đảm nhiệm, nghĩa là do một mình Mi-le điều khiển. Người ta trù tính là cuộc lùng bắt này chỉ kéo dài chừng hai hôm thôi, nhưng thực ra đã hơn bốn ngày đêm rồi mà vẫn chưa một kẻ nào mò ra dấu vết của Pôn cả. Tin ấy làm cho E-véc vô cùng hởi dạ. Tất nhiên, không phải là lão thương hại Pôn đâu, dù chỉ một mảy may thôi. Trái lại, lão biết rằng Pôn sẽ gây tác hại tày trời cho nước Đức nếu anh tiết lộ ra những bí mật của công xưởng ngầm. Giá Pôn rơi vào tay lão thì lão chả ngần ngại gì mà không bắn võ sọ ra. Nhưng sự thất bại của bọn SS, và của Mi-le đã bù lại một phần nào nỗi nhục nhã của lão: Lão cảm thấy nhục nhã từ ngày bị mất tín nhiệm với cấp trên. Phải, chính Pôn đã mở mắt cho lão: người ta hãy còn giấu lão địa điểm thật của công xưởng ngầm. Thậm chí đến cơ sự này, khi người ta nhờ cậy lão tổ chức vây bắt tên tù vượt ngục, mà người ta vẫn chưa hở cho lão biết công xưởng sản xuất những gì. Thật là một điều xúc phạm, một việc làm giảm nhân phẩm. Ngay lúc ấy lão nhận được công văn trả lời về bản báo cáo và đơn xin nghỉ phép mà lão viết giữa cái đêm đáng ghi nhớ ấy, cái đêm mà lão hay tin những đạo quân Đức đông như kiến đã bị bao vây ở Sta-lin-gờ-rát. Trong công văn người ta nói rõ rằng không những ý định xin nghỉ phép, mà cả bản báo cáo kia đều không hợp thời, khác nào "những hành động gây thêm khó khăn cho các sư đoàn đóng trên đất Pháp". Bức công văn chỉ là một lồi khiển trách. Và E-véc phải ngậm đắng nuốt cay làm ra bộ không hiểu gì những lời bóng gió đó. Dạo này tin tức từ mặt trận phía Đông ngày càng đáng lo hơn và cơ quan tuyên tuyền của Gơ-ben ngày càng ít huênh hoang hơn. Nếu ngay từ đầu có nhiều kẻ đã vội vàng tô vẽ thêm cho những chiến công của đạo quân xung kích do Man-chây cầm đầu, đạo quân đã xông vào mở đường máu cho các đơn vị bị bao vây, thì bây giờ chúng sẽ phải đỏ mặt câm mồm vì đạo quân xung kích kia và quay ra tán tụng lòng "dũng cảm" của các đơn vị bị bao vây. Tất cả điều đó có thể lừa dối khối người chứ chẳng riêng gì E-véc. Trong lúc cần hành động, cần tìm con đường thoát cho nước Đức, thì E-véc lại bị bắt buộc phải ngồi yên một xó trong cái thị trấn bé nhỏ trên nước Pháp xa xôi này và phải mãn nguyện với những tin vịt về tình hình mặt trận phía đông. Phải, lão vô cùng mãn nguyện! Đài phát thanh Mạc-tư-khoa thì báo tin về viêc mở đầu cuộc đại phản công thắng lợi ở miền bắc Cô-da-dơ, vùng Lê-nin-grát, còn đại bản doanh của Hít-le thì chỉ ru ngủ tinh thần bằng những danh từ hoa mỹ khó hiểu như "san phẳng chiến tuyến"... Tất cả tư tưởng của E-véc đều dồn về phương Đông, nơi sẽ quyết định vận mệnh của nước Đức, còn lão thì phải ngồi lại ở hậu phương và điều khiển cuộc "chiến tranh chống bọn giặc cỏ", mà trong đó hầu như không thấy được thất bại của kẻ địch, nhưng có thể đếm đúng được những thất bại hàng ngày của mình. Và những thất bại đó ngày càng trầm trọng hơn. Những ngày mới tiến hành vây bắt Pôn, không khí trong vùng đóng quân của sư đoàn bỗng trở nên yên tĩnh: không một tiếng súng nổ. Hình như không khí yên tĩnh đó không bao giờ bị phá rối. Khó mà tin được là quân du kích sẽ có thể mở đường vượt qua những cứ điểm của các đơn vị ss đã mọc lên chi chít khắp hang cùng ngõ hẻm. Nhưng sự im lặng tạm thòi đó kéo dài chẳng được mấy ngày. Đến đêm thứ ba thì du kích đã tỉa mất mười sáu lính và bốn sĩ quan. Rồi cách một ngày sau họ lại ngang nhiên phục kích đoàn xe chạy về công xưởng ngầm. Từ đó trở đi du kích ngày càng ráo riết hoạt động, và E-véc cứ phải cắm cổ ký vào các bản báo cáo về những cuộc tập kích xảy ra trong vùng đóng quân của sư đoàn. Tất nhiên tình hình này khiến cho tư lệnh quân đoàn chú ý. E-véc cần phải tỏ cho họ thấy mình đúng. Trong một bản báo cáo lão nhận định thẳng thừng rằng những vụ hoành hành của du kích không phải do sự thiếu sót của lão, mà do tình hình trên mặt trận phía Đông gây nên. Thật vậy, giờ đây E-véc mới lấy làm ân hận là mình trót dại mồm dại miệng như thế, nên suốt buổi chiều hôm ấy cái cảm giác bất mãn với bản thân mình luôn luôn ám ảnh lão. Sang ngày hôm sau cảm giác đó lại nặng nề hơn, vì Bộ tham mưu quân đoàn gửi công văn xuống cho biết rằng có thể vị đại diện của bộ tư lệnh tối cao sẽ đến Xanh Rê-mi.
Giá lúc khác thì E-véc đã ra lệnh cho sĩ quan các đơn vị chuẩn bị đón tiếp quan trên thật long trọng. Nhưng lần này lão chỉ cau mày nhét công văn vào đáy ngăn kéo bàn giấy đến nỗi chẳng thèm đưa cho tham mưu trưởng và sĩ quan bí thư xem nữa. Nhưng không phải vị đại diện thường của đại bản doanh đến Xanh Rê-mi mà chính thống chế Đe-nút. E-véc thật không ngờ tới cuộc gặp gỡ thú vị đó. Đe-nút là thầy học cũ của lão, hơn nữa lại gần như là một người cùng chí hướng với lão. Thật thế, Đe-nút không la ó trên mặt báo như người học trò dại dột của y, nhưng trong buổi tâm sự riêng với E-véc trước ngày cuộc chiến tranh Đức -Xô bùng nổ, y đã thổ lộ ra rằng y hoàn toàn giữ vững quan điểm của mình và không tin vào khả năng nuốt chửng nước Nga nhất là trong trường hợp phải chiến đấu trên hai mặt trận. Vì vậy E-véc vô cùng hân hoan khi thấy vóc dáng quen thuộc của Thống chế hiện ra trên ngưỡng cửa Văn phòng sư đoàn trưởng. Và sau giây phút chào hỏi ngắn ngủi theo nghi thức niềm hân hoan đó càng tăng thêm. Đe-nút nói bằng một giọng giản dị đầy tình thân thiết: - Tôi đến làm việc với chú một ngày thôi, những hôm khác còn phải nghỉ. Vậy chú chớ giở trò duyệt binh kiểm tra ra để làm mệt xác tôi nhé. - Thưa Thống chế, tôi rất sung sướng được tạo mọi điều kiện để ngài nghĩ yên, nếu vị khách quý kiêm thầy học của tôi vui lòng nghỉ tại biệt thự của tôi!- E-véc đặt tay lên ngực và cúi chào. - Sẵn sàng nhận lời mời, nhưng tôi không thích ở một mình. Mong rằng bên ấy có đủ chỗ cho hai chúng ta. - Nếu cả năm phòng trên tầng gác hai mà hợp ý Thống chế thì... - Tôi chỉ cần hai phòng là đủ. Ây là cốt để chú ở cạnh tôi đấy. Khi tuổi già người ta mới cảm thấy đặc biệt thấm thìa nỗi cô đơn. Có thể miễn bọn lính hầu đi được đấy... Giọng nói của Đe-nút nghe đã khàn, yếu, dù bề ngoài trông y vẫn mạnh khỏe, rắn rỏi. E-véc xin phép gọi ô-tô nhưng Đe-nút lắc đầu: - Thôi, thôi, nếu biệt thự của chú ở gần đây thì tôi thấy cứ cuốc bộ đến đấy là hơn. Tôi đã chán ngấy cái của tàu bay tàu bò, lên xe xuống ngựa rồi. Giá không có chiến tranh thì tôi sẵn sàng rúc vào một xó heo hút nào đó, nơi vào vắng hẳn tiếng bom đạn. - Nhưng thưa Thống chế bây giờ tuyết đang rơi! Đe-nút nhìn qua cửa sổ. - Lúc này tôi chỉ mong được sưởi ấm lại bộ xương già! Tôi tưởng rằng ở cái đất này không bao giờ có tuyết cả. Trong biệt thự của chú cũng đủ ấm chứ? - Tôi sẽ bảo họ đốt lò sưởi! Cả ngày hôm đó Đe-nút nằm lì trên giường, ngay đến sách cũng chả buồn đọc, họa báo cũng chả buồn xem. Trong bữa cơm chiều y không uống thứ gì ngoài rượu cô-nhắc, còn tất cả các món ăn, thì y chỉ nếm qua món cá. Câu chuyện cũng tẻ nhạt, mặc dù E-véc đã cố lái sang đề tài mà quan trên thích nhất. E-véc thất vọng. Lão đang mong chờ những lời tâm tình cởi mở, còn Đe-nút không hiểu tại sao cứ lảng tránh. Có lẽ y chưa nghỉ ngơi lại sức sau mấy ngày đi đường chăng? Hay là vì cô hầu phòng cứ chạy ra chạy vào để mang thêm món ăn mới hoặc thu dọn bát đĩa nên đã cản trở câu chuyện của y. E-véc ra lệnh kéo mấy chiếc ghế bành lại gần lò sưởi và bảo cô hầu phòng lui ra hẳn. Bây giờ chỉ còn có khách và chủ, chẳng có gì làm phiền họ nữa. Trái lại ngọn lửa rung rinh trong lò sưởi, căn phòng tranh tối tranh sáng, và những điếu xì-gà hảo hạng - tất cả những cái đó tạo thành một bầu không khí thân mật. Và Đe-nút bắt đầu nói thật. Chợt y hỏi: - E-véc, chú nghĩ gì về tình hình chiến sự trên mặt trận phía Đông? E-véc trả lời thẳng vào câu hỏi. Đã lâu lắm rồi, lão phải chịu cảnh hắt hủi của cái xã hội trong đó lão không thể bộc lộ được ý nghĩ của mình, nên giờ đây được may mắn trò chuyện với vị quan thầy thông minh, biết người biết của, lão liền dốc bầu tâm sự. Đe-nút không ngắt lòi lão. Y vừa lắng tai nghe vừa đưa mắt nhìn ngọn lửa, chốc chốc lại gật đầu tỏ vẻ đồng ý. E-véc vẫn còn giấu giếm ý định thầm kín của mình về việc hạ thủ quốc trưởng Hít-le để tìm lối thoát độc nhất cho nước Đức. - Chú cho rằng chỉ có một con đường thoát độc nhất là chúng ta đình chiến ngay lập tức ở mặt trận phía Tây và ở Phi châu thôi phải không? - Tôi tin chắc chắn điều đó lắm. - Bọn Anh, Mỹ, chẳng thằng nào chịu như thế đâu. - Cũng chưa biết chừng. - Và chú cho vì mục đích gì mà Hét1 đã bỏ thời giờ của mình để bay sang Anh?------------------ 1. Hét: Bộ trưởng Bộ chiến tranh của Hít-le (ND)
E-véc im lặng, mặc dù lúc đó câu trả lời cứ quay tròn trên đầu lưỡi lão. Tự dưng lão lại tái phạm điều sai lầm không thể sửa chữa được chăng? Đe-nút chưa trình bày quan điểm của mình về tình hình chiến sự. Thấy E-véc ngần ngại, y liền khêu gợi: - Một tên lính quèn đã tự làm mất uy tín mình trước mặt mọi người rồi, thì các chính phủ Anh, Mỹ cũng không muốn có một cuộc thương lượng đúng đắn nào với hắn đâu... Không khí yên lặng bao trùm căn phòng, chỉ lát sau Đe-nút lại lên tiếng: - Tôi đến đây tất nhiên không phải để nghỉ ngơi, mà đang cần gặp một người khác... - Giá mà Mi-le phải trả một giá đắt để được nghe lỏm một lời trao đổi trong câu chuyện tâm tình bên cạnh lò sưỏi ở tòa biệt thự của tướng E-véc, giữa chủ nhà và vị khách là thống chê Đe-nút, một tên tướng già của quân đội Hít-le, thì hắn sẽ không do dự gì hết. Nhưng lúc đó Mi-le lại không có mặt tại Xanh Rê-mi. Giữa giờ phút này không phải hắn nghĩ đến việc cứu thoát nước Đức, mà hắn đang nghĩ đến việc cứu sống cá nhân hắn. Tin Mi-le bắn chết một người lạ mặt vận quần áo tù nhân đã khiến cho hết thảy mọi người đang tham gia cuộc lùng bắt Pôn đều xôn xao. Hình như mấy viên đạn của hắn xuyên đúng vào người Pôn. Theo lời hắn nói thì mọi việc xảy ra như thế này: chiều hôm qua khi hắn từ một làng miền núi quay về, hắn đã lần ra ngoài con đường mòn một quãng và thấy trong bụi rậm ở sau quả núi đá có bóng người. Dù chưa tin mình đã tìm ra dấu vết của kẻ vượt ngục, Mi-le vẫn rút ngay súng lục ra nên người mặc quần áo tù kia vội nhảy phắt ra và ù té chạy về phía con suối. Mi-le không thể bắt sống gã lạ mặt kia được vì núi đá nằm sát bên bờ suối và gã đã nhảy ào xuống nước. Chỉ còn một cách là bắn! Vì trời nhá nhem tối, khó lòng mà ngắm đúng, nên Mi-le đã quạt hết một băng đạn súng lục tự động, và gã lạ mặt chắc đã bị thương hoặc đã chết. Không thấy gã nổi lên mặt nước nữa. Lập tức bọn lính tráng huy động đến nơi vừa xảy ra việc này. Chúng dùng câu liêm khua khắp đáy suối, nhưng chẳng mò thấy xác, chắc là dòng nước lũ đã cuốn gã đi khá xa. Sáng hôm sau phải tổ chức mò xác một cách quy mô hơn nữa. Những đội đặc biệt lần theo dòng suối phía dưới hạ lưu, ở nhiều vùng khác nhau. Mi-le thân chinh điều khiển công việc của tất cả các đội, thậm chí hắn ngủ ngay trong ô-tô, bất chấp cả mọi nguy hiểm. Nhưng dòng suối hung hăng hình như đang chế giễu hắn, sau khi đã cuốn mất cái mồi béo bở của hắn. Việc tìm xác người đã kéo dài sáu hôm, nên trong câu chuyện bù khú các sĩ quan luôn mồm kháo nhau, rằng Mi-le đã "khéo bày trò ảo thuật". Sang ngày thứ bảy mọi người đều ngạc nhiên với cái tin tìm thấy xác. Ngay tức khắc tên sĩ quan SS trưóc đã phát biểu ý kiến trong buổi họp ở phòng E-véc, và một tên nữa vận thường phục được phái đến Xanh Rê-mi: Chúng liền kéo ngay ra chỗ xác chết. Cuộc khám nghiệm đã được bố trí trước, xác nhận đó đúng là xác Pôn. Thật vậy nước lũ đã quật mạnh tử thi vào những mỏm đá lởm chởm dưới đáy suối. Vì bị đập vào đá và bị ngâm dưới nước nên bộ mặt đã trương phình lên và sây sát khá nhiều đến nỗi không thể nào đối chiếu mặt xác chết vói ảnh của Pôn được. Vì vậy bản in dấu ngón tay Pôn mà tên sĩ quan SS mang theo cũng chẳng có giá trị gì, vì không tài nào đối chiếu được những dấu đó với nét chỉ trên các ngón tay của xác chết. Nhưng có một dẫn chứng không thể bác bỏ được, tỏ rằng Mi-le đã bắn đúng kẻ vượt ngục từ công xưởng ngầm trốn lên, vì con sô" 2948 hãy còn rõ rành rành trên cánh tay xác chết. Và bộ quần áo tù thì giống hệt kiểu quần áo mà các tù nhân ở trong công xưởng ấy mặc, chứng minh là tên tù sổng đã bị tóm cổ mặc dầu hắn đã chết. Thấy quần áo trên xác chết đã sòn, cũ, tên mặc thường phục hơi nghi ngờ, vì theo tài liệu của công xưởng cho biết khi Pôn bắt tay vào việc nghiên cứu các bản vẽ, anh được phát một bộ quần áo còn mới nguyên. Nhưng Mi-le chống chế là Pôn phải bò lê la trên đồi núi trong bao nhiêu ngày, nên tên mặc thường phục cũng tán thành, vì với những điều kiện như thế thì quần áo chẳng những có thể sờn cũ đi, mà còn có thể rách bươm ra từng mảng nữa. Tuy nhiên việc nhận xác chết một lần cuối cùng và việc lập biên bản chính thức phải do một ủy ban đặc biệt phụ trách. Trong thành phần của ủy ban, ngoài mấy tên sĩ quan SS và tên mặc thường phục đã kể, còn có Mi-le và vị đại diện phòng tham mưu sư đoàn là Hen-rích.
Hen-rích buồn rầu đến địa điểm tập trung của ủy ban. Trong những ngày còn đang tìm xác chết anh phát khùng lên chẳng kém Mi-le. Rồi sẽ ra rao nếu quả thật đó là Pôn, tức là Ăng-đờ-rây? Chả nhẽ anh em du kích không đưa kịp anh vào núi chăng? Lạ thật. Mà điều quái gở nhất là xác chết mặc quần áo tù nhân. Cái đó hoàn toàn không thể hiểu dược. Vì khi Hen- rích gặp Ăng-đờ-rây ở La Tra-ven-xa thì Ăng-đờ-rây mặc áo sơ mi và quần ngủ. Có lẽ Hen-rích nhớ nhầm chăng? Mà chiếc quần đùi sọc bên trong cũng là một bộ phận của cả bộ áo quần tù nhân kia mà. Hay là anh em du kích đến chậm, nên Ảng-đờ-rây phải vội vàng thoát thân đến nỗi không kịp thay chiếc áo ngoài? Phải đi La Tra-ven-xa một lần nữa để hỏi đích xác xem Ảng-đờ-rây có được an toàn không. Hen-rích ra đi lòng nặng lo âu. Tuy sẵn sàng chờ đợi những chuyện rủi ro, anh vẫn mong sao cho chóng đến nơi. Từ xa Hen-rích đã trông thấy đám người xúm đen xúm đỏ bên bờ suối. Cố nhiên, trong đám đó có các ủy viên trong ủy ban đặc biệt. Cần đi nhanh tới nơi nhưng chân anh nặng như chì, và tim cứ đập cuồng loạn lên. Không, Hen-rích vẫn đi thong thả, để lấy lại nét mặt vô tư thường ngày để cho chúng thấy rõ oai phong của chàng con trai tướng Béc-gôn. Các ủy viên của ủy ban đặc biệt chào đón Nam tước Hen- rích hết sức cung kính - rồi lập tức mọi người vây lấy xác chết, Hen-rích cũng cúi xuống quan sát... Tầm vóc giống hệt như Ăng-đờ-rây, còn khuôn mặt đã bị dập nát, méo mó, không nhận ra được nữa... Số hiệu trên cánh tay khớp với số hiệu của Ảng- đờ-rây: 2948! Thong thả, thong thả đã, số hiệu này không giông rồi... Tất nhiên là thế! Hàng chữ của Ăng-đờ-rây nằm gần cổ tay hơn nữa, mà ngay cả nét chữ cũng khác hẳn - nét chữ số "2" không phải nhỏ như vậy! Hen-rích cúi sát hơn, và đôi mắt anh dán chặt vào cánh tay phải duỗi theo thân người, bàn tay úp xuống. Cái móng tay đen xịt vì máu đông lại đây rồi. Chính đây là ngón tay của tên chỉ điểm mà Hen-rích lôi cổ từ La Tra-ven-xa về và giao cho Mi-le, ngón tay đã lần giở trừng trang sổ tay ghi tên những người tình nghi. "Thảo nào mà Mi-le không báo cáo lại kết quả cuộc hỏi cung tên Ba-den!" Hen-rích chiếu thẳng đôi mắt vào mặt Mi-le và gặp ngay cái nhìn đề phòng. "Không nên, phải vờ là mình không biết gì mới được. Nếu không, mấy tay ủy viên khác sẽ thấy được sự luống cuống của Mi-le mất!" - Hen-rích nghĩ thầm như vậy, bèn mỉm cười vồn vã, bước lại gần vị "anh hùng bất đắc dĩ". - Thưa Thiếu tá, ngài cho phép tôi chúc mừng ngài đã hoàn thành việc bắt tên Pôn một cách may mắn! Nỗi lo lắng đã biến mất trong đôi mắt của Mi-le, nụ cười vui sướng lại nở trên môi hắn. Ngay ngày hôm ấy, trước bữa cơm trưa tại câu lạc bộ, tên tướng SS đã trao cho Mi-le phần thưởng năm nghìn mác về cái công tìm ra tên tù vượt ngục, mặc dù hắn đã chết. Tập biên bản chính thức của ủy ban đặc biệt đã được gửi về Bộ tổng tham mưu tại Béc-lanh. Sau khi ăn xong, Hen-rích và Mi-le cùng ra khỏi câu lạc bộ. Anh hỏi hắn bằng giọng hơi châm biếm: - Ông Mi-le, tôi có thể thết ông một bữa cơm chiều thật tươm tất để mừng ông đấy chứ? - Ồ, thế thì hay biết mấy! Mà hình như tôi còn nợ ông thì phải. Tôi mong ông nhắc cho, vì đã bao nhiêu lần tôi vay tiền ông để tiêu và quên đứt đi rồi, không biết đã giả ông hết chưa. Sau khi vớ bở được năm nghìn mác, Mi-le phơi phới trong lòng và sẵn sàng thanh toán món nợ của mình, điều mà hắn chưa bao giờ làm. - Cái món vặt ấy thì nghĩa lý gì đối với tôi mà tôi cũng chả nhớ đến việc thanh toán nợ nần giữa chúng ta đâu. Đấy là chưa kể cái món nợ cuối cùng đấy nhé. - Món nợ gì thế hả? - Mi-le bình tĩnh hơn. - Đó là sự im lặng của tôi. Mi-le dừng ngay lại. Mặt hắn không còn một hạt máu. - Đi đi, Mi-le: chúng ta là bạn, mà giữa tình bạn thì không có điều gì bí mật cả. Và thú thật rằng, tôi vô cùng vui mừng trước sự tháo vát và óc sáng kiến của ông trong vấn đề đánh tráo tên Ba-den thay Pôn! Hen-rích thấy cánh tay của Mi-le đang khoác vào tay mình run lên bần bật. - Nói thật với ông, tôi không đủ tài ba để làm việc ấy đâu!... Mi-le, ông đừng hốt ! Bản thân tôi đã ngấy cái trò bò lên trên núi để tìm tên Pôn rồi. Tôi rất khoái chí, vì ông đã giải phóng cho tôi thoát khỏi cái nhiệm vụ khổ sở kia! - Hen-rích, ông không thể nói thật với tôi vì sao ông khám phá ra được việc này ư? - Ấy, đó là bí quyết của tôi, ông bạn ạ! Mi-le im lặng, hình như hắn đang suy nghĩ lung lắm. - Hen-rích, tôi sẽ nói thật với ông một câu chuyện bí mật có liên quan đến ông. Đồng ý chứ? - Tôi xin chú ý nghe.- Nghĩa là không trực tiếp liên quan đến ông, nhưng trực tiếp liên quan đến cô Mô-níc, người mà ông mê như điếu đổ ấy. Chúng tôi đã xác định chắc chắn rằng trước khi bọn du kích lật đổ đoàn tàu chở vũ khí vài ngày, cô Mô-níc đã đáp xe đi Bông- vin, ở lại đó mấy tiếng đồng hồ, và không biết quay về bằng con đường nào. Theo tin tức chúng tôi thu thập được thì cô ta không có mặt trên xe lửa. Hơn nữa, thằng Cuốc đã biết được số xe lửa và giờ tàu chạy từ Bông-vin. Ông đối chiếu thử hai sự việc đó và cho tôi biết là ông có nghi ngờ gì chúng không? Sau một giây suy nghĩ, Hen-rích mỉm cười vui vẻ: - Ông Mi-le thân mến! Nếu từ nay sở SS, của ông cứ làm ăn theo cái lối ấy thì thống chế bộ trưởng Him-le không thể khen ngợi ông được đâu cũng như tôi sẽ không che chở cho ông trước mặt tướng Béc-gôn nữa. Ông hãy bổ sung thêm vào điều bí mật mà ông vừa để lộ ra với tôi, những chi tiết này: trước khi đáp xe đi Bông-vin hai ngày, cô Mô-níc có nhận được một bức điện nặc danh với nội dung như sau: "Cô hãy nhớ lấy lời hứa". Nếu như sở SS, của ông không mò ra được kẻ gửi bức điện đó thì tôi có thể nói cho ông biết rõ rằng - chính Hen-rích đây! Rồi hai giờ sau khi cô Mô-níc đến Bông-vin chính Hen- rích này đã đáp ô-tô riêng về Xanh Rê-mi có chở một hành khách, nói đúng hơn là một nữ hành khách. Nữ hành khách kia không phải ai xa lạ, mà chính là cô Mô-níc vậy... Tôi mong rằng ông sẽ không quan tâm đến những chi tiết liên quan đến điều bí mật này nữa.
Bỗng nhiên nét mặt của Mi-le trở nên nhớn nhác và ấm ức khiến Hen-rích phải cười sằng sặc. - Dù sao tôi cũng rất cảm ơn ông đã kể lại cho tôi nghe câu chuyện ấy. Nếu cô Mô-níc gặp những chuyện rầy rà vì tôi thì đáng bực mình thật. Xin lấy danh dự mà thề rằng tôi rất biết ơn ông! - Tôi rất mừng vì mọi chuyện đã được bộc lộ ra một cách giản đơn như thế. ông biết không Hen-rích? Ông hãy xin chuyển sang sở SS đi! Với khả năng và chỗ dựa của ông, ông có thể dựng nên một tiền đồ rực rỡ! Có ông, chúng tôi chắc chắn sẽ vững tay hơn. Ông có công nhận là tôi khéo sắp xếp công tác không nào? - Tôi cũng đã nghĩ đến việc ấy, nhưng e rằng mình không đủ thứ "máu lạnh" cần thiết để làm nhiệm vụ đó. Nhất là, nếu đi sâu vào một thiếu sót trong lối xử thế của tôi, mặc dầu những thiếu sót ấy do tuổi trẻ mà ra, nhưng không thể xem nhẹ nó được. Tôi có thể cho ông biết điều bí mật này nhé: Tôi rất mê gái đẹp. Bây giờ Mi-le mới cười: - Ông cho là công tác mới sẽ làm phiền ông ư? Ông Hen-rích đáng yêu ơi. Trái lại thế đấy! Bất cứ hạng gái nào mà thấy mê được đều là của ông tất, chẳng tốn một lời cầu cạnh nào cả. Không phải phí thòi giờ tán tỉnh đâu... - Được, tôi sẽ suy nghĩ lại. Ý kiến của ông thực ra đã làm cho tôi chú ý nhiều hơn điều bí mật của ông. - Ô, còn thêm cái này nữa, mà chắc chắn ông phải kinh ngạb. Cứ đến chỗ tôi đi, rồi ông sẽ tin rằng tôi là người bạn chân thành của ông. Họ lặng lẽ sang một phố nhỏ. Tòa nhà trụ sở của cơ quan SS ngất nghểu trong một khu vườn um tùm. Vào đến phòng làm việc, Mi-le mỏ cửa tủ sắt, lôi cái cặp giấy ra, lục tìm một chiếc phong bì và đưa cho Hen-rích. Anh lơ đãng cầm lấy góc chiếc phong bì rồi uể oải liếc nhìn con dấu bưu điện. - Mong-tơ-phơ-le? Ông nhận được cái này từ Mong-tơ-phơ-le à? Đúng không, ông Mi-le? - Tôi không dám cho rằng tại thành phố đó có bạn của tôi ở đấy! - Có thể xem qua được chứ? Dĩ nhiên là nếu nó không quá dài. - Tất cả chỉ có nửa trang nhỏ thôi... Hen-rích nhún vai, rút trong phong bì ra một mẩu giấy gấp tư, và mở ra, đưa mắt tìm chữ ký trước tiên. Nhưng đó là bức thư nặc danh. Không biết một thông tín viên nào đã tường thuật đúng một phần câu chuyện của Hen-rích đã luồn vào quân đội Đức và hắn đoán chính Hen-rích đã nộp cho tư lệnh Nga bản kế hoạch của cuộc hành binh "quả đấm sắt", mà có thể là cả kế hoạch của cuộc hành binh "dạo mát rừng xanh" nữa. Tác giả bức thư khuyên nên thẩm tra lại Hen-rích. Hen-rích liếc xem chỗ đề ngày tháng. Bức thư viết trước khi anh đi Li-ông mấy ngày. Nghĩa là việc kiểm tra mà người ta đã bố trí tại khách sận Sam-bê-ri có liên quan đến bức thư này. Hen-rích không đọc lại bức thư lần thứ hai cốt cho Mi-le không để ý. Đôi mắt tinh đời của anh đã ghi hết tất cả những nét đặc biệt trong thư. Nét chữ vô cùng quen thuộc! Hen-rích đã đoán ra được kẻ viết bản mật báo này. - Xin cảm ơn ông Mi-le! ông đã làm cho tôi giải trí được một lúc. Kẻ viết bức thư này, rõ ràng là quá ngây thơ. Nếu ba tôi mà thấy được bức thư thì sẽ rầy rà to. Nói riêng với ông thôi nhé, ba tôi chắc sẽ cười gằn và có thể xem bức thư đó như một tài liệu có chiều hướng chống lại ba tôi. Rồi không đời nào thiếu tướng Béc-gôn tha tội cho ông đâu. Mi-le bối rối, hai mắt nhớn nhác: - Trời ơi, ông Hen-rích! Chỉ có mỗi một mình tôi đọc bức thư tố giác ngu xuẩn này thôi, tôi xem nó như một câu chuyện buồn cười vậy, và cốt giữ lại cho riêng ông đọc thôi đấy! Và bây giờ tôi với ông đã cười đủ rồi thì... Mi-le móc lấy chiếc bật lửa trong túi ra và đốt bức thư đó nhanh như chớp, đến nỗi Hen-rích không kịp giữ lại. - Hoài của quá, ông Mi-le! Ông vớ vẩn thật, tài liệu đấy!... - Không giữ lại một vết tích gì hết. Chúng tôi chỉ vào sổ những tài liệu do bọn điệp viên của chúng tôi cung cấp thôi. - Tiếc quá đi mất! Tác giả bức thư đã làm vui chúng ta như thế, mà chúng ta lại trả hắn bằng một sự vong ân bội nghĩa! Bây giờ ông có cho tôi chăm lo đến ông không? Vì đã bao nhiêu đêm ông không ngủ được đẫy giấc, và ông đã phải vất vả bao nhiêu với cái ủy ban đặc biệt ấy rồi. - Thong thả đã! Lúc nào tôi cũng sung sướng khi được gần gũi ông. Và tôi hết sức vui mừng vì ông đã thấy những bằng chứng của mối thiện cảm chân thành của tôi đối với ông. - Tôi cũng thấy như ông vậy! Về đến nhà, Hen-rích chạy ngay đến chiếc va-ly có món tặng phẩm của thiếu tá Sun cất cẩn thận trong phong bì- đó là ảnh của tướng Đa-ni-en đứng trước tấm bản đồ. Nhưng anh không ngắm ảnh. Mà chỉ chăm chú ngắm dòng chữ đề, đối chiếu với những nét chữ của bức thư nặc danh vừa rồi. Đúng lắm, không thể nhầm được - kẻ viết bức giác thư kia, chính là thiếu tá Sun như Hen-rích đã đoán.