Những Đứa Con Của Số Phận

Những Đứa Con Của Số Phận

Lượt đọc: 16 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần Một - 1

❊ ❊ ❊

Susan ném cái kem vào đầu Michael Cartwright. Chuyện đó xảy ra hồi hai đứa mới gặp nhau lần đầu. Sau này, Susan và Michael lấy nhau đã được hai mươi mốt năm, anh chàng phù rể của Michael còn kể lại như vậy.

Hồi ấy hai đứa chỉ mới ba tuổi. Nghe tiếng Michael khóc, bà mẹ của Susan chạy ra xem có chuyện gì. Susan chỉ một mực đổ vạ: “Tại nó muốn thế! tại nó muốn thế!” Cuối cùng Susan ăn một cái phát vào đít. Chả có mối tình lý tưởng nào lại mở đầu như thế.

Cũng theo anh chàng phù rể, lần hai đứa gặp nhau sau này là khi vào trường tiểu học. Susan ra vẻ hiểu rõ về Michael, bảo cậu ta hay khóc nhè, lại hay mách lẻo nữa. Còn Michael thì xui đám con trai, đứa nào đến giật tóc Susan nó sẽ cho kẹo. Nhưng chẳng đứa nào dám giật tóc Susan đến hai lần.

Cuối năm học thứ nhất, Susan và Michael đều được giải thưởng của lớp. Cô giáo bảo thế là tốt, hy vọng hai đứa không ném kem vào nhau nữa. Nhưng Susan kháo với các bạn bài tập ở nhà là do mẹ Michael làm hộ, nhưng Michael cãi chữ viết trong bài chính là của mình.

Hai đứa cứ thế chọi nhau suốt thời gian ở trường cấp 2 và cấp 3 cho đến khi mỗi đứa về một trường đại học khác nhau.

Michael vào trường công ở bang Connecticut, còn Susan về học trường Georgetown. Suốt bốn năm, hai đứa chỉ tránh mặt nhau. Đến khi buộc phải gặp nhau lại là ở nhà Susan, vì lần này cha mẹ Susan mở tiệc chiêu đãi mừng con gái tốt nghiệp. Không phải Michael được mời đến dự, mà cậu ta tự tìm đến. Trông thấy Michael, Susan không nhận ra ngay đó là đối thủ cũ. Phần vì cậu ta đã lớn ra nhiều, cũng là lần đầu Susan thấy Michael cao to hơn mình. Susan đem rượu đến mời, chỉ nghe Michael nói: “Lần này cô không đổ rượu lên đầu tôi chứ?” Bấy giờ Susan mới nhìn ra quả thật anh ta vừa cao lớn, lại vừa đẹp trai.

- Trời ơi, thật tôi đã xử sự rất không phải, - Susan nói, mong Michael xí xóa.

- Thế đấy, nhưng tôi nghĩ như vậy cũng đáng, - Michael đáp.

- Vậy sao? - Susan bưng miệng.

Hai người nói chuyện với nhau như một đôi bạn cũ. Susan chỉ hơi ngạc nhiên, cũng hơi thất vọng, thấy một cô bạn cùng lớp ở Georgetown xà vào góp chuyện, lại ra vẻ tán tỉnh Michael nữa. Tối hôm ấy hai người không nói gì thêm với nhau.

Hôm sau Michael gọi điện thoại mời Susan xem phim Xương sườn Adam có Spencer Tracy đóng với Katharine Hepburn. Susan xem rồi nhưng vẫn nhận lời. Cô còn mất thời gian chọn xem bộ áo nào thích hợp với cuộc hẹn hò đầu tiên ấy.

Xem rồi nhưng Susan còn thích cuốn phim, nghĩ bụng có lẽ Michael sẽ quàng vai mình khi phim đến đoạn Spencer Tracy ôm hôn Katharine Hepburn. Nhưng không thấy Michael làm gì. Ra ngoài rạp, Michael bỗng nắm tay Susan cùng sang đường. Vào quán cà-phê, Michael mới bỏ tay ra. Nhưng lần này hai người lại cãi nhau, nói đúng hơn là bất đồng ý kiến. Michael bảo tháng Mười một tới anh ta sẽ bỏ phiếu cho Thomas Dewey. Còn Susan nói nhất định sẽ bầu người đương nhiệm của đảng Dân chủ, để Harry Truman ở lại Nhà Trắng. Người hầu bàn đem cốc kem đặt xuống trước mặt Susan. Cô chỉ chăm chăm nhìn vào đó.

- Này, đừng tái diễn chuyện ấy nhé, - Michael nói.

Hôm sau Michael lại gọi đến. Susan không lạ, trái lại còn ngồi miết bên điện thoại nói chuyện hàng giờ, làm như đang đọc sách.

Cũng hôm đó, lúc ăn sáng, Michael thổ lộ với mẹ rằng anh ta đã yêu.

- Con quen Susan nhiều năm rồi kia mà? - mẹ nói.

- Không, mẹ ơi, hôm qua con mới gặp cô ấy lần đầu.

Hai gia đình vui vẻ, không ai ngạc nhiên. Một năm sau hai người đính hôn. Đúng ra, từ sau buổi chiêu đãi Susan tốt nghiệp, hầu như ngày nào hai nhà cũng gặp nhau. Chỉ ít ngày sau khi ra trường, hai người đã có việc làm. Michael phụ tá ở Công ty Bảo hiểm nhân thọ Hartford. Susan dạy sử ở trường cao đẳng Jefferson. Hai người quyết định cưới trong dịp hè.

Điều họ không tính trước là Susan có mang ngay trong tuần trăng mật. Sắp được làm cha, Michael không giấu được sung sướng. Đến tháng thứ sáu, bác sĩ Greenwood bảo Susan sẽ đẻ sinh đôi, Michael càng phấn khởi.

- Thế là giải quyết được một vấn đề, - Michael nói.

- Vấn đề gì? - Susan hỏi.

- Một đứa sẽ là Cộng hòa, một đứa Dân chủ.

- Liên quan gì đến việc đó? - Susan xoa bụng nói.

Susan tiếp tục dạy học đến tháng thứ tám, vừa trùng hợp với dịp nghỉ lễ Phục Sinh. Ngày 28 tháng 9, Susan mang theo va- li nhỏ vào bệnh viện. Michael cũng rời chỗ làm việc sớm. Mấy phút sau anh đến chỗ Susan, báo tin mới được đề bạt vào cương vị phụ trách kế toán.

- Nghĩa là sao? - Susan hỏi.

- Đó là chức danh của nhân viên bán bảo hiểm, - Michael đáp. “Có chức danh là được tăng lương, như thế càng tốt vì sắp tới chúng ta phải nuôi thêm hai miệng ăn.”

Susan vào phòng đẻ. Bác sĩ Greenwood bảo Michael chờ bên ngoài. Ông nói đẻ sinh đôi rất phức tạp.

Michael đi đi lại lại trong hành lang. Đầu tường treo bức ảnh Josiah Preston. Vài lần trước anh không đứng lại đọc những dòng chữ dưới bức ảnh giới thiệu tiểu sử người sáng lập bệnh viện. Lúc bác sĩ bước ra, anh đã đọc thuộc lịch sử nhân vật.

Bác sĩ chậm rãi đến trước mặt Michael, tay gỡ khẩu trang màu xanh. Michael cố nhìn xem ông có biểu hiện gì. Trong nghề bán bảo hiểm nhân thọ, chỉ nhìn mặt khách hàng đã đoán được nỗi lo của khách, do đó có thể nắm lợi thế. Nhưng với bác sĩ thì không. Bác sĩ chỉ mỉm cười nói: “Chúc mừng ông Cartwright. Ông đã có hai đứa con trai khỏe mạnh.”

Chiều hôm đó, Susan đẻ hai đứa: Nat, lúc 4 giờ 37 phút, và Peter, lúc 4 giờ 43 phút. Một giờ sau, cha mẹ hai nhà lần lượt đến nâng niu hai cháu bé. Bác sĩ Greenwood nhắc để cho mẹ con Susan nghỉ ngơi. Ông nói: “Cho hai cháu bú, người mẹ sẽ rất mệt. Qua đêm, tôi sẽ cho hai cháu được săn sóc riêng. Các vị yên tâm, ở đây chúng tôi đã quen với trẻ sinh đôi.”

Michael theo hai con đến phòng để trẻ sơ sinh, nhưng phải đứng bên ngoài. Tự hào được làm cha, anh dán mũi vào cửa kính nhìn những chiếc giường con và đám trẻ đang ngủ. Thấy ai đi qua anh cũng muốn khoe “hai đứa kia là con tôi đấy.” Anh mỉm cười với cô y tá đang chờ nhận những trẻ khác, nhìn cô ta buộc thẻ mang tên vào những cổ tay nhỏ xíu.

Michael không nhớ đã đứng đó bao lâu mới quay về bên giường vợ. Anh sung sướng nhìn Susan ngủ say, khẽ hôn lên trán vợ nói: “Em yêu, sáng sớm mai anh sẽ vào trước khi đi làm”, tuy chẳng hiểu vợ có nghe thấy không. Anh ra về, đi dọc hành lang, vừa sắp vào thang máy bỗng gặp bác sĩ Greenwood bước ra. Ông đã thay áo, mặc bộ đồ thể thao bằng nỉ màu xám.

- Tôi mong mấy mẹ con đều yên ổn, - bác sĩ nói lúc thang máy xuống tầng trệt. Ông Cartwright, tối nay tôi sẽ quay lại kiểm tra tình hình vợ ông và các cháu. Chắc không có vấn đề gì đâu.

- Cảm ơn bác sĩ, cảm ơn lắm lắm, - Michael đáp.

Bác sĩ Greenwood cười. Lúc ấy giá như không trông thấy một bà khác ăn mặc lịch sự từ ngoài bước vào qua cửa xoay, có lẽ bác sĩ đã ra xe về nhà. Nhưng ông vội vã chạy ra đón người đàn bà ấy. Đó là Ruth Davenport.

Michael Cartwright ngoảnh lại thấy bác sĩ giữ cửa thang máy cho hai người đàn bà bước vào, một bà mang bầu khá to. Nhìn người đàn bà, nụ cười ấm áp trên mặt bác sĩ Greenwood bỗng tan biến, nhường chỗ cho một cái nhìn tỏ ý lo ngại. Michael thầm nghĩ nếu đỡ cho bà ta, bác sĩ Greenwood cũng gặp thuận lợi như với Susan vợ anh. Ra xe, anh vẫn còn hớn hở. Anh tự hỏi không biết còn phải làm những gì nữa đây.

Việc anh phải làm bây giờ là gọi điện thoại báo tin cho ông bà cha mẹ hai nhà biết.

 

 

 

 

2

 

Ruth Davenport phải chấp nhận đây là cơ hội cuối cùng. Vì lý do nghề nghiệp, bác sĩ Greenwood không nói thẳng, chỉ khuyên Ruth mấy năm qua đã hai lần sẩy thai rồi, nay không nên chửa đẻ nữa. Nhưng Robert Davenport không bị ràng buộc về ý thức nghề nghiệp như bác sĩ, biết vợ có mang lần thứ ba đã nói thẳng và nhắc “lần này phải rất cẩn thận đấy.” Ý Robert muốn vợ đừng nóng ruột để ảnh hưởng đến đứa con sắp ra đời. Robert Davenport tin chắc đứa bé sinh ra lần này sẽ là con trai. Biết vợ đẻ khó, cũng chưa chắc đã đẻ được, ông luôn miệng dặn vợ “phải cẩn thận! phải cẩn thận!”. Dù sao Ruth Davenport cũng là con gái Josiah Preston. Dư luận đồn giá như Ruth là con trai thì bà ta, chứ không phải chồng, đã làm Chủ tịch Liên hiệp Công ty Dược phẩm Preston. Nhưng Ruth chỉ tự an ủi và bằng lòng kế nghiệp cha làm Chủ tịch Liên hiệp Công ty Bệnh viện Thánh Patrick. Vả lại gia đình Preston đã có chân trong công ty từ bốn đời nay.

Các bạn cũ ở Bệnh viện Thánh Patrick đều biết Ruth Davenport có đủ những đức tính của cha. Chỉ cùng làm việc vài tuần họ đã thấy Ruth thừa hưởng khí chất và tài năng của người cha, không những thế, người con gái độc nhất ấy còn được cha truyền cho nhiều kiến thức và tính khôn ngoan hiếm có.

Ba mươi ba tuổi Ruth mới lấy chồng. Không phải không ai muốn lấy, vì nhiều người đã tỏ ra trung thành hết mực nếu được thừa hưởng tài sản bạc triệu của gia đình Preston. Josiah Preston cũng không cần giải thích cho con gái về những anh chàng săn của ấy, đơn giản vì Ruth chẳng yêu bất cứ anh nào. Thật ra, trước khi gặp Robert, chính Ruth cũng tự hoài nghi liệu mình có biết yêu là thế nào.

Robert Davenport bỏ hãng Roche về làm cho Công ty Dược Phẩm Preston sau khi đã qua trường Johns Hopkins và Đại học Doanh Nghiệp Harvard, những nơi được ông Preston mô tả là “đường cao tốc”. Ruth nhớ gần đây ông cụ cũng hay diễn đạt bằng những thành ngữ hiện đại. Robert đã là phó chủ tịch từ lúc hai mươi bảy tuổi. Ba mươi tuổi được coi là Phó chủ tịch trẻ nhất trong lịch sử Công ty, thậm chí phá kỷ lục của Josiah Preston trước đây. Lần này Ruth yêu thật, yêu con người mà danh tiếng tiền bạc của nhà Preston không mảy may làm cho choáng mắt hoặc e sợ. Nghe Ruth nói mình có thể trở thành phu nhân Preston- Davenport, Robert chỉ đơn giản đáp: “Nếu tôi muốn con người sẽ mang tên Preston- Davenport ấy, thử hỏi ai dám ngăn nổi việc tôi trở thành chồng cô?”.

Chỉ vài tuần sau khi cưới, Ruth đã báo tin có bầu. Vụ sẩy thai lần thứ nhất chỉ là chuyện nhỏ đáng tiếc trong cuộc sống tươi đẹp của hai người. Mười một tháng sau, Ruth có bầu lần thứ hai, nhưng việc ấy cũng lại nhanh chóng qua đi, không ai nhắc đến nữa.

Khi đó Ruth đang chủ tọa cuộc họp Ban Quản trị Công ty Bệnh viện bỗng thấy bụng co thắt. Cô chỉ việc ra thang máy lên tầng hai cho bác sĩ Greenwood kiểm tra là xong. Nhưng tài chuyên môn của bác sĩ và nhân viên hết lòng với phương tiện y tế mới nhất cũng chẳng cứu sống được đứa bé đẻ non. Lúc đỡ cho Ruth, bác sĩ Kenneth Greenwood nhớ lại trước kia ông đã gặp trường hợp tương tự. Qua một tuần, nhân viên bệnh viện còn tin rằng đứa bé gái kia sẽ sống. Đến nay, ba mươi lăm năm sau, gia đình Davenport lại gặp tình hình y như cũ.

Bác sĩ Greenwood bảo riêng với Robert Davenport có lẽ đã đến lúc vợ chồng ông phải tính việc nuôi một đứa con nuôi. Robert miễn cưỡng đồng ý, nói sẽ bàn việc ấy khi nào vợ khỏe lại.

Một năm trôi qua, cuối cùng Ruth đồng ý đến thăm một nơi chuyên cung cấp con nuôi. Chẳng hiểu sao việc này lại trùng hợp với quyết định của số phận, đến nhà văn cũng không thể nghĩ ra được, vì ngày Ruth đến thăm nơi đó cũng chính là ngày cô có bầu lần thứ ba. Lần này Robert nhất định cho rằng dù con người có sai lầm thế nào đi nữa cũng không thể là lý do để ngăn đứa bé ra đời.

Nghe theo Robert khuyên nhủ, Ruth từ chức Chủ tịch Liên hiệp Công ty Bệnh viện. Ruth còn đồng ý với chồng phải thuê riêng một nữ y tá để thường xuyên trông nom săn sóc. Robert Davenport tìm trong danh sách nhân viên, cố chọn ra người nào đáp ứng yêu cầu. Cuối cùng ông chỉ cần biết người đó phải có khả năng khuyên Ruth biết “cẩn thận”, nhất là buộc Ruth phải từ bỏ cái thói quen bất chấp mọi thứ.

Sau ba lần phỏng vấn, Robert chọn được cô Heather Nichol, y tá trưởng khoa phụ sản bệnh viện Thánh Patrick. Ông ưng cách làm việc của cô Nichol. Ngoài ra, cô ta chưa chồng, cũng không muốn thay đổi hoàn cảnh để tìm một tương lai khác. Cái đáng quý ở cô ta là đã từng đỡ đẻ cho hàng ngàn đứa bé khác.

Robert yên tâm thấy cô Nichol nhanh chóng thích ứng với sinh hoạt gia đình. Mấy tháng trôi qua, ông càng tin lần thứ ba này vợ mình sẽ không gặp rắc rối nữa. Năm tháng, sáu tháng, rồi bảy tháng không có chuyện gì, Robert đã bắt đầu tính đặt tên cho con: nếu là con trai sẽ đặt tên Fletcher Andrew, nếu là con gái sẽ đặt tên Victoria Grace. Ruth bảo đặt tên Andrew cũng được đấy, nhưng vấn đề là đẻ được đứa con khỏe mạnh.

Robert di New York dự một hội nghị về y tế. Đang họp bỗng nghe cô Nichol gọi điện thoại nhắn ông ra ngoài, báo tin vợ ông đã bắt đầu thấy bụng co thắt. Ông trả lời sẽ đáp xe lửa về ngay và nhảy tắc- xi đến bệnh viện Thánh Patrick.

Đỡ xong hai đứa bé sinh đôi của nhà Cartwright, bác sĩ Greenwood sắp ra về bỗng trông thấy Ruth Davenport từ bên ngoài bước vào qua cửa xoay, có cô Nichol đi kèm. Ông vội vã chạy ra chỗ hai người vừa lúc cánh cửa thang máy sắp đóng.

Đưa Ruth vào một phòng riêng rồi, bác sĩ Greenwood lập tức tập hợp các bác sĩ nhi khoa giỏi nhất bệnh viện. Giá như Ruth Davenport chi là bệnh nhân bình thường, ông và cô Nichol đã có thể đỡ mà không cần gọi thêm người trợ giúp. Nhưng vừa khám xong ông thấy ngay nếu không mổ tử cung lấy thai nhi, đứa con của Ruth sẽ không thể an toàn. Ông nhìn lên trần nhà thầm cầu nguyện, cho đây là cơ hội cuối cùng của Ruth.

Việc đỡ đẻ mất hơn bốn mươi phút. Thoạt trông thấy đầu đứa bé, cô Nichol thở phào yên tâm. Đến khi bác sĩ đã cắt sợi dây rốn, cô mới reo lên vui mừng. Khi ấy Ruth đang bị gây mê, không nhìn thấy nụ cười nhẹ nhõm trên mặt bác sĩ Greenwood. Ông nhanh chóng bước ra ngoài báo tin cho Robert đang chờ: “Con trai.”

Ruth vẫn đang ngủ yên lành, cô Nichol đem cháu Fletcher Andrew đến phòng trẻ sơ sinh đặc biệt. Cô đặt đứa bé vào giường, giao lại cho một cô y tá khác, rồi quay về phòng Ruth ngồi xuống ghế ở góc phòng, cố thức thêm một lúc.

Rạng sáng, cô Nichol bừng tỉnh nghe có tiếng gọi: “Cho tôi xem con tôi được không?”

- Ồ, được chứ ạ, thưa bà Davenport, - cô Nichol đứng dậy đáp. “Tôi đem cháu Andrew về đây ngay”. Cô khép cửa nói, “Xin bà chờ cho vài phút.”

Ruth Davenport ngồi thẳng dậy, vỗ vỗ cho phồng chiếc gối, bật ngọn đèn đầu giường, nóng ruột chờ đợi.

Cô Nichol đi dọc hành lang nhìn đồng hồ tay. Lúc này là 4 giờ 31 sáng. Cô vào cầu thang xuống tầng năm, đến phòng để trẻ. Cô khẽ mở cửa cho đám trẻ khỏi thức giấc. Cô bước vào, nhìn mỗi đầu giường có gắn đèn huỳnh quang nhỏ, nhìn cô y tá trực đêm đang ngủ thiếp ở góc phòng. Cô Nichol không muốn phiền cô y tá trẻ ngủ say sau tám giờ trực đêm.

Cô rón rén giữa hai dẫy giường, dừng lại nhìn cặp sinh đôi ở giường bên cạnh cháu Fletcher Andrew Davenport.

Cô ngắm nhìn đứa bé, tưởng như suốt đời nó sẽ chẳng biết đòi hỏi gì. Vừa cúi xuống định nhấc nó ra ngoài, cô bỗng lịm người. Đã từng đỡ đẻ cho hàng nghìn đứa bé khác, cô biết ngay đứa bé này đã chết. Nhìn làn da nhợt nhạt và đôi mắt bất động của đứa bé, cô nghĩ bụng bây giờ có xem mạch cho nó cũng vô ích.

Thường vào những lúc phải có một quyết định cấp bách nào đó, đôi khi là quyết định của người khác, quyết định ấy có thể thay đổi toàn bộ cuộc đời một con người.

 

 

3

 

Nửa đêm, khi có người đánh thức bác sĩ Greenwood báo tin một đứa bé vừa qua đời, ông biết ngay đó là cháu nào. Ông lập tức vùng dậy vào ngay bệnh viện.

Xưa nay Kenneth Greenwood chỉ mong muốn một điều, đó là trở thành bác sĩ. Chỉ vài tuần sau khi vào trường y, ông đã xác định sẽ đi vào chuyên ngành nào. Mỗi ngày ông đều cảm ơn Chúa đã cho phép ông thực hiện điều mong muốn. Đôi khi, như Đấng Tối cao thấy cần phải cân bằng mọi sự trên đời, ông buộc lòng phải nói thẳng cho một bà mẹ rằng bà vừa mất đứa con. Nhưng với Ruth Davenport, mà đây là lần thứ ba, ông nghĩ không dễ dàng nói thế được.

Năm giờ sáng đường còn ít xe cộ, chỉ hai mươi phút sau bác sĩ Greenwood đã đậu xe ở chỗ dành riêng trong bệnh viện. Ông đẩy cánh cửa xoay, bước vội qua bàn thường trực vào thang máy, không kịp nghe lời chào buổi sáng của nhân viên ngồi đó.

- Bây giờ cử ai nói cho bà ấy biết đây? - cô y tá đợi ông ở cửa thang máy tầng năm lên tiếng hỏi.

- Để tôi nói, - bác sĩ Greenwood đáp. “Tôi là bạn của gia đình từ nhiều năm rồi,” ông nói tiếp.

Cô y tá sửng sốt. “Tôi tưởng chúng ta phải cảm ơn về đứa bé còn sống kia đã chứ?”

Bác sĩ Greenwood sững người. “Đứa bé nào?” ông hỏi lại.

- Vâng, cháu Nathaniel không sao. Chỉ có cháu Peter chết.

Bác sĩ Greenwood vẫn như ngơ ngẩn, chẳng hiểu thế nào.

- Vậy còn cháu Davenport? - ông hỏi.

- Theo tôi biết thì vẫn khỏe, - cô y tá đáp. “Nhưng tại sao ông hỏi thế?”

- Thì tôi đỡ nó trước khi ra về... chứ sao? - ông đáp, hy vọng cô y tá không nhận ra giọng ông ngập ngừng.

Bác sĩ Greenwood nhẹ bước giữa hai dẫy giường nhỏ nhìn đám trẻ. Đứa còn ngủ, đứa gào khóc như muốn khoe mình có buồng phổi. Ông dừng lại bên giường để hai đứa bé sinh đôi trước đó mấy giờ. Nathaniel vẫn ngủ yên, Peter không động đậy. Ông liếc sang giường bên nhìn tấm bảng ở đầu giường: Davenport, Fletcher Andrew. Nó cũng đang ngủ say, hơi thở đều đều.

- Tất nhiên tôi không dám đem đứa bé đi trước khi được bác sĩ...

- Cô không cần phải nhắc tôi về thủ tục bệnh viện, - bác sĩ Greenwood ngắt lời. - Cô trực lúc mấy giờ? - ông hỏi.

- Ngay sau nửa đêm, - cô y tá đáp.

- Từ lúc đó cô vẫn trực đấy chứ?

- Vâng, thưa ông.

- Trong khoảng thời gian ấy có ai vào đây không?

- Không ạ, thưa bác sĩ, - cô y tá đáp, không dám nhắc đến chuyện cách đó khoảng một giờ hình như có tiếng ai mở cửa; vả lại thấy bác sĩ đang có vẻ giận dữ nên không nói. Bác sĩ Greenwood chăm chú nhìn hai chiếc giường có ghi những tên Cartwright, Nathaniel, Peter. Ông biết bây giờ phải làm gì.

- Cô hãy đem cháu này xuống nhà xác, - ông khẽ nói. “Tôi sẽ viết ngay báo cáo, nhưng từ giờ đến sáng cô đừng cho bà mẹ biết vội. Mà lúc này có đánh thức bà ấy cũng chẳng ích gì.”

- Vâng, thưa bác sĩ, - cô y tá khẽ đáp.

Bác sĩ Greenwood ra khỏi phòng để trẻ, từ từ đi dọc hành lang rồi dừng lại trước phòng bà Cartwright. Ông khẽ mở cửa, yên tâm nhìn bà ta ngủ say. Ông rẽ cầu thang lên tầng sáu, mở cửa phòng riêng bà Davenport. Ruth cũng đang ngủ. Ông liếc nhìn vào góc phòng thấy cô Nichol vẫn ngồi trên ghế. Ông biết chắc cô ta đang mở mắt nhưng không muốn phiền. Ông khép cửa, đi tiếp về cuối hành lang, rồi lách người bước vào thang thoát hiểm hỏa hoạn để xuống chỗ đậu xe. Ông không muốn ai ở bàn thường trực trông thấy mình. Ông cần có thời gian suy nghĩ.

Hai mươi phút sau, bác sĩ Greenwood về đến nhà. Ông nằm vào giường nhưng không ngủ được.

Bảy giờ, lúc chuông đồng hồ reo ông còn thức. Việc trước tiên bây giờ là hành động như thế nào. Ông chỉ lo việc này sẽ có hậu quả ghê gớm và còn gây kinh ngạc không biết đến bao giờ.

Sáng hôm sau đường đông xe nên bác sĩ Greenwood mất thêm thời gian quay lại bệnh viện Thánh Patrick. Ông rất sợ phải cho Ruth Davenport biết con bà đã chết trong đêm. Làm sao có thể nói mà không gây tai tiếng. Dù thế nào ông cũng phải đến phòng Ruth giải thích về chuyện vừa xảy ra, nếu không sẽ chẳng bao giờ ông được yên tâm.

- Chào bác sĩ Greenwood, - cô y tá ngồi bàn thường trực lên tiếng chào, nhưng không thấy ông đáp lại.

Ra khỏi thang máy tầng sáu, ông đến phòng bà Davenport. Bước chân ông nặng chình chịch. Ông đứng lại trước cửa phòng, chỉ mong bà ta vẫn còn ngủ. Vừa mở cửa ông đã thấy Robert Davenport ngồi cạnh vợ, còn Ruth đang bế một đứa bé trên tay. Riêng cô Nichol không thấy đâu.

Thấy ông bước vào, Robert đứng ngay dậy.

- Kenneth, vợ chồng tôi mãi mãi nợ ông, - Robert bắt tay ông nói.

- Các vị chẳng nợ gì tôi hết, - bác sĩ khẽ đáp.

- Tất nhiên chúng tôi phải nợ chứ, - Robert quay nhìn vợ nói tiếp. “Ruth, ta có nên nói để bác sĩ biết ta đã quyết định như thế nào không nhỉ?”

- Sao không? Rồi còn phải làm gì để kỷ niệm nữa chứ, - Ruth đáp và cúi xuống hôn trán đứa bé.

- Nhưng trước hết tôi phải nói với các vị rằng... - bác sĩ lên tiếng.

- Không “nhưng” gì nữa, - Robert nói ngay. “Tôi muốn bác sĩ là người trước tiên biết tôi đã quyết định yêu cầu Ban quản trị Preston tài trợ cho việc xây nhà hộ sinh mới. Mà đó cũng là điều bác sĩ vẫn muốn thực hiện trước khi về nghỉ hưu.”

- Nhưng... - bác sĩ Greenwood lại lên tiếng.

- Chúng ta đã đồng ý với nhau là không “nhưng” nữa. Dù sao kế hoạch đã có từ nhiều năm rồi, - Robert nhìn đứa bé nói tiếp. “Vì vậy tôi nghĩ chẳng có lý do gì không thực hiện ngay việc xây dựng.” Rồi quay sang bác sĩ: “Trừ phi ông còn ý kiến gì khác...?”

Bác sĩ Greenwood im lặng.

Vừa trông thấy bác sĩ Greenwood ra khỏi phòng riêng bà Davenport, cô Nichol lặng người. Ông đang bế đứa bé trên tay đi ngược về phía thang máy xuống phòng để trẻ. Hai người nhìn thấy nhau trong hành lang. Bác sĩ không nói gì nhưng cô tin chắc ông đã biết việc cô vừa làm.

Cô Nichol nghĩ bụng nếu định bỏ trốn thì phải chuồn ngay từ bây giờ. Sau khi đem đứa bé quay lại chỗ để trẻ, cô đã ngồi thức suốt đêm ở góc phòng bà Davenport, nghe ngóng xem có ai phát hiện việc mình vừa làm hay không. Lúc bác sĩ Greenwood mở cửa nhìn vào, cô đã cố ngồi im không động đậy, cũng không biết lúc đó mấy giờ vì không dám cúi nhìn đồng hồ tay. Cô tưởng bác sĩ sẽ gọi cô ra ngoài bảo ông đã biết hết sự thật, nhưng chỉ thấy ông lặng lẽ bỏ đi. Cô ta đinh ninh chẳng ai khôn ngoan hơn mình.

Cô Heather Nichol đi tiếp về phòng riêng, mắt nhìn ra lối thoát hiểm hỏa hoạn ở cuối hành lang. Qua cửa phòng bà Davenport, cô bước nhanh hơn. Chỉ còn một quãng ngắn, cô bỗng nghe ai gọi: “Cô Nichol đấy phải không?” Cô đứng sững, mắt không rời lối thoát hiểm, chưa biết phản ứng thế nào. Vừa quay người, cô đã thấy ông Davenport đứng ngay trước mặt. “Có lẽ chúng ta cần nói chuyện riêng một chút,” - ông ta nói.

Ông Davenport đến gần hốc tường bên kia hành lang, tưởng cô Nichol theo sau. Nhưng cô ta như muốn khuỵu chân không đứng nổi, ngồi phịch xuống chiếc ghế trước mặt. Nhìn mắt ông Davenport, cô không thể đoán liệu ông ta có biết cô là thủ phạm vụ này không. Ông Davenport là người rất khó đoán. Ông ta không bao giờ chịu thua về bất cứ điều gì, dù là chuyện riêng tư cũng không thay đổi nét mặt. Cô không dám nhìn thẳng vào mắt ông ta, chỉ liếc ra sau thấy bác sĩ Greenwood vừa bước vào thang máy, và cánh cửa đã đóng lại.

- Tôi chắc cô biết tôi định hỏi cô điều gì chứ? - ông ta nói.

- Vâng, tôi biết, - cô Nichol thú nhận. Cô nghĩ bụng không biết họ sẽ còn thuê mình làm nữa không, hay sẽ tống vào tù.

Mười phút sau, khi bác sĩ Greenwood quay lại, cô Nichol biết chắc điều gì sẽ xảy đến và cuộc đời cô sẽ kết thúc ở đâu.

- Cô Nichol, cô biết rồi đấy. Cô có thể gọi điện thoại đến văn phòng tôi. Nếu cô thú nhận, tôi sẽ nói lại với các luật sư.

- Tôi suy nghĩ rồi, - cô Nichol đáp. Lần này cô nhìn thẳng vào mắt ông Davenport. “Tôi thừa nhận” cô đáp. “Nhưng nếu được tiếp tục làm việc như vú em cho gia đình, tôi cũng đồng ý.”

 

 

4

 

Cô Nichol ngăm nghía tấm ảnh trên báo Thời sự Hartford. Cô yên tâm thấy hai đứa trong ảnh đều có cằm vuông như của bố, tóc của Andrew thưa và xoăn, còn tóc của Nat cứng và bắt đầu ngả màu sẫm. Tuy nhiên Josiah Preston mới là người cứu vãn tình hình. Ông bảo đứa cháu ngoại có chiếc mũi giống của ông, còn cái trán gô thì đúng là truyền thống của gia đình Preston. Cô Nichol hay đem ý kiến ấy của ông cụ nói với người thân trong nhà và đám nhân viên hay nịnh bợ. Nhắc đến chuyện ấy, bao giờ cô cũng mở đầu bằng câu “Ông Preston nhận xét là...”

Về nhà được hai tuần, Ruth tiếp tục được cử làm Chủ tịch Liên hiệp Công ty Bệnh viện. Cô đã thực hiện ngay lời hứa của chồng là xây nhà hộ sinh mới cho bệnh viện Thánh Patrick.

Cô Nichol không phải làm việc lặt vặt gì khác, chỉ trông nom Andrew để Ruth được rảnh tay hoạt động như trước. Cô Nichol vừa làm bảo mẫu vừa dạy dỗ đứa bé, nhưng hầu như không ngày nào cô không lo sự việc sẽ có lúc bị tiết lộ.

Chuyện đầu tiên cô thấy lo là bà Cartwright gọi điện thoại sang nói sẽ tổ chức chiêu đãi mừng sinh nhật con trai. Bà ta lại nói cháu Andrew cũng sinh cùng ngày nên muốn nó sang dự luôn thể.

- Rất cảm ơn bà, - cô Nichol đáp. “Cháu Andrew cũng tổ chức lễ sinh nhật vào hôm đó. Rất tiếc là cháu Nat bên bà không sang dự được.”

- Vậy nhờ cô chuyển lời chúc mừng đến bà Davenport, bảo chúng tôi hoan nghênh lời mời dự lễ khánh thành nhà hộ sinh mới vào tháng sau nhé. - Cô Nichol làm sao dám từ chối lời mời đó? Đầu dây bên kia, sau khi bỏ máy, bà Susan Cartwright chẳng hiểu sao cô Nichol cũng biết tên đứa con trai của mình.

Bà Davenport về nhà được một lúc thấy cô Nichol đề nghị tổ chức chiêu đãi sinh nhật Andrew. Bà bảo đó là ý kiến hay và giao cho cô Nichol thu xếp, kể cả lập danh sách những người mời đến dự. Tổ chức chiêu đãi và nắm được vấn đề ai mời ai không là một chuyện, nhưng làm thế nào để bà Davenport không gặp bà Cartwright vào hôm khánh thành nhà hộ sinh Preston lại là chuyện hoàn toàn khác.

Hôm đó bác sĩ Greenwood dẫn hai bà đi thăm nhà hộ sinh mới. Ông vẫn không tin là chẳng ai để ý đến chuyện hai đứa trẻ giống nhau. Mỗi lần gặp cái nhìn của ông, cô Nichol lại quay đi chỗ khác. Cô vội trùm chiếc mũ lên đầu Andrew, trông nó như con gái. Ruth chưa nói gì cô đã thanh minh: “Trời trở lạnh nên tôi sợ Andrew bị cảm.”

- Bác sĩ Greenwood, về nghỉ hưu ông vẫn ở Hartford chứ ạ? - bà Cartwright chợt hỏi.

- Không ạ, vợ chồng tôi đã có kế hoạch về quê với gia đình ở Ohio, - ông đáp. “Nhưng thỉnh thoảng chúng tôi sẽ quay lại Hartford.”

Giá như khi nói thế bác sĩ không nhìn về phía mình, có lẽ cô Nichol đã yên tâm. Chờ bác sĩ Greenwood ra chỗ khác, cô mới tin rằng điều bí mật kia sẽ không bị ai phát hiện.

Mỗi lần Andrew được mời dự một hoạt động nào, hoặc cùng đi vào nhóm, hoặc tham gia thể thao hay đi dã ngoại trong dịp hè, việc trước tiên là cô Nichol phải tìm cách đảm bảo cho khỏi chạm trán bất cứ ai bên gia đình bà Cartwright. Cô làm việc đó khá thành công trong những năm đầu, không gây một chút nghi ngờ nào cho ông hay bà Davenport.

Trong chuyến thư buổi sáng có hai bức khiến cô Nichol tin chắc từ nay trở đi sẽ không còn gì đáng lo ngại. Thư thứ nhất gửi cho bố Andrew xác nhận cháu đã được nhận vào trường Hotchkiss, một trường tư thục lâu đời nhất ở bang Connecticut. Thư thứ hai, đóng dấu bưu điện từ Ohio, do Ruth mở ra xem.

- Ôi, thật tội nghiệp! - Ruth xem lá thư viết tay thốt lên: “Một con người tốt như thế mà!”

- Ai vậy? - Robert đang đọc Tạp chí Y học New England nhìn vợ hỏi.

- Bác sĩ Greenwood. Vợ ông ấy báo tin ông vừa qua đời thứ sáu tuần trước, thọ bảy mươi tư tuổi.

- Đúng là một con người rất tốt, - Robert lặp lại. “Có lẽ em phải đi dự đám tang đó,”

- Em phải đi chứ, - Ruth nói. “Có lẽ cô Heather cùng đi với tôi nhỉ?” Rồi nói tiếp. “Dù sao cô cũng đã làm việc với ông ấy rồi.”

- Vâng, tất nhiên, - cô Nichol đáp, vẻ buồn bã.

Susan đọc đi đọc lại bức thư, cảm thấy rất thương tâm. Bà nhớ mãi bác sĩ Greenwood đã khổ tâm như thế nào về cái chết của Peter, vì ông cho rằng mình có trách nhiệm trong đó. Bà rất mệt mỏi mỗi khi nghe bạn bè và người thân nhắc đến chuyện phải cảm ơn Chúa đã để cho một đứa sống sót. Họ không hề nghĩ Peter đã chết, cũng không biết bà đã mất một đứa con. Chỉ bác sĩ Greenwood hiểu được cho bà. Michael hy vọng sau khi ở bệnh viện về bà sẽ nguôi dần. Nhưng đâu có đơn giản thế. Susan nhắc mãi về đứa con đã chết. Bà vẫn giữ tấm ảnh hai đứa ở đầu giường.

Có lẽ bà sẽ đi dự đám tang bác sĩ Greenwood. Bà đang định nói cho Michael biết chuyện bác sĩ vừa qua đời bỗng thấy chồng tự nhiên nhảy vung lên, miệng hét “Hay quá rồi, Nat ơi!”

- Gì thế? - Susan hỏi, ngạc nhiên nhìn chồng hớn hở.

- Nat được học bổng vào trường Taft, - ông đáp, tay cầm lá thư vung vây trước mặt.

Susan không thấy phấn khởi. Bà nghĩ như thế Nat sẽ phải đi học xa trong khi tuổi còn nhỏ, lại học với đám trẻ mà cha mẹ chúng đều là những người ở đâu đâu. Một đứa trẻ mười bốn tuổi không thể hiểu tại sao nó không có những cái mà các bạn khác có, và đó là tất nhiên. Từ lâu bà đã nghĩ Nathaniel sẽ phải theo chân Michael vào trường cao đẳng Jefferson. Bà đã dạy ở trường đó, vậy con bà có thể học ở trường đó lắm chứ?

Lúc ấy Nat đang ngồi trên giường xem lại cuốn truyện ưa thích bỗng nghe tiếng cha reo mừng. Nó đọc đến chỗ con cá voi sắp thoát hiểm một lần nữa. Nó miễn cưỡng nhảy ra khỏi giường, thò cổ nhìn sang xem có chuyện gì.

Cha mẹ đang tranh luận việc nó sẽ đi học trường nào. Cha mẹ không bao giờ cãi cọ, mặc dầu trong lịch sử đã có chuyện hai người ném kem vào nhau. Nó chỉ nghe nửa chừng...đại khái cha nói: “Cả đời mới có một dịp này”, “Nat có thể hòa nhập với đám trẻ kia, sau này có khả năng dẫn đầu trên nhiều lĩnh vực, do đó sẽ ảnh hưởng đến cả cuộc đời nó.”

- Thà để nó vào trường cao đẳng Jefferson và hòa nhập với đám trẻ ở đấy, để sau này tự nó sẽ ảnh hưởng đến cuộc đời những đứa khác, như thế chả hơn ư?

- Nhưng nó đã được học bổng, mà chúng ta chẳng mất xu nào.

- Thì để nó học ở Jefferson cũng có mất xu nào đâu?

- Nhưng phải nghĩ đến tương lai nó chứ. Nếu học ở Taft, cuối cùng nó sẽ được vào Harvard hoặc Yale...

- Trường Jefferson cũng sản sinh được nhiều đứa vào cả Harvard và Yale đó thôi?

- Nếu anh rút bảo hiểm thì một trong hai trường có thể..

- Em không muốn chuyện rủi ro ấy.

- Anh cũng không muốn thế, - Michael nói. “Ngày nào anh chả tìm cách tránh rủi ro.” Nat vẫn để ý nghe cha mẹ tranh cãi, tuy không thấy ai to tiếng hay tỏ ra giận dữ.

- Em chỉ muốn con tốt nghiệp như một người “bình thường” chứ không phải một gã “quý tộc”, - Susan nói.

- Tại sao em cứ “khăng khăng” thế? - Michael nói.

Nat chạy về phòng, không nghe mẹ nói gì. Mẹ đã dạy nó phải tìm hiểu những từ ngữ chưa bao giờ nghe nói đến. Người đã biên soạn cuốn từ điển lớn nhất thế giới xuất thân ở Connecticut. Tìm trong từ điển Webster mấy từ ngữ nó vừa nghe nói, Nat bỗng hiểu ra mẹ “bình thường” hơn cha, và cả nhà không ai là “quý tộc”. Nat nghĩ bụng không biết mình sẽ trở thành “quý tộc” hay không.

Tra từ điển xong, Nat bước ra ngoài. Xem chừng không khí lúc này đã yên, nó xuống nhà đến bên cha mẹ.

- Có lẽ chúng ta cứ để Nat quyết định, - Susan nói.

- Con quyết định rồi, - Nat ngồi giữa hai người nói. “Cha mẹ vẫn dạy con là phải nghe cả hai phía trước khi đi đến kết luận.”

Cha mẹ chỉ nhìn con lặng lẽ giở tờ báo buổi chiều. Họ chợt hiểu khi nãy con nó đã nghe cha mẹ nói những gì.

- Vậy con quyết định như thế nào? - mẹ khẽ hỏi.

- Con muốn học ở Taft, không muốn vào trường cao đẳng Jefferson, - Nat trả lời không một chút ngập ngừng.

- Con có thể cho biết cái gì đã giúp con kết luận như vậy? - cha hỏi.

Nat biết cha mẹ đang chú ý xem nó trả lời ra sao, nhưng không vội. Lật trang báo thể thao, nó bỗng thốt lên: “Moby- Dick”.

Rồi chờ xem cha hoặc mẹ ai sẽ hỏi trước.

- “Moby- Dick” ư? - cả cha mẹ cùng lên tiếng.

- Vâng, - Nat đáp. “Vì mọi người dân ở Connecticut đều coi cá voi to là loại quý tộc trên biển.”

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.