- Khắp người cậu đã ra vẻ học sinh trường Hotchkiss rồi đấy, - cô Nichol nhìn Andrew trong gương nói. Sơ mi trắng, áo gió xanh, quần kẻ sọc màu sẫm. “Từ đầu đến chân”, cô Nichol nói thêm. Andrew đang định nói “tôi không cao lắm đâu” thì cha bước vào. Cậu liếc nhìn đồng hồ tay là món quà ông ngoại vừa tặng. Đến nay ông ngoại còn ra lệnh đuổi cổ những nhân viên nào đi làm chậm giờ.
- Hành lý của con để vào xe cả rồi, - cha vỗ vai nói. Andrew không đáp. Cậu hiểu cha nói thế là đã đến giờ ra đi. “Từ đây đến ngày Lễ Tạ ơn còn gần ba tháng nữa”, cha lại nói. Ba tháng chỉ là một phần tư của năm, quãng thời gian ấy chẳng có nghĩa gì trong cuộc đời một con người chỉ mới mười bốn tuổi. Andrew muốn nói để cha biết thế.
Andrew ra cửa chính xuống sân rải sỏi, kiên quyết không ngoái nhìn ngôi nhà yêu quý, và ba tháng nữa cũng không được thấy lại. Ra xe, cậu giữ cánh cửa sau cho mẹ ngồi vào. Rồi cậu bắt tay chào cô Nichol, làm như cô là bạn lâu năm, hẹn ngày Lễ Tạ ơn sẽ gặp lại. Cậu không biết chắc nhưng đoán hình như cô vừa khóc. Cậu quay ra phía khác, giơ tay vẫy chào người quản gia cùng nhà bếp, rồi ngồi vào xe.
Qua đường phố Farmington, Andrew nhìn những ngôi nhà quen thuộc cho đến nay cậu vẫn cho đó là trung tâm thế giới.
- Con nhớ mỗi tuần viết thư về, - mẹ nói. Cậu không đáp, vì cả tháng qua ngày nào cô Nichol cũng nhắc ít nhất vài lần câu đó.
- Cần thêm tiền con cứ gọi về, - cha nói.
Đúng là cha chưa đọc quyển điều lệ của nhà trường. Andrew không cho cha biết năm đầu ở trường Hotchkiss, học sinh chỉ được quyền có mười đô-la cho cả học kỳ. Trang bảy điều lệ đã ghi rõ như vậy, cô Nichol cũng đã gạch đỏ ở dưới.
Dọc đường ra ga không ai nói gì. Ai cũng bận suy nghĩ riêng. Cha đỗ xe ở cạnh ga rồi bước xuống. Andrew ngồi yên, chưa muốn rời xe, chờ mẹ mở cửa. Andrew nhảy ngay ra ngoài. Cậu không muốn ai trông thấy mình còn quyến luyến. Mẹ định nắm tay nhưng Andrew đã chạy ra sau xe cùng cha lấy hành lý.
Một nhân viên mũ xanh đem xe chở đồ tới. Xếp hành lý xong, họ ra sân ga, đến toa số tám. Nhân viên khuân vác đưa hành lý lên toa, Andrew quay lại chào tạm biệt cha. Cậu nói chỉ một người được cùng đi Lakeville, cha xuất thân ở trường Taft nên không đi được, chỉ mẹ đi thôi. Quyết định thế nhưng cậu cảm thấy ân hận.
- Chúc con chuyến đi tốt đẹp, - cha nói. Cậu chìa tay bắt, nghĩ bụng cha chẳng cần nói thế. Tất nhiên đến trường cậu sẽ hết sức cố gắng. “Con cũng đừng quên viết thư về.”
Andrew cùng mẹ bước lên tàu. Từ lúc tàu rời ga cậu không hể quay lại nhìn cha, nghĩ bụng như thế mới ra vẻ mình đã lớn.
*
- Con muốn ăn sáng chút gì không? - mẹ hỏi lúc nhân viên trên tàu đã xếp xong hành lý lên ngăn nóc.
- Vâng, có, - Andrew cười đáp. Từ sáng đến giờ cậu mới tỏ ra vui vẻ.
Một nhân viên mặc đồng phục đưa họ đến chiếc bàn trong toa ăn. Andrew xem thực đơn, tự hỏi không biết mẹ có cho phép ăn đủ thứ trong đó không.
- Con thích gì ăn nấy, - mẹ nói như hiểu cậu đang nghĩ gì.
Người phục vụ đến, Andrew mỉm cười và gọi: “Thịt băm viên, hai trứng ốp, vài lát thịt xông khói, và cà chua.” Chỉ trừ món nấm, vì cậu không muốn người phục vụ tưởng ở nhà mẹ không cho ăn đầy đủ.
- Còn bà, thưa bà cần món gì? - người phục vụ hỏi.
- Cảm ơn, cho tôi cà-phê và bánh mì nướng là đủ.
- Đây là lần đầu cậu đi tàu phải không ạ? - người phục vụ hỏi.
Bà Davenport mỉm cười gật đầu.
Andrew không hiểu tại sao anh ta cũng biết cậu đi lần đầu.
Andrew ăn hết sạch, bụng nghĩ có lẽ cả ngày không được ăn nữa. Trong quyền điều lệ của nhà trường không thấy nói đến các bữa ăn. Ông ngoại cũng dặn ở Hotchkiss chỉ được ăn ngày một bữa thôi. Trong lúc ăn, mẹ luôn nhắc cậu phải đặt dao dĩa xuống bàn. Bà nói: “Đi tàu không như đi máy bay, đừng cầm mãi dao dĩa trên tay như thế.” Andrew đoán mẹ cũng đang nóng ruột như mình.
Một học sinh khác mặc đồng phục như của Andrew đi qua cạnh bàn. Andrew quay mặt ra cửa sổ, không muốn cậu ta thấy mình mặc quần áo mới. Mẹ uống đến tách cà-phê thứ ba thì tàu vào ga.
*
- Đến rồi, - bà thủng thẳng nói.
Andrew ngắm nhìn tấm bảng có tên Lakeville. Cậu thấy các bạn khác đã xuống tàu, họ bắt tay chào hỏi nhau: “A! chào nhé! Nghỉ hè có vui không? Lại gặp nhau đây rồi!” Cậu liếc nhìn mẹ, ước gì không có mẹ ở đây. Các bà mẹ cùng đi chỉ chứng tỏ mình mới đi lần đầu.
Hai chàng trai cao lớn mặc áo gió xanh độn ngực, quần xám, đang xua những học sinh mới lên xe buýt. Andrew mong họ đừng để các cha mẹ lên xe, vì như thế chỉ tỏ ra mình là học sinh mới.
- Tên gì? - chàng trai mặc áo xanh hỏi Andrew vừa bước xuống.
- Davenport, thưa ông, - Andrew nhìn anh ta đáp, nghĩ bụng sao mình không cao lớn như anh ta.
Chàng trai cười gượng. “Đừng kêu tôi là ông. Tôi không phải thầy giáo, chỉ là giám thị ở trường.” Andrew cúi mặt. Vừa nói được một câu đã tỏ ra mình ngốc. “Fletcher, cho hành lý lên xe chưa?”
Fletcher? Andrew tự hỏi. À đúng, cả tên mình là Fletcher Andrew Davenport. Cậu không dám nói gì thêm, chỉ sợ lại mắc sai lầm.
- Dạ rồi, - Andrew đáp.
Chàng trai quay sang me Andrew. Anh ta nhìn vào danh sách nói: “Cảm ơn bà, thưa bà Davenport, bây giờ xin chúc bà trở lại Farmington mạnh khỏe. Xin bà yên tâm về Fletcher ở lại đây với chúng tôi.”
Andrew không muốn mẹ cứ quấn lấy mình, giơ tay bắt tay mẹ. Các bà mẹ chẳng hiểu con cái nghĩ gì. Lúc mẹ ôm chặt, Andrew tỏ ra e ngại. Mẹ vừa buông tay, Andrew đã vội chạy theo đám học sinh nhảy lên xe buýt. Cậu thấy một bạn nhỏ hơn mình ngồi quay mặt ra cửa sổ. Cậu đến ngồi bên cạnh.
- Tôi là Fletcher, - cậu nói, nhắc lại cái tên anh chàng giám thị nói khi nãy. “Còn cậu tên là gì?”
- James, - cậu kia đáp. “Nhưng các bạn gọi tôi là Jimmy.”
- Cũng là học sinh mới? - Fletcher hỏi.
- Ừ, - Jimmy khẽ đáp, không quay mặt lại.
- Tớ cũng thế, - Fletcher nói.
Jimmy rút khăn mùi xoa xỉ mũi, rồi quay nhìn Andrew.
- Cậu ở đâu? - Jimmy hỏi.
- Farmington.
- Đó là đâu thế?
- Gần Tây Hartford.
- Bố tớ cũng làm việc ở Hartford, - Jimmy nói. “Bố tớ làm việc cho chính phủ. Thế bố cậu làm gì?”
- Bố tớ bán thuốc, - Fletcher đáp.
- Cậu thích bóng đá không? - Jimmy hỏi.
- Thích, - Fletcher đáp. Đúng ra cậu chỉ biết là bốn năm qua chưa ai phá được kỷ lục của trường Hotchkiss. Cô Nichol đã gạch rõ điều ấy trong quyền điều lệ nhà trường.
Sau đó hai người toàn hỏi nhau những câu chẳng ai biết trả lời thế nào. Cuộc gặp gỡ kỳ lạ này mở đầu cho một tình bạn mà suốt đời họ sẽ không bao giờ quên.
6
- Rất vừa vặn, - cha nói, ngắm nhìn trong gương bộ đồng phục của con trai. Michael Cartwright vuốt lại chiếc cà- vạt xanh, phủi một sợi tóc vương trên áo. “Hết sức vừa vặn,” ông lại nói.
Nathaniel nghĩ bộ nhung kẻ này chỉ đáng 5 đô-la, nhưng cha bảo chỗ nào cũng đáng tiền.
- Susan, mau lên kẻo muộn, - cha nhìn lên gác gọi. Michael còn đủ thời gian xếp va- li và đánh xe ra đường trước khi Susan chúc con lên đường mạnh khỏe. Bà ôm chặt Nathaniel. Cậu ta chỉ sợ có ai ở trường Taft trông thấy cảnh này. Cậu mong mẹ đừng thất vọng vì sau khi nghĩ kỹ cậu đã không theo ý mẹ để chọn trường cao đẳng Jefferson, mặc dầu vào trường ấy thì tối nào cậu cũng có thể về nhà.
Cậu ngồi vào ghế trước bên cạnh cha, mắt nhìn vào đồng hồ trước mặt. Đã gần bảy giờ. “Ta đi thôi, bố”, cậu chỉ sợ đi muộn vào ngày đầu sẽ bị chê trách.
Ra đường cao tốc, cha rẽ sang đường ngoài, cho xe chạy với tốc độ lớn hơn, nghĩ bụng vào giờ này có thể phóng nhanh. Mặc dù Nathaniel đến trường Taft chỉ để phỏng vấn, nhưng lúc cha lái chiếc xe Studebaker qua cổng sắt to vào đường trong, cậu ta vẫn cảm thấy hết sức hồi hộp. Thấy có vài ba chiếc xe khác đến sau, cậu đã hơi yên tâm. Cha theo mấy chiếc Cadillac và Buick vào bên trong nhưng chưa biết đậu xe ở chỗ nào. Dù sao ông cũng là người mới. Trước khi cha kéo phanh tay cho xe dừng lại, Nathaniel đã nhảy ra ngoài. Cậu chưa biết có nên theo đám học sinh vào Hội trường lớn không, hay học sinh mới phải đến chỗ khác.
Cha vẫn theo đoàn người đi lên, bỗng một thanh niên tay cầm chiếc cặp giấy trông thấy Nathaniel ngăn lại hỏi: “Học sinh mới hả?”
Cha đáp thay Nathaniel: “Vâng.”
Chàng thanh niên lại hỏi: “Tên là gì?”
- Cartwright a, - Nathaniel đáp.
- À, học sinh trung. Cậu được phân vào lớp ông Haskins, chắc là cậu học giỏi. Các học sinh tiên tiến đều bắt đầu từ lớp ông Haskins. - Nathaniel chỉ cúi mặt không đáp. Cha mỉm cười. Chàng thanh niên nói tiếp: “Vào Hội trường Taft, cậu có thể ngồi bất cứ chỗ nào ở ba hàng ghế đầu bên trái. Lúc chuông đồng hồ đánh chín tiếng không được nói chuyện nữa. Chờ sau khi thầy chủ nhiệm và nhân viên ra ngoài mới được nói chuyện tiếp.”
- Sau đó làm gì? - Nathaniel hỏi, còn giấu vẻ e sợ.
- Cậu sẽ được thầy phụ trách thông báo đầy đủ, chàng thanh niên đáp rồi quay sang ông bố. “Thưa ông Cartwright, Nat ở đây sẽ tốt thôi. Xin chúc ông trở về mạnh khỏe.”
Nathaniel hiểu từ lúc này trở đì người ta sẽ gọi cậu là Nat, tuy biết mẹ không thích thế.
Cậu bước nhanh vào Hội trường Taft, cắm đầu đi giữa hai hàng ghế, không muốn ai để ý đến mình. Nhìn thấy một chỗ ở cuối hàng thứ hai, cậu lách vào đó ngồi. Cậu liếc nhìn một học sinh ngồi ghế bên đang ôm đầu. Chẳng hiểu cậu ta đang cầu nguyện hay cũng sợ hãi như mình?
Cậu lên tiếng: “Tôi là Nat.”
- Tôi là Tom, - cậu kia đáp nhưng không ngửng lên.
- Sau đây có gì nữa?
- Không biết, nhưng chắc là có chứ, - Tom đáp vừa lúc chuông đồng hồ đánh chín tiếng. Mọi người im lặng.
Một đoàn thầy giáo đi vào bằng lối giữa. Nat để ý không thấy ai là nữ. Mẹ cậu cũng không ưa các cô giáo. Họ bước lên bục, ngồi vào chỗ, còn để hai ghế trống. Hội trường yên lặng tuy một số còn nói nhỏ với nhau.
- Còn chờ gì nữa nhỉ? - Nat thì thầm. Bỗng mọi người đứng dậy, kể cả các thầy ngồi trên bục. Nat không dám nhìn ra chung quanh. Có tiếng chân của hai người bước vào. Cha tuyên úy, theo sau là thầy giáo chủ nhiệm, đến chỗ có hai ghế trống. Mọi người đứng chờ. Cha tuyên úy bước ra làm lễ cầu Chúa, kết thúc bằng bài hát “Ca tụng chiến công của nước Cộng Hòa.”
Cha tuyên úy về chỗ ngồi, nhường lời cho thầy chủ nhiệm. Ông Alexander Inglefield lặng lẽ nhìn khắp hội trường. Ông giơ tay ra hiệu cho mọi người ngồi. Ba trăm tám chục cặp mắt chăm chăm nhìn lên con người thấp lùn có lông mày rậm và cằm vuông, một hình ảnh khiếp sợ mà Nat chẳng muốn thấy chút nào.
Tay nắm chặt tà áo choàng đen, thầy chủ nhiệm nói khoảng mười lăm phút. Ông nói về lịch sử lâu đời của nhà trưởng, ca tụng những thành tựu của Taft về học tập và thể thao. Rồi ông nhin đám học sinh mới, nhắc lại để người nhớ phương châm của nhà trường: Non ut sibi ministretur sed ut ministret.
- Nghĩa là gì thế? - Tom hỏi nhỏ.
- Không để người phục vụ, mà phải phục vụ người, Nat khẽ đáp.
Thầy chủ nhiệm kết thúc, nói có hai dịp mà mỗi học sinh của trường không được phép vắng mặt, đó là kỳ thi và trận đấu với trường Hotchkiss. Ông nhấn mạnh đó là những ưu tiên, hứa sẽ cho nghỉ nửa ngày nếu Taft thắng Hotchkiss ở trận đấu bóng cuối năm. Lập tức cả hội trường reo hò vui vẻ, mặc dầu các học sinh từ hàng ghế thứ ba trở xuống đều biết bốn năm qua điều đó đã không thực hiện được.
Tiếng reo hò vừa ngớt, thầy chủ nhiệm bước xuống bục và cha tuyên úy cùng các nhân viên ra theo. Sau đó hội trường lại xôn xao. Các học sinh lớp trên giải tán, chỉ còn ba hàng đầu ngồi lại vì không biết đi đâu.
Chín mươi lăm học sinh ngồi chờ xem còn chuyện gì. Họ không phải chờ lâu vì một thầy lớn tuổi, - thực ra ông này chỉ mới năm mươi mốt nhưng Nat tưởng như ông còn già hơn cả bố mình - đã bước đến trước mặt. Ông ta béo lùn, nửa mái đầu đã bạc, một nửa hói. Ông nắm hai vạt áo, làm như kiểu thầy chủ nhiệm.
- Tôi là Haskins, - ông nói. “Tôi dạy ở các lớp dưới”, ông cười gượng. “Chúng ta bắt đầu bằng việc xếp chỗ và hoan tất vào mười rưỡi là giờ nghỉ đầu. Mười một giờ các em sẽ về từng lớp như đã phân phối. Bài đầu tiên là lịch sử nước Mỹ.” Nat nhăn mặt, vì cậu chẳng thích môn sử tí nào. “Sau đó là ăn trưa, nhưng các em đừng nghĩ đến vội.” Ông Haskins lại cười. Vài học sinh cười theo. “Đó cũng là truyền thống của trường Taft”, ông Haskins nói, “bất cứ em nào theo gót cha đều đã biết.” Một vài học sinh bật cười. Tom cũng cười.
Lúc họ được dẫn đi thăm các nơi trong trường, Nat luôn đi bên cạnh Tom. Hình như Tom đã biết những gì thầy Haskins sắp nói. Nat hiểu ra không những bố mà cả ông nội Tom đều là cựu sinh viên ở đây.
Sau khi xem mọi chỗ, từ hồ bơi đến bệnh xá, Nat và Tom đã trở thành đôi bạn thân. Hai mươi phút sau, họ quay về lớp và tự nhiên ngồi bên nhau.
Chuông đồng hồ đánh mười một giờ. Ông Haskins trở vào lớp. Sau lưng ông có một học sinh vào theo. Cậu ta có về nghênh ngang, các học sinh khác đều quay ra nhìn. Thầy cũng nhìn cậu ta lách vào ngồi sau bàn.
- Tên gì?
- Ralph Elliot.
Đây là lần cuối cùng thầy cho em được đến muộn, thầy Haskins nói. Rồi thầy hỏi: “Em nghe rõ chưa, Elliot?”
- Thầy nói thế là rõ, - cậu ta đáp, ngừng một chút mới nói tiếp, “thưa thầy.”
Ông Haskins quay ra nhìn khắp lượt. “Như thầy đã nói, bài đầu tiên là lịch sử nước Mỹ, cũng để các em nhớ rằng trường này do người em của một cựu tổng thống lập ra.” Với bức chân dung William H. Taft trong hội trường chính và bức tượng người em tổng thống trong khuôn viên, học sinh nào ít tò mò nhất cũng nhận ra được.
- Ai là tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ? - ông Haskins hỏi. Các cánh tay đều giơ lên. Ông Haskins gật, chỉ vào một em ở hàng ghế đầu.
- Thưa thầy, George Washington.
- Ai là người thứ hai? - ông Haskins hỏi. Cánh tay giơ lên đã ít hơn. Lần này Tom được chỉ định.
- Thưa thầy, Johns Adams.
- Đúng, còn người thứ ba?
Chỉ có hai tay giơ lên, một của Nat, một của học sinh đến chậm khi nãy. Ông Haskins chỉ vào Nat.
- Thomas Jefferson, từ 1800 đến 1808.
Ông Haskins gật, công nhận cậu ta nhớ cả thời gian.
Ông hỏi tiếp: “Người thứ tư là ai?”
- James Madison, từ 1809 đến 1817, - Elliot đáp.
- Người thứ năm? - ông hỏi Cartwright.
- James Monroe, từ 1817 đến 1825.
- Người thứ sáu? - ông hỏi Elliot.
- John Quincy Adams, từ 1825 đến 1829.
- Người thứ bảy? - ông lại hỏi Cartwright.
- Nat gãi tai: “Thưa thầy em không nhớ.”
- Cartwright, em không nhớ, hay không biết? - Ngừng một lát, ông nói: “Nhớ và biết là hai điều rất khác nhau.”
Rồi ông quay sang Elliot.
- Thưa thầy, em nghĩ đó là William Henry Harrison.
- Không, đó là tổng thống thứ chín. - Ông giải thích: “Năm 1841, chỉ một tháng sau khi nhậm chức ông đã mất vì bệnh viêm phổi, vì thế lịch sử không nói nhiều về ông này.” Rồi ông nói: “Sáng mai, các em phải cho thầy biết tên vị tổng thống thứ bảy. Bây giờ trở lại với những vị sáng lập. Yêu cầu các em ghi chép để lần sau viết bài luận ba trang về đề tài này.”
Nat viết được ba trang dài trước giờ kết thúc. Tom làm chưa nổi một trang. Khi ra ngoài, họ thấy Elliot bước nhanh qua mặt.
- Trông cậu ta có vẻ như một đối thủ thật sự, - Tom nhận xét.
Nat không nói gì.
Điều cậu ta chưa thể biết được, đó là cậu ta với Ralph Elliot sẽ trở thành đối thủ của nhau đến trọn đời.
7
Trận đấu bóng hàng năm giữa hai trường Hotchkiss và Taft là sự kiện thể thao của học kỳ sáu tháng. Hai đội đều bất bại nên giữa năm không thấy ai bàn tán gì. Riêng với đội Scotland, chuyện đã bắt đầu trước khi hết học kỳ.
Fletcher cảm thấy rất phấn khởi. Trong thư gửi mẹ hàng tuần, cậu ta nêu tên mọi người trong đội, tuy biết mẹ chẳng quan tâm đó là những ai.
Trận đấu tổ chức vào ngày thứ bảy cuối của tháng Mười. Sau tiếng còi kết thúc, tất cả được nghỉ nốt ngày cuối tuần, đội nào thắng được nghỉ thêm một ngày.
Ngày thứ Hai trước trận đấu, lớp của Fletcher phải vào ngồi ngay buổi đầu học kỳ. Từ sáng thầy chủ nhiệm đã nói: “Cuộc sống luôn luôn là những buổi kiểm tra thi cử, vì vậy trường Hotchkiss phải tranh thủ.”
Tối thứ Ba, Fletcher gọi điện báo cho mẹ biết cậu đã làm bài tốt.
Thứ Tư, cậu nói Jimmy không chắc lắm.
Thứ Năm, cậu nhìn lại những gì đã làm, không biết đã thực hiện đủ điểm lên lớp chưa.
Sáng thứ Sáu, bảng xếp hạng dán ở trường có tên Fletcher Davenport đứng đầu bảng. Cậu lập tức chạy ra điện thoại gần nhất gọi về cho mẹ. Nghe con nói, Ruth không giấu được sung sướng tuy chỉ thể hiện cho con biết là bà không ngạc nhiên. Bà chỉ nói “mẹ mừng cho con”.
Fletcher mừng lắm, nhưng cậu không vui khi thấy tên một bạn ở cuối bảng.
Trong cuộc họp toàn trường sáng thứ Bảy, cha tuyên ủy cầu nguyện cho “đội bóng bất bại của trường đã chơi vì vinh quang của Chúa”. Chúa đã ban phước cho tất cả các cầu thủ. Thầy chủ nhiệm không hoài nghi chiều thứ bảy Chúa sẽ ủng hộ cho đội nào.
Ở trường Hotchkiss, mọi thứ đều căn cứ vào lâu năm, ngay đến chỗ ngồi của học sinh cũng vậy. Học sinh mới phải ngồi ở cuối sân để xem các anh lớn giữ kỷ lục ra sao, kỷ lục mà học sinh trường Taft cũng hoan nghênh.
Do trường Taft thua trong trận đấu cuối tuần, cha mẹ Jimmy mời Fletcher về cùng đi dã ngoại trước khi vào trận sau. Fletcher không cho ai ở lớp mới biết, sợ họ ghen tị. Đứng đầu lớp mà không được ngồi với lớp đàn anh xem trận đấu của trường Taft, cậu chẳng sung sướng gì.
- Bố cậu là người như thế nào? - Jimmy hỏi Fletcher vào giờ tắt đèn đêm trước trận đấu.
- Bố tớ cừ lắm, - Fletcher đáp. “Nhưng phải nói để cậu biết bố tớ xuất thân ở trường Taft, và là đảng viên Cộng hòa. Thế còn bố cậu? Tớ chưa bao giờ được gặp một Thượng nghị sĩ.”
Bố tớ là nhà chính trị từ đầu đến chân, báo chí cũng mô tả ông ấy như vậy, - Jimmy nói. “Nhưng tớ cũng chẳng hiểu như thế là thế nào?”
Sáng hôm diễn ra trận đấu, không ai tập trung được vào việc kiểm tra sức khỏe, mặc dù ông Bailey vẫn vui vẻ thí nghiệm.
Mười hai giờ, chuông vừa reo là 380 học sinh đã ùa vào sân, hét inh ỏi, trông như một bộ lạc ra chiến trận, miệng kêu: “Hotchkiss, Hotchkiss, Hotchkiss sẽ thắng, hãy triệt hạ tất cả bọn Gấu Mèo.”
Thấy xe cộ kéo đến bên hồ, Fletcher chạy khắp ngả nhìn từng chiếc xe xem có bố mẹ ở đó không.
- Andrew yêu quý, con khỏe không? - mẹ bước ra hỏi.
- Gọi con là Fletcher nhé, Fletcher ở Hotchkiss, - cậu khẽ đáp, chỉ mong đừng ai nghe thấy mẹ nói chữ “yêu quý”. Cậu bắt tay cha nói: “Chúng con phải ra sân ngay vì được mời dự bữa ăn trưa của ông Thượng nghị sĩ Gates và phu nhân.”
Cha Fletcher trừng mắt. “Nếu cha nhớ đúng thì Thượng nghị sĩ Gates thuộc đảng Dân chủ kia mà?” Ông nhăn mặt.
- Trước kia ông ấy cũng là thủ quân đội bóng trường Hotchkiss, - Fletcher nói. “Con ông ấy, Jimmy, là bạn cùng lớp với con. Bọn con rất thân nhau, vì vậy mẹ nên ngồi cạnh ông Thượng nghị sĩ. Còn cha, nếu cha không thích có thể ngồi bên kia sân với các cổ động viên Taft.”
- Không, cha nghĩ có thể chịu đựng được. Ngồi gần ông ta mà hoan hô Taft ghi điểm cũng hay chứ sao.
Hôm đó là một ngày thu trong trẻo. Ba người đi qua thảm lá vàng rụng bước ra sân. Ruth muốn cầm tay con, nhưng Fletcher né tránh. Chưa ra đến sân đã nghe tiếng reo hò ầm ĩ.
Fletcher nhận ra Jimmy đứng bên chiếc xe hòm Oldsmobile, sau cánh cửa xe có những món ăn sang trọng hơn bất cứ thứ gì cậu ta thấy trong hai tháng qua. Một người cao lớn, lịch sự, bước đến. “Chào, tôi là Harry Gates.” Ông Thượng nghị sĩ chìa tay hoan nghênh cha mẹ Fletcher.
Cha Fletcher bắt tay. “Xin chào ông Thượng nghị sĩ. Tôi là Robert Davenport, còn đây là Ruth, vợ tôi.”
- Cử gọi tôi là Harry thôi. Đây là Martha, vợ đầu của tôi. - Bà Gates bước đến chào hai người. “Tôi phải kêu là vợ đầu... bà ấy mới nghe.”
- Các bạn uống gì? - Martha hỏi, không cười với câu nói đùa bà đã nghe nhiều lần.
- Có lẽ phải nhanh lên, - ông thượng nghị sĩ nói và nhìn đồng hồ. “Chúng ta còn hy vọng ăn được chút gì trước khi bắt đầu. Ruth, hãy để tôi phục vụ, còn chồng bà tự phục vụ lấy. Trông từ xa, tôi đã có thể đoán ngay ông là đảng viên Cộng hòa.
- Tôi nghĩ có lẽ còn tệ hơn thế, - Ruth nói.
- Tôi đã biết ông ấy là cựu đội viên Gấu Mèo. Nhân đây tôi nghĩ đến một cuộc vận động sắp tới ở bang này. - Ruth gật. “Này Fletcher, cậu cho biết đi kẻo tôi quên mất cha cậu đấy.”
Được Thượng nghị sĩ hỏi đến, Fletcher rất thích. Cậu liền khai hết với ông Thượng nghị sĩ mọi công việc của cơ quan lập pháp Connecticut.
- Andrew, - Ruth nhắc.
- Mẹ ơi, tên con là Fletcher.
- Fletcher, con tưởng ông Thượng nghị sĩ không thích nói chuyện gì khác ngoài chính trị hay sao?
- Không đâu, Ruth, tôi thích nghe lắm chứ, - Harry nói. “Các cử tri ít khi hỏi tôi những câu có chiều sâu như vậy, mà tôi thì mong cháu Jimmy cũng học được điều đó”
Bữa ăn dọn đi rồi, họ ra khán đài, vừa ngồi xuống trận đấu đã bắt đầu. Chỗ ngồi ở đây tốt hơn nhiều so với chỗ của học sinh mới. Từ sau khi tốt nghiệp, Thượng nghị sĩ Gates chưa hề bỏ qua một trận nào của trường Taft. Fletcher không giấu được thích thú thấy trên bảng báo hơn hai điểm. Cậu nhìn ra góc xa, nghe cổ động viên bên đối phương gào hết càng cảm thấy yêu trường này.
Nat chăm chú nhìn chữ A trên áo một cô gái trong đội cổ vũ.
- Nat là học sinh giỏi nhất của lớp cháu đấy, - Tom nói với cha Nat. Michael chỉ mỉm cười.
- Giỏi vừa thôi! - Nat thanh minh. “Cậu đừng quên tớ chỉ hơn Ralph Elliot có một điểm.”
- Hắn là con của Max Elliot chăng? - cha Nat lẩm bẩm.
- Max Elliot là ai thế ạ?
- Trong cái nghề của cha, người ta coi ông ta như một thứ rủi ro không thể chấp nhận được.
- Tại sao thế? - Nat hỏi lại nhưng cha không đáp. Ông cũng không cần giải thích vì cậu con đã quay ra nhìn đội cổ vũ nhảy múa mang trên mình những bông hoa xanh trắng. Nat chỉ nhìn cô gái thứ hai bên trái. Hình như cô ta cũng mỉm cười nhìn lại tuy Nat tự biết mình chẳng có gì đáng cho cô ta chú ý.
- Con cũng đã lớn rồi đấy, - cha Nat nói, nhìn chiếc quần cậu con mặc đã ngắn lên trên cổ giầy. Ông nghĩ đã đến lúc phải sắm cho con bộ đồ mới.
- Lớn, nhưng không phải do thức ăn của trường đâu, - Tom nói. Cậu ta nhỏ người nhất lớp. Nat không nói gì, vẫn chỉ chăm chú nhìn các cô gái trong đội cổ vũ.
- Cậu yêu cô nào chưa? - Tom bấm tay bạn.
- Cậu bảo sao?
- Lại còn hỏi nữa!
Nat quay mặt đi để bố khỏi nghe thấy câu trả lời. “Cô thứ hai bên trái, có chữ A trên áo.”
- Đó là Diane Coulter, - Tom nói. Cậu ta lấy làm khoái vì có cái mình biết mà bạn không biết.
- Sao cậu biết tên cô ta?
- Vì cô ta là em của Dan Coulter.
- Dan là cầu thủ kém nhất trong đội, - Nat nói. “Cậu ta có đôi tai xòe, và mũi gẫy.”
Tom cười. - “Diane cũng thế thôi nếu mấy năm vừa qua tuần nào cô ta cũng chơi bóng.”
- Cậu còn biết gì về cô ta nữa? - Nat khẽ hỏi.
- Cậu hỏi nghiêm túc đấy chứ? - Tom nói. Đến lượt Nat bấm tay bạn. Tom lại hỏi: “Định dùng bạo lực hả? Luật lệ của trường Taft không cho phép đâu nhé. Phải đấu bằng lý sự, không được đấu bằng chân tay. Nếu tớ nhớ đúng thì đó là câu của Oliver Wendell Holmes.”
- Ồ, thôi đi, - Nat nói. “Cậu hãy trả lời tớ đã.”
- Thật tình tớ chẳng biết gì nhiều về cô ta. Chỉ nhớ là ở Westover cô ta chơi cánh phải trong đội khúc côn cầu.
- Các cháu nói thầm gì với nhau thế? - cha Nat quay sang hỏi.
- Nói về Dan Coulter ạ, - Tom đáp, “Cậu ta là một hậu vệ của trường. Cháu chỉ bảo Nat là mỗi sáng cậu ta ăn hết sáu quả trứng.
- Sao cháu biết rõ thế? - mẹ Nat hỏi.
Vì một đứa trong bọn là bạn cháu mà, - Tom ranh mành đáp.
Cha mẹ Nat cười rộ. Nat vẫn nhìn chữ A trong đội Taft. Lần đầu tiên cậu ta để ý đến một cô gái. Bỗng tiếng ồn ào khiến cậu mất tập trung. Mọi người ở khán đài bên này đã đứng dậy chào mừng đội Taft ra sân. Lát sau các cầu thủ Hotchkiss từ phía bên kia sân cũng xuất hiện vừa lúc các cổ động viên nhảy lên hoan hô.
Fletcher cũng đứng dậy nhưng mắt vẫn nhìn theo cô gái có chữ A trên ngực áo. Cậu cảm thấy có lỗi vì cô gái đầu tiên mình yêu lại là người chuyên cổ vũ cho đội Taft.
- Hình như cậu không tập trung vào đội nhà, - ông Thượng nghị sĩ ghé tai Fletcher nói thầm.
- Ồ, có chứ ạ, - Fletcher đáp rồi quay sang các cầu thủ Hotchkiss lúc đó đã bắt đầu khởi động.
Đội trưởng hai bên chạy đến gặp trọng tài đứng giữa sân. Trọng tài mặc áo Ngựa Vằn búng một đồng tiền lên không trung. Đồng tiền lấp lánh trong ánh nắng chiều rồi rơi xuống đất. Nhìn mặt đồng tiền có hình Washington, đội Gấu Mèo mừng rỡ vỗ vào lưng nhau.
- Chắc là mặt phải, - Fletcher nói.
Lúc nghỉ giải lao, Fletcher nói với bố Jimmy: “Bác cho cháu mượn ống nhòm được không ạ?”
- Được chứ, - ông Thượng nghị sĩ đưa qua. “Vào hiệp sau trả lại cho bác nhé.” Fletcher không để ý giọng ông châm biếm. Cậu vẫn nhằm vào cô gái có chữ A trên áo, chỉ mong cô ta quay lại để cậu luôn nhìn thấy mặt.
- Cháu quan tâm đến ai thế? - ông Thượng nghị sĩ hỏi.
- Cháu chỉ nhìn chung cả đội Taft thôi ạ?
- Nhưng đội đã quay về sân đâu? - ông Thượng nghị sĩ nói. Fletcher đỏ mặt. “Nào, cháu nhìn chữ T, hay chữ A, hay chữ F?” - bố Jimmy lại hỏi.
- Dạ chữ A, - Fletcher thú nhận.
Ông Thượng nghị sĩ cầm ống nhòm, ngắm cô gái thứ hai bên trái, chờ cô ta quay mặt lại. “Bác tán thành sự lựa chọn của cháu. Rồi cháu định làm gì nữa?”
- Cháu không biết ạ, - Fletcher lúng túng. “Thật ra cháu cũng chưa biết tên cô ta.”
- Diane Coulter, - Thượng nghị sĩ nói.
- Sao bác biết ạ? - Fletcher hỏi, nghĩ bụng hình như các Thượng nghị sĩ cái gì cũng biết.
- Cháu tự hiểu lấy. Ở trường Hotchkiss không dạy thế sao? - Fletcher ngơ ngác. “Những gì cháu muốn biết đều ở trang 11 của chương trình,” ông Thượng nghị sĩ chìa cuốn sách nhỏ. Trang 11 có danh sách các cổ động viên của mỗi trường. Fletcher nhìn ảnh thốt lên: “À, Diane Coulter”. Cô ta kém Fletcher một tuổi. Con gái đã ở tuổi 13 thường không giấu tuổi. Cô ta còn chơi vĩ cầm trong dàn nhạc của trường nữa. Fletcher ước gì mình đã nghe lời khuyên của mẹ học đàn pianô.
Tiếng còi lại rúc lên. Sau một loạt chuyền bóng, đến lượt Hotchkiss làm chủ ở cuối sân và tiếp tục dẫn đầu cho đến hết hiệp ba.
- Hoan hô Taft, hoan hô Taft. Lại chơi hay như trước rồi, - ông Thượng nghị sĩ nói, giọng như hát, khi đội bóng ra ngoài nghỉ.
- Còn hiệp bốn nữa, - Fletcher trả lại ống nhòm cho Thượng nghị sĩ.
- Châu đã quyết định ủng hộ đội nào chưa? Hay ăn phải bà cô Mata Hari của đội Taft rồi đấy? - Fletcher chưa hiểu ông nói gì, nghĩ bụng chốc nữa về phòng sẽ tìm hiểu xem Mata Hari là thế nào. Thượng nghị sĩ lại nói: “Có lẽ cô ta ở địa phương này. Bác bảo nhân viên tìm hiểu là hai phút sau cháu sẽ biết hết về cô ta.”
- Cả địa chỉ và số điện thoại nữa chứ ạ? - Fletcher hỏi.
- Cả chuyện cô ta đã có bồ hay chưa, - Thượng nghị sĩ đáp.
- Như vậy chẳng phải là lợi dụng địa vị của bác ư? - Fletcher hỏi.
- Phải, - Thượng nghị sĩ Gates nói. “Nhưng nhà chính trị nào cũng sẽ làm như thế nếu điều đó đảm bảo cho ông ta có thêm hai phiếu trong cuộc bầu cử tới.”
- Như vậy cũng chưa giải quyết được vấn đề cháu có thể gặp cô ta hay không, vì cháu còn bị kẹt ở Farmington.
- Giải quyết được nếu sau lễ Giáng Sinh cháu đến ở chỗ bác vài ngày. Chắc chắn cha mẹ cô ta sẽ được mời đến nhà Quốc hội nhân việc gì đó.
- Bác làm việc ấy hộ cháu chứ ạ?
- Hẳn rồi, nhưng sẽ có lúc cháu phải trả ơn nếu làm ăn với một nhà chính trị.
- Trả ơn như thế nào ạ? - Fletcher hỏi. “Cháu sẽ làm bất cứ gì.”
- Đừng vội nhận ngay, vì cháu sẽ ở vào thế yếu lúc mặc cả. Tuy nhiên bác chỉ cần cháu trả ơn bằng cách làm sao cho Jimmy khỏi đứng cuối lớp. Thế là đủ.
- Cháu đồng ý, - Fletcher đáp và giơ tay bắt.
- Tốt, - ông Thượng nghị sĩ nói. “Hình như Jimmy chỉ muốn theo cách dẫn dắt của cháu.”
Lần đầu tiên có người gợi ý Fletcher sẽ trở thành một nhà lãnh đạo. Cho đến nay Fletcher chưa hề có ý nghĩ như vậy. Cậu ta suy nghĩ điều ông Thượng nghị sĩ vừa nói, không để ý đội Taft vừa thắng điểm. Mãi đến lúc Diane tách khỏi đội cổ vũ bắt đầu nhảy múa chào mừng đội chiến thắng, cậu mới hiểu năm học này sẽ chẳng còn ngày nào được nghỉ.
Trận đấu tiếp tục. Nat vẫn nhìn theo Diane đã trở về giữa đội cổ vũ. Cậu không biết làm thế nào gặp cô ta được. Có lẽ không dễ đâu. Còn lâu mới có thể với tới Dan Coulter. Một anh học sinh mới như mình sao có thể trèo lên đỉnh Olympia được?
- Giỏi! - Tom bỗng reo lên.
- Ai? - Nat hỏi.
- Coulter chứ ai. Cậu ta vừa thắng điểm.
- Coulter?
- Ơ hay, trong khi đội Kissies lúng túng, sao cậu vẫn cứ nhìn cô em cậu ta thế?
- Không, tớ có nhìn đâu.
- Vậy tớ hỏi đội nhà đã thắng bao nhiêu rồi? - Tom nhìn bạn. “Tớ biết mà, cậu có theo dõi đâu!” Tom thở dài. “Có lẽ đã đến lúc tớ phải giúp cậu thoát khỏi tâm trạng khổ sở ấy thôi.”
- Cậu nói thế là sao?
- Tớ sẽ thu xếp một cuộc gặp.
- Cậu làm được không?
- Được chứ. Bố cô ta buôn bán ô tô trong vùng. Nhà tớ vẫn mua xe chỗ ông ta. Những ngày nghỉ cậu chỉ cần đến chỗ tớ là xong.
Chả biết Nat có nhận lời không, vì tiếng reo hò của cổ động viên đội Taft rộ lên khi đội Gấu Mèo tấn công lại.
Lúc tiếng côi chấm dứt hiệp bốn, Nat reo lên rất to mà quên rằng đội nhà vừa thua. Cậu ta đứng yên, hy vọng cô gái có bộ tóc xoăn và nụ cười mê hồn sẽ nhìn đến cậu.
Nhưng cô ta không biết được vì đang nhảy múa cổ vũ cho đội Taft.
Tiếng còi cho phần hai hiệp bốn lại rúc lên. Cô gái mang chữ A biến vào khán đài, để ba chục chàng trai lực lưỡng ra thay, Nat đành về chỗ cũ, làm như vẫn tập trung vào trận đấu.
Đội Taft lấn dần từng bước, cuối cùng qua được ranh giới và dẫn đầu. Diane lại xuất hiện biểu diễn cảnh nhảy múa như trước.
- Cậu chưa tiến thêm được bước nào ư? - Tom nói. “Có lẽ tớ phải đích thân giới thiệu cho cậu thôi.”
- Cậu biết cô ta à? - Nat có vẻ không tin.
- Không biết. Nhưng sao cậu không đến chỗ tớ một tuần trong dịp nghỉ hè đi? Cứ đến đã, còn chuyện khác để tớ lo.
- Cậu làm được ư?
- Cậu sẽ mất nhiều công đấy.
- Kế hoạch của cậu thế nào?
- Trước hết hãy làm nhiệm vụ nghỉ hè đã, tớ đỡ phải lo cả hai phía.
- Đồng ý, - Nat nói.
Sau trận đấu, Nat và Tom đến đứng ngoài phòng thay áo. Nhiều cổ động viên đội Taft cũng đến đây. Vừa trông thấy cô ta bước ra, Nat hích tay vào sườn bạn. Tom vội bước tới. “Chào Diane”. Cô ta chưa kịp đáp, Tom đã nói luôn: “Giới thiệu với cô, đây là Nat. Chính cậu ta muốn gặp cô đấy.” Nat đỏ mặt, thấy Diane còn đẹp hơn trong ảnh. “Nat ở Cromwell, nhưng sau lễ Giáng Sinh cậu ta sẽ đến chỗ tôi ít ngày, lúc đó cô sẽ biết thêm về cậu ta,” Tom nói.
Đến bây giờ Nat đã thấy tin tưởng ở một điều: con đường Tom chọn sau này chắc chắn sẽ ở ngành ngoại giao.