- Annie có bầu rồi.
- Đó là một tin tuyệt vời, - Jimmy nói lúc hai người rời nhà ăn đi qua học xá lên hội trường nghe bài giảng buổi sáng. “Được mấy tháng rồi?
- Mới hai tháng. Bây giờ đến lượt cậu góp ý kiến đi.
- Góp thế nào?
- Đừng quên cậu là người đầu tiên có kinh nghiệm. Cậu đã là cha của đứa con gái sáu tháng. Bảy tháng tới, tớ sẽ phải làm những gì giúp cho Annie đây?
- Chỉ cần động viên thôi. Cậu phải luôn nói nó vẫn đẹp kể cả lúc trông nó nhưng con cá voi dạt vào bãi biển. Nếu nó có ý nghĩ điên rồ nào đó thì cũng phải chiều theo.
- Thí dụ? - Fletcher hỏi.
- Joanna thích ăn sô- cô- la kem trước khi đi ngủ, tớ cũng phải bắt chước ăn theo. Nửa đêm thức dậy cô ấy đòi ăn nữa cũng chiều.
- Phải hy sinh thế cơ à? - Fletcher hỏi.
- Đúng đấy, nhiều khi hpari nuốt thêm một thìa dầu cá nữa.
Fletcher cười. Hai người đến gần tòa nhà Andersen,
- Annie đã bắt đầu đi nghe giảng về thời kỳ trước sinh đẻ. Giáo viên khuyên các ông chồng cùng nghe để hiểu vợ trải qua những gì trước khi sinh nở.
- Tớ cũng muốn thế, - Fletcher nói, “dù sắp phải ăn kem với vợ.” Họ bước lên bậc vào cửa xoay.
- Không chừng Annie còn thích ăn hành hoặc củ cải dầm, - Jimmy nói.
- Thế thì chả hay lắm.
- Còn chuyện chuẩn bị, có ai giúp Annie không?
- Mẹ tớ hỏi có muốn nhờ bà vú già trước kia là cô Nichol hiện đang nghỉ hưu không, nhưng Annie không chịu. Cô ấy nhất định một mình nuôi con, không cần ai giúp đỡ.
- Joanna thì không nghĩ ngợi, sẽ dùng ngay cô Nichol. Bà ấy cũng thích quét dọn nhà để trẻ và thay tã cho đứa bé.
- Chỗ tớ không có phòng riêng cho bé, - Fletcher nói, “Chỉ có một buồng nhỏ.”
- Thì lấy buồng ấy làm nhà để trẻ. Cậu quét sơn lại, còn Annie nó mua sắm thêm tủ áo mới.
- Cô ấy thiếu gì quần áo, - Fletcher nói.
- Phụ nữ thì bao nhiêu quần áo cũng chưa đủ, - Jimmy nói. “Vài tháng nữa, nó sẽ không mặc vừa cái nào nữa. Đó cũng là lúc nó nghĩ đến mọi nhu cầu của đứa bé.”
- Có lẽ tớ phải thuê ngay giúp việc hoặc phục vụ ở quầy rượu, - Fletcher nói. Hai người đi tiếp vào hành lang.
- Chắc bố cậu sẽ...
- Tớ không muốn cả đời chỉ bóp tiền của ông già.
- Nếu bố tớ cũng có tiền như vậy, - Jimmy nói, “tớ chẳng thêm làm việc một ngày nào.”
- Phải làm việc chứ, - Fletcher nói. “Nếu không Joanna sẽ chả bao giờ đồng ý lấy cậu.”
- Tớ nghĩ tương lai cậu không phải phục vụ ở quầy rượu đâu, Fletcher, vì sau thắng lợi của vụ Kirsten, cậu sẽ có nhiều việc khác quan trọng hơn. Tớ biết tâm lý em gái tớ, nó không muốn ai chen vào con đường đi lên của cậu. - Jimmy ngừng lại rồi hỏi: “Sao cậu không nói với mẹ tớ? Bà ấy giúp Joanna khối việc lặt vặt mà không để ai biết. Tuy nhiên tớ cũng muốn có gì đó đáp lại.”
- Vậy cậu nghĩ thế nào? - Fletcher hỏi.
- Trước hết hãy hỏi tiền của cha cậu thì sao?
Fletcher cười. “Cậu muốn lấy tiền của cha tớ để đổi lại việc mẹ cậu giúp con gái sinh cháu chứ gì? Cậu biết không, Jimmy, tớ có cảm tưởng cậu sẽ trở thành một luật sư chuyên về ly hôn rất giỏi đấy.”
*
- Tớ đã quyết định ra ứng cử chức Chủ tịch, - anh nói vào điện thoại mà không tự xưng trước.
- Hay đấy, - Tom nói. “Vậy Su Ling nghĩ thế nào?”
- Nếu cô ấy không gợi ý tớ đã chả làm thế. Cô ấy cũng muốn có một vai trò trong cuộc vận động, lo việc ứng cử và mọi thứ liên quan đến số liệu thống kê.
- Vậy là một vấn đề đã được giải quyết, - Tom nói. “Cậu đã chỉ định ai điều khiển cuộc vận động chưa?”
- Rồi, ngay sau khi cậu về trưởng Yale, tớ đã chọn được một gã tên là Joe Stein. Trước đây hắn đã làm hai cuộc vận động, tranh thủ được cả những lá phiếu Do Thái nữa, - Nat nói.
- Ở Connecticut có cử tri Do Thái à? - Tom hỏi.
- Bao giờ ở nước Mỹ chả có cử tri Do Thái. Ngay tại học xá này có bốn trăm mười tám học sinh Do Thái. Tớ cần được sự ủng hộ của tất cả.
- Vậy ý kiến cậu về tương lai Cao nguyên Golan là thế nào, - Tom hỏi.
- Tớ cũng chả biết Cao nguyên Golan ở đâu, - Nat đáp.
- Vậy giờ này ngày mai cậu nên tìm hiểu đi.
- Không biết quan điểm của Elliot về Cao nguyên Golan thế nào?
- Tớ đoán hẳn chủ trương đó phải là một phần của Israel, không thể hy sinh một tấc đất cho người Palestine, - Tom nói.
- Vậy hắn chủ trương thế nào với người Palestine?
- Có lẽ họ có rất ít ở học xá nên hắn không có ý kiến gì.
- Như vậy chắc hắn dễ quyết định.
- Việc thứ hai cậu phải tính là diễn văn khai mạc, và đọc nó ở đâu, - Tom nói.
- Ở Hội trường Russell chăng.
- Chỗ đó chỉ chứa bốn trăm người.
- Có, - Nat nói. “Phòng Đại hội chứa hơn một ngàn, nhưng Elliot phạm sai lầm là khi hắn đọc diễn văn khai mạc chỉ có một nửa đến dự. Tớ thà cứ đăng ký lấy phòng nhỏ nhưng có nhiều người nghe bên ngoài thậm chí ngồi cả ở bậc thềm còn hơn. Như vậy sẽ tác động đến cử tri.”
- Vậy cậu nên chọn ngày và giữ phòng ngay đi, đồng thời cho toàn đội chuẩn bị sẵn sàng.
- Còn cần làm những gì khác nữa? - Nat hỏi.
- Bài diễn văn thật ngon lành của ứng cử viên. Và cậu đừng quên một thông lệ là phải nói chuyện với bất cứ sinh viên nào mình gặp: “Xin chào, tôi là Nat Cartwright, tôi ra ứng cử Chủ tịch, rất mong được bạn ủng hộ.” Rồi cậu phải nghe xem họ nói gì, nếu họ thấy cậu cũng quan tâm đến quan điểm của họ, có nhiều khả năng cậu sẽ được họ ủng hộ.”
- Gì nữa?
- Cậu phải triệt để sử dụng Su Ling, bảo cô ta cũng làm như vậy với từng nữ sinh, vì sau khi quyết định ở lại trường, cô ta sẽ là một trong những người được khâm phục nhất ở học xá. Không mấy ai dám từ chối trường Harvard như cô ta đâu.
- Cậu chả cần nhắc tớ nữa, - Nat nói. “Hình như cậu đã nghĩ đến mọi chuyện rồi hả?”
- Đúng, tớ sẽ quay lại giúp cậu trong mười ngày cuối khóa, nhưng không làm thành viên chính thức của cậu đâu.
- Sao không?
- Vì Elliot sẽ bảo mọi người là cậu được người ngoài vận động, mà người đó lại là con trai của một chủ ngân hàng đang học ở Yale. Cậu đừng quên lần trước nếu không có chuyện Elliot gian dối thì cậu cũng chả thắng cử được. Vì vậy lần này phải đề phòng hắn tung ra chuyện gì đó khiến cậu bị trật đường ray.
- Thí dụ chuyện gì?
- Nếu biết được thì tớ đã làm tham mưu trưởng cho Nixon.
*
- Trông em thế nào? - Annie hỏi. Cô đang ngồi ghế trước trong xe và thắt dây an toàn.
- Em yêu, trông em rất tuyệt, - Fletcher đáp nhưng không nhìn vợ.
- Không đâu. Trông em tệ lắm. Mà lại vào lúc quan trọng này kia chứ.
- Chỉ quan trọng với một số sinh viên nào đó thôi.
- Em nghi lắm,- Annie nói. “Đây là giấy mời viết tay hẳn hoi, em còn nhớ trong đó viết “đừng bỏ, có một người chúng tôi muốn cô gặp mặt.”
- Để xem người đó là ai, - Fletcher cho chiếc xe Ford cũ của anh đỗ phía sau chiếc xe sang trọng có hơn chục mật vụ đứng gác chung quanh.
- Ai thế nhỉ? - Annie thầm hỏi. Nat đỡ cô bước ra ngoài.
- Cũng chả biết, nhưng...
- Fletcher, rất mừng được gặp anh, - Giáo sư đứng ở cửa giữa lên tiếng. “Anh đến thật tốt.” Fletcher đã muốn trả lời ‘tôi dại gì không đến' nhưng lại thôi. “Và cô nữa, cô Davenport. Tôi rất nhớ trước đây vài tuần tôi ngồi trong tòa án sau cô hai hàng ghế.”
Annie mỉm cười. “Lúc đó tôi nhỏ nhắn hơn.”
- Nhưng không đẹp hơn bây giờ, - Abrahams nói. “Xin hỏi chừng nào cô sinh cháu?”
- Trong vòng mười tuần nữa, thưa ông.
- Xin cô cứ gọi tôi là Karl, - Giáo sư nói. “Nếu một sinh viên sắp tốt nghiệp ở Vassar gọi tôi bằng tên tục, tôi sẽ cảm thấy mình trẻ hơn. Cũng xin nói thêm là tôi sẽ không giữ chồng cô ở lại trường quá một năm nữa đâu,” ông nháy mắt và quàng tay lên vai Annie. “Vào đây vào đây, có một người tôi muốn cả hai vợ chồng cô cùng gặp.”
Fletcher và Annie theo Giáo sư vào phòng khách, ở đó đã có hơn chục người đang trò chuyện. Hình như hai người đến sau cùng.
- Thưa Phó tổng thống, tôi xin giới thiệu Annie Davenport.
- Kính chào ngài Phó tổng thống.
- Chào cô Annie, - Spiro Agnew chìa tay đáp. “Tôi nghe nói cô có anh chồng là một thanh niên xuất sắc lắm.”
Karl rỉ tai nhưng nói khá to. “Annie, cô đừng quên rằng các nhà chính trị có khuynh hướng hay nói quá, vì họ luôn hy vọng có lá phiếu của cô.”
- Karl, tôi biết, vì cha tôi là nhà chính trị.
- Đúng thế à? - Agnew nói.
- Không hẳn, thưa ngài, - cô mỉm cười đáp. “cha tôi là thủ lĩnh phe đa số ở thượng viện bang Connecticut.”
- Trong chúng ta đây có ai thuộc đảng Cộng hòa không?
- Có, thưa Phó tổng thống, đây là chồng Annie, Fletcher Davenport.
- Chào Fletcher, cha anh cũng là Dân chủ chứ?
- Không, thưa ngài, cha tôi thuộc đảng Cộng hòa.
- Tốt lắm, vậy là chúng tôi có hai phiếu ở hộ gia đình anh.
- Không ạ, mẹ tôi không cho phép anh vượt ra ngoài phạm vi đâu.
Phó tổng thống cười vang. “Karl, thế thì ông nổi danh sao được?”
- Spiro, tôi sẽ tiếp tục giữ trung lập, vì tôi không làm chính trị. Tôi để Annie lại đây, vì có một người tôi muốn cho Fletcher gặp.
Fletcher không hiểu, vì anh tưởng người mà Giáo sư nói trong giấy mời là Phó tổng thống. Anh theo Giáo sư đến góc xa trong phòng có nhóm người đang đứng gần lò sưởi.
- Bill, đây là Fletcher Davenport. Fletcher, còn đây là Bill Alexander ở công ty Alexander...
- Dupont và Bell, - Fletcher nói tiếp và bắt tay người đối tác lâu năm của một trong những công ty luật nổi tiếng nhất ở New York.
- Fletcher, từ lâu tôi đã muốn làm quen với anh, - Bill Alexander nói. “Anh đã làm được điều mà ba chục năm nay tôi không làm được.”
- Đó là điều gì, thưa ông?
- Là có được Karl làm trợ lý cho tôi trong một vụ bào chữa. Anh làm thế nào mà kéo được ông ta thế?
Hai người chờ xem anh trả lời thế nào. “Thưa ông, thực ra tôi không có nhiều lựa chọn. Ông ấy buộc tôi một cách rất không nghề nghiệp, nhưng phải thấy lúc đó ông thiết tha muốn như vậy. Từ năm 1938 đến giờ, đã có ai đề nghị ông làm thế đâu.” Hai người cùng cười.
- Nhưng phải hỏi án phí có xứng đáng với ông ta không, mà hẳn là không ít, nếu không làm sao cứu người đàn bà ấy khỏi ngồi tù được?
- Xứng đáng chứ, - Abrahams nói trước khi Fletcher đáp. Ông đưa tay vào kệ sách sau lưng Bill Alexander rút ra cuốn Vụ xử án Clarence Darrow. Alexander nhìn cuốn sách. “Dĩ nhiên tôi có cuốn này,” Alexander nói.
- Tôi cũng có, - Abrahams nói. Fletcher có vẻ thất vọng. “Nhưng không phải cuốn phát hành đầu tiên có bìa vải tử tế. Đây là cuốn sưu tầm thôi.”
Fletcher nghĩ đến mẹ. Lời khuyên vô giá của mẹ là: “Phải chọn thứ gì mình yêu quý nhưng không nên tốn quá nhiều tiền.”
*
Nat đi quanh một vòng nhìn tám nam sáu nữ trong tổ, đề nghị mỗi người tự giới thiệu tóm tắt về mình. Rồi anh phân công nhiệm vụ cho từng người trong cuộc bầu cử. Nat chỉ biết khâm phục Su Ling đã theo đúng lời khuyên của Tom chọn ra một tốp sinh viên xuất sắc, mà những người này đều muốn Nat giữ ghế được lâu.
- Nào, ta hãy bắt đầu cập nhật đã, - Nat nói.
Joe Stein đứng dậy. “Vì ứng cử viên đã nói rõ không ai được góp quá một đô-la, tôi đã tăng số người quyên góp để có thể với tới càng nhiều sinh viên càng tốt. Nhóm họp mỗi tuần một lần, thường vào thứ Hai. Nếu ứng cử viên thỉnh thoảng có thể nói chuyện với họ được thì tốt.”
- Thứ Hai tới được không? - Nat hỏi.
- Được thôi, - Joe đáp. “Cho đến nay đã quyên được 307$, phần lớn sau bài diễn văn của anh ở Hội trường Russell. Phòng đông chật nên nhiều người tin rằng họ sẽ ủng hộ ứng cử viên.”
- Cảm ơn anh, Joe, - Nat nói. “Tim, phe đối lập định làm gì?”
- Tôi là Tim Ulrich, công việc của tôi là theo dõi cuộc vận động của đối phương xem họ làm những gì. Chúng tôi có hai người ghi chép mỗi khi Elliot phát biểu. Mấy ngày qua hắn hứa hẹn rất nhiều. Nếu đúng như hắn nói thì năm tới trường sẽ phá sản.
- Còn các nhóm kia thế nào, Ray?
- Các nhóm chia làm ba loại, thiểu số, tôn giáo và câu lạc bộ, vì vậy tôi phải cử ba phó để phụ trách mỗi nhóm. Hiện đang có nhiều trùng lặp, thí dụ nhóm người Ý trùng với nhóm Công giáo.
- Giới thì sao? - một người hỏi.
- Không, - Ray đáp. “Chúng tôi coi giới là chung nên không tách biệt, tuy về ca kịch, ăn uống, thời trang, thì nhóm người Ý có trùng lặp, nhưng chúng tôi kiểm soát được hết. Mario cung cấp cà-phê miễn phí cho những khách hàng nào hứa bầu cho Cartwright.”
- Cẩn thận đấy. Elliot sẽ bảo đó là khoản chỉ vào bầu cử, - Joe nói. “Chúng ta đừng để kỹ thuật chiếm ưu thế.”
- Đồng ý, - Nat nói. “Thể thao thế nào?”
Jack Roberts, đội trưởng bóng rổ, không cần tự giới thiệu. “Môn chạy đã có Nat phụ trách, nhất là sau khi giành thắng lợi ở cuộc chạy việt dã với trường Cornell. Tôi lo đội bóng chày và bóng rổ. Elliot đã nắm được đội bóng đá, nhưng còn đội khúc côn cầu nữ có hơn ba trăm thành viên.”
- Tôi có cô bạn gái ở đội ấy, - Tim nói.
- Tớ tưởng cậu là đồng tính chứ? - Chris nói. Vài người phá lên cười.
- Ai theo dõi những sinh viên đồng tính? - Nat hỏi.
Không ai nói gì. “Anh nào công khai thừa nhận mình đồng tính thì kiếm một chỗ trong đội, và đừng ai có ác ý.”
Chris gật. “Nat, tôi xin lỗi.”
- Cuối cùng là phiếu bầu và thống kê, Su Ling.
- Tôi là Su Ling. Tất cả có 9.628 sinh viên đăng ký. 5.517 nam, 4.111 nữ. Cuộc thăm dò nghiệp dư ở học xá sáng thứ Bảy trước cho thấy Elliot được 611 phiếu, Nat được 541 phiếu. Nhưng đừng quên là Elliot đã làm từ trước. Hắn đã vận động hơn một năm nay rồi. Áp phích của hắn dán khắp nơi. Còn chúng ta đến thứ Sáu mới làm.
- Và thứ Bảy bị xé xuống.
- Lập tức chúng ta lại thay ngay mà không cần đến chiến thuật cũ, - Joe nói. “Xin lỗi Su Ling nhé.”
- Không, thế cũng tốt. Mỗi thành viên trong tổ phải làm sao mỗi ngày ít nhất nói với hai chục cử tri, - Su Ling nói tiếp. “Còn sáu chục ngày nữa, trước ngày bầu cử, với mỗi sinh viên chúng ta phải vận động nhiều lần. Việc này cần làm một cách bình thường. Trên tường sau lưng các bạn, có danh sách các sinh viên theo thứ tự a,b,c. Trên bàn có mười bảy cây bút chì. Tôi đã vạch sẵn từng màu cho mỗi đội. Mỗi tối, các bạn sẽ đánh dấu những cử tri nào mình đã nói chuyện. Đây chỉ là cách phân biệt ai nói và ai nghe thôi.”
- Nhưng cô bảo trên bàn có mười bảy cây bút chì, - Joe nói, “mà tổ ta chỉ có mười bốn người.”
- Đúng, nhưng có chì đen, chì vàng và chì đỏ. Nếu ai bảo sẽ bầu cho Elliot, anh gạch đen. Nếu không chắc, anh gạch vàng. Còn nếu tin rằng người đó sẽ bầu cho Nat, anh gạch đỏ. Mỗi tối tôi sẽ cho số liệu vào máy tính, rồi sáng hôm sau đưa các anh bản in. Còn ai hỏi gì nữa không? - Su Ling nói,
- Cô có lấy tôi không? - Chris hỏi.
Mọi người cười ran. “Có, tôi sẽ lấy,” Su Ling đáp. “Nhưng anh nhớ là đừng tin những gì người ta nói, vì Elliot cũng đã hỏi tôi có lấy hắn không, và tôi cũng trả lời có”.
- Còn tôi thì sao? - Nat hỏi.
Su Ling cười. “Anh cũng đừng quên tôi đã trả lời bằng giấy rồi.”
*
- Xin chào ngài, cảm ơn ngài về một buổi tối đáng ghi nhớ.
- Chào anh Fletcher. Tôi cũng mừng thấy anh hài lòng.
- Chúng tôi rất hài lòng, thưa ngài. - Annie nói. “Được gặp ngài Phó tổng thống thật hân hạnh. Tôi sẽ phải trêu cha tôi đến mấy tuần, - cô nói thêm. Fletcher đưa Annie ra xe.
Fletcher mở cửa xe nói: “Annie, em tuyệt vời lắm.”
- Em chỉ cố chịu đựng đó thôi, - Annie nói. “Em không nghĩ là trong bữa ăn Karl lại đặt em ngồi giữa Phó tổng thống và Alexander. Em sợ như thế có bất tiện không.”
- Giáo sư không nhầm đâu, - Fletcher nói. “Anh đoán đó là do yêu cầu của Alexander.”
- Nhưng sao ông ta làm thế? - Annie hỏi.
- Vì ông ta là đối tác lâu năm của một công ty luật truyền thống. Ông ta nghĩ ngồi bên em sẽ biết được nhiều chuyện về anh. Thế nào rồi người ta cũng mời em về làm việc ở Alexander Dupont và Bell.
- Vậy nếu họ đề nghị cứ lờ đi nhé.
- Không được. Em chỉ cần làm cho họ tưởng mình ve vãn thôi. Đừng tưởng bà Alexander sẽ đến ngồi bên em uống cà-phê ở phòng khách.
Annie bỗng rên lên một tiếng. Fletcher lo ngại nhìn sang. “Ôi lạy Chúa”, cô nói. “Bụng đã bắt đầu co thắt rồi.”
- Nhưng còn những mười tuần nữa kia mà, - Fletcher nói. “Em cứ ngồi yên, anh đưa về nhà ngay đây.”
Annie lại rên to hơn nữa. “Không phải về nhà. Anh đưa em vào thẳng bệnh viện đi thôi.”
Chạy qua Westville, Fletcher tìm tên ở các góc phố, cố nghĩ xem đi đường nào gần nhất đến Bệnh viện Yale- New Haven. Anh chợt nhìn thấy trạm tắc- xi bên kia đường. Anh vòng xe đến, mở cửa xe hỏi to: “Vợ tôi đang đau đẻ, nhờ anh chỉ cho đường nào gần nhất đến Yale- New Haven.”
- Theo tôi, - người lái xe tắc- xi vọt lên trước.
Fletcher cố đuổi theo, vừa lái xe vừa bóp còi và nhấp nháy đèn, qua những đoạn đường anh chưa biết bao giờAnnie ôm chặt bụng, kêu rên mỗi lúc một to hơn.
- Em yêu, đừng lo, sắp đến nơi rồi, - anh vượt cả đèn đỏ để khỏi mất hút xe đi trước.
Cuối cùng cả hai xe đến được bệnh viện. Fletcher ngạc nhiên thấy bác sĩ và y tá đã đứng chờ sẵn ngoài cửa cùng chiếc bàn đẩy như đang đợi họ. Anh lái xe tắc- xi nhảy ra giơ ngón tay cái về phía cô y tá tỏ ý khen ngợi.
Fletcher đoán anh ta đã gọi về tổng đài nhờ báo trước giùm. Anh muốn có đủ tiền không những để trả cuốc xe mà cả sáng kiến giúp đỡ kia nữa.
Fletcher chạy vòng ra sau xe đỡ Annie, nhưng anh lái tắc- xi đã đến trước. Mỗi người xốc một bên nách bế Annie lên bàn đẩy. Cô y tá cởi khuy áo Annie từ trước lúc qua cửa. Fletcher rút ví quay sang lái xe tắc- xi, “Cảm ơn anh, anh đã giúp đỡ nhiều quá. Tôi phải trả bao nhiêu đây?”
- Không phải trả xu nào, tôi chịu hết, - anmh tắc- xi đáp.
- Nhưng…- Fletcher nói.
- Nếu tôi bảo vợ là đã lấy tiền của anh, cô ấy sẽ giết tôi. Chúc anh may mắn. - anh ta nói và lặng lẽ quay về xe mình.
- Cảm ơn anh, - Fletcher nói rồi băng qua cửa vào bệnh viện. Anh theo kịp chiếc bàn đẩy, nắm tay vợ nói “Em yêu, yên tâm, không sao đâu.”
Họ hỏi Annie một số câu, cô chỉ biết gật gật. Họ gọi ngay vào phòng mổ báo cho bác sĩ Redpath và tổ chực phải sẵn sàng trong vòng một phút. Chiếc thang máy lớn từ từ lên tầng năm. Annie được đẩy nhanh dọc hành lang. Fletcher lập cập đi bên cạnh nắm tay vợ. Anh thấy hai cô y tác đã mở sẵn cửa cho bàn đẩy lọt vào.
Annie vẫn năm chặt tay Fletcher lúc lên bàn mổ. Thêm ba người nữa vào phòng, mặt đeo khẩu trang. Người thứ nhất kiểm tra dụng cụ, người thứ hai chuẩn bị mặt nạ ô- xy, còn người thứ ba định hỏi Annie vài câu nhưng cô chỉ kêu đau. Fletcher vẫn không rời tay vợ đến lúc một người lớn tuổi hơn bước vào. Ông ta đeo đôi găng tay giải phẩu, chưa nhìn bệnh nhân đã hỏi: “Sẵn sàng cả chưa?”
- Rồi, thưa bác sĩ Redpath, - cô y tá đáp.
- Tốt, - ông ta quay lại nhìn Fletcher. “Ông Davenport, có lẽ yêu cầu ông ra ngoài. Đỡ xong đứa bé, chúng tôi sẽ gọi cho ông.”
Fletcher hôn lên trán vợ nói khẽ: “Anh rất tự hào về em.”
22
Ngày bầu cử Nat dậy từ năm giờ sáng đã thấy Su Ling trong buồng tắm. Anh xem lại kế hoạch để trên bàn đầu giường. Bảy giờ họp toàn đội, sau đó thêm một giờ rưỡi để gặp gỡ chào mừng các cử tri ra vào ăn sáng.
- Anh cùng vào đi, kẻo không còn thời gian nữa đâu, - Su Ling gọi. Cô nói đúng vì họ vừa đến phòng họp đã nghe chuông đồng hồ trên tháp đánh bảy tiếng. Các thành viên trong tổ đều đã có mặt. Tom cũng từ trường Yale vừa về để phổ biến kinh nghiệm bầu cử ở Yale. Su Ling và Nat ngồi vào hai ghế trống bên cạnh “tham mưu trưởng” đang thông báo tình hình.
- Cho đến sáu giờ kém một phút, mọi người vẫn không ngừng kiểm tra lại số phiếu. Bây giờ đề nghị từ bảy rưỡi đến tám rưỡi ứng cử viên và Su Ling hãy ra ngoài, còn tất cả đi ăn sáng.
- Ăn sáng vớ vẩn mà cũng mất một giờ ư? - Joe hỏi.
- Không đâu Joe, các bạn đừng gặp đâu ăn đấy, mà phải đi từ bàn này sang bàn khác và không nên hai người cùng ăn một bàn. Xin nhớ tổ của Elliot cũng làm thế, ta không nên mất thì giờ tranh thủ lá phiếu của họ. Được chưa nào? Thôi, đi đi.”
Mười bốn người chạy qua bãi cỏ và biến sau cánh cửa xoay vào hội trường, đề Nat và Su Ling làng vàng trước cửa vào.
- Chào, tôi là Nat Cartwright, tôi ra ứng cử Chủ tịch Hội Sinh viên đây, hy vọng bạn ủng hộ tôi trong cuộc bầu cử hôm nay!
Hai sinh viên, mắt như còn ngái ngủ, đáp: “Được thôi, anh đã có được những lá phiếu của bọn đồng tính rồi đó.”
- Chào, tôi là Nat Cartwright, tôi ra ứng cử Chủ tịch Hội Sinh viên đây, hy vọng bạn ủng hộ tôi....
- Vâng, biết anh là ai rồi. Nhưng mỗi tháng anh được hưởng thêm bốn trăm đô-la thì làm sao anh hiểu được nỗi khổ của sinh viên phải vay tiền để sống? - một sinh viên trả lời thẳng.
- Chào, tôi là Nat Cartwright, tôi ra ứng cử Chủ tịch Hội Sinh viên...
- Tôi chẳng bầu cho ai hết, - một sinh viên đáp rồi bước qua cửa xoay.
- Chào, tôi là Nat Cartwright, tôi ra ứng cử...
- Rất tiếc, tôi từ học xá khác đến đây chơi nên không được bầu.
- Chào, tôi là Nat Cartwright, tôi...
- Chúc may mắn, nhưng tôi có bầu cho anh cũng chẳng qua vì cô bạn gái của anh thôi, cô ta tuyệt vời đấy.
- Chào, tôi là Nat Cartwright...
- Còn tôi là thành viên trong tổ Elliot, chúng tôi sẽ cho anh cái đá.
- Chào, tôi là Nat...
Chín tiếng sau, Nat không nhớ mình đã nói câu đó bao nhiêu lần, bắt tay bao nhiêu lần. Chỉ biết mình đã khản cổ và ngón tay như muốn rụng. Sáu giờ một phút, anh quay sang Tom nói, “Chào, tớ là Nat Cartwright, và...”
- Quên đi nhé, - Tom cười. “Tớ là Chủ tịch Hội Sinh viên trường Yale, chỉ biết nếu không có Ralph Elliot thì cậu đã ở địa vị của tớ rồi.”
- Cậu đã có kế hoạch gì cho tớ chưa? - Nat hỏi. “Sáu giờ là xong hết, tớ không biết sau đó sẽ làm gì đây.”
- Ứng cử viên nào chả thế, - Tom nói. “Nhưng tớ nghĩ ba chúng ta có thể xả hơi bằng một bữa ăn tối ở chỗ Mario.”
- Còn cả đội thì sao? - Su Ling hỏi.
- Joe, Chris, Sue và Tim có nhiệm vụ quan sát kiểm phiếu ở phòng sinh hoạt chung, còn những người khác nghỉ. Kiểm phiếu bắt đầu vào bảy giờ, cũng mất vài tiếng mới xong. Tớ đề nghị mọi người có mặt ở đó vào tám rưỡi.
- Cũng được, - Nat nói. “Tớ đang đói meo đây.”
Mario chỉ chỗ cho ba người vào chiếc bàn trong góc. Anh ta vẫn gọi Nat là Chủ tịch. Ba người đang ngồi nghỉ nhấp đồ uống thì Mario đã đem ra một chậu mì to tướng kèm sốt Bô- lô- nha có rắc phô- mai Parma. Đã nhiều lần Nat thọc dĩa vào chậu mà mì vẫn còn đầy. Tom để ý thấy bạn như đang nóng ruột và ăn rất ít.
- Không biết bây giờ Elliot đang làm gì? - Su Ling hỏi.
- Chắc hắn đến nhà hàng McDonald với cả bọn, ăn bánh mì kẹp thịt với khoai rán, làm như đang phấn khởi, - Tom nói và đưa cốc rượu vang của nhà hàng lên miệng nhấp.
- Ít ra thì hắn cũng chả chơi được trò bẩn thỉu nào nữa, - Nat nói.
- Không chắc thế đâu, - Su Ling nói vừa lúc Joe ở ngoài cửa chạy vào.
- Joe có chuyện gì thế nhỉ? - Tom đứng dậy vẫy. Nat mỉm cười nhìn anh chàng tham mưu trưởng đang đi tới, nhưng không thấy Joe đáp lại.
- Chúng ta có vấn đề rồi, - Joe nói. “Anh phải đến ngay phòng sinh hoạt chung xem thế nào.”
*
Fletcher đi lại trong hành lang, y như cha anh cũng đã đi lại trước đây hai chục năm và anh đã nhiều lần nghe cô Nichol mô tả. Y như một cuốn phim đen trắng cũ được chiếu lại và kết thúc tương tự. Fletcher như thấy mình đang đến gần cửa phòng mổ chờ ai đó sắp bước ra.
Cuối cùng cánh cửa cao su mở toang và thấy cô y tá chạy vội qua chỗ Fletcher đang đứng nhưng không nói gì. Mấy phút sau mới thấy bác sĩ Redpath xuất hiện. Ông gỡ chiếc mặt nạ, miệng không cười. “Họ vừa đưa vợ anh về phòng riêng,” ông nói. “Cô ấy không sao đâu, rất mệt, nhưng không sao. Lát nữa anh sẽ vào gặp vợ.”
- Cháu bé thế nào?
- Con trai anh đã được chuyển đến phòng chăm sóc đặc biệt. Để tôi cho anh xem nhé, - Bác sĩ dẫn anh qua hành lang đến chỗ có cửa kính to bên ngoài. Trong phòng có ba chiếc lồng để trẻ sơ sinh thiếu tháng. Hai chiếc đã có trẻ nằm. Anh thấy con mình đang được đặt vào chiếc lồng thứ ba. Đứa bé nhỏ tí, gầy nhom, đỏ hỏn, nhăn nhúm. Cô y tá đặt một ống cao su vào mũi đứa bé, cài máy cảm ứng lên ngực và nối vào máy điều chỉnh. Rồi cô ta dán lên cổ tay một miếng băng nhỏ đề tên Davenport. Màn hình ở máy đã nhấp nháy ngay. Tuy không biết gì về y tế, Fletcher cũng cảm thấy tim đứa bé đập rất yếu. Anh lo lắng nhìn sang bác sĩ Redpath.
- Cháu có hy vọng gì không ạ?
- Cháu bị đẻ non mười tuần. Qua đêm nay, cháu có cơ hội sống được.
- Nhưng cháu có hy vọng gì không ạ? - Fletcher lại hỏi.
- Chẳng có quy định, tỷ lệ hay quy luật nào đâu. Mỗi cháu bé đều có cái riêng, kể cả con anh, - bác sĩ đáp. Cô y tá cũng vừa bước tới.
- Ông Davenport, bây giờ ông có thể thăm vợ được rồi, - cô y tá nói. “Xin ông đi theo tôi.”
Fletcher cảm ơn bác sĩ Redpath rồi theo cô y tá xuống tầng dưới. Anh được dẫn đến bên giường vợ. Annie đang ngồi tựa vào một đống gối.
- Con chúng tôi thế nào rồi? - cô hỏi ngay.
- Trông cháu hay lắm, thưa bà Davenport. Cháu rất may mắn có được người mẹ tuyệt vời như bà.
- Nhưng họ không cho tôi nhìn cháu, - Annie khẽ nói. “Tôi rất muốn được ôm nó trong tay.”
- Con đã được đặt vào máy để trẻ sơ sinh thiếu tháng, Fletcher nói. “Nhưng nó đã được y tá thường xuyên chăm sóc.”
- Đã lâu lắm chúng ta mới được ăn tối với Giáo sư Abrahams.
- Một tối rất thú vị, - Fletcher nói. “Mà em cũng hai lần thắng. Em đã gây được ấn tượng với một đối tác lâu năm của công ty anh muốn làm, lại sinh con trai nữa. Tất cả diễn ra trong một đêm. Còn gì hơn thế nữa?”
- Tất cả những cái đó không quan trọng bằng bây giờ chúng ta đã có con để săn sóc. - Cô ngừng một lát rồi thốt lên: “Harry Robert Davenport.”
- Nó có vầng hào quang nữa, - Fletcher nói. “Cả cha em và cha anh đều phấn khởi.”
- Ta sẽ gọi nó là gì? - Annie nói. “Harry hay Robert?”
- Anh biết sẽ gọi nó là gì, - Fletcher đáp vừa lúc cô y tá quay lại.
- Bà Davenport, bây giờ bà nên ngủ một chút. Bà đã rất mệt rồi.
- Tôi cũng thấy thế, - Fletcher nói. Anh cất bớt mấy chiếc gối sau lưng vợ. Annie từ từ ngả lưng xuống. Cô gối đầu lên chiếc gối còn lại. Fletcher cúi xuống hôn vợ. Anh ra ngoài rồi, cô y tá liền tắt đèn.
Fletcher chạy vội cầu thang lên gác, đến căn phòng cuối hành lang xem tim của con có đập mạnh hơn trước không. Anh cố nhìn qua cửa kính xem máy cảm ứng, mong nó nhấp nháy nhiều hơn nữa, trong bụng tự nhủ nó đã khá hơn trước. Anh dán mũi vào cửa kính. “Cố lên, Harry,” anh vừa nói vừa đếm nhịp đập từng phút. Bỗng anh cảm thấy kiệt sức. “Cố lên con, thế nào rồi cũng được.”
Anh lùi vài bước và ngồi phịch xuống ghế bên này hành lang. Vài phút sau anh ngủ thiếp đi.
Fletcher giật mình tỉnh dậy, thấy một bàn tay nhẹ đặt lên vai. Anh cố mở đôi mắt mệt mỏi, không biết mình đã ngủ bao lâu. Người đầu tiên anh trông thấy là cô y tá, vẻ mặt nghiêm nghị. Bác sĩ Redpath đứng sau cô ta vài bước. Bác sĩ không nói gì, nhưng chỉ nhìn ông cũng đã biết ngay cháu Harry Robert Davenport không còn sống nữa.
*
- Nào, vấn đề gì đây? - Nat hỏi lúc họ đang chạy đến phòng sinh hoạt chung khi đó đã kiểm phiếu xong.
- Trước đây ít phút chúng ta đã chắc chắn dẫn đầu, - Joe vừa chạy vừa thở hồng hộc. Nat đã tưởng anh ta nói đùa. Đến gần bậc thang, Joe từ từ nói tiếp: “Bỗng thấy họ mang đến thêm hai hòm với gần chín mươi phần trăm phiếu trong đó bỏ cho Elliot.”
Không chờ Joe nói thêm, Nat và Tom đã nhảy đến cửa. Người đầu tiên họ trông thấy là Ralph Elliot với vẻ mặt khinh khỉnh. Nat vội quay ra chỗ Tom đang nghe Sue và Chris thông báo lại.
- Chúng ta đang dẫn đầu với hơn bốn trăm phiếu, - Chris nói, “tưởng như thế là xong bỗng ở đâu lòi ra hai hòm nữa.”
- Cậu nói gì thế? Ở đâu lòi ra? - Tom hỏi.
- Họ thấy dưới gầm bàn. Những số phiếu này không có trong bản kiểm kê gốc. - Chris xem lại trong cặp. “Trong hai hòm này, một hòm Elliot được 319 phiếu, Nat 48, một hòm Elliot được 322, Nat 41. Như vậy là tình hình đảo ngược so với kết quả cũ, mà hắn dẫn đầu với một số phiếu lớn.”
- Cậu nói thí dụ về các hòm khác xem, - Su Ling nói.
- Đều đúng cả, - Chris xem lại danh sách. “Cao nhất là 209 phiếu bầu cho Nat, 176 phiếu cho Elliot. Chỉ ở một hòm Elliot cao hơn một chút là 201 trên 196,”
- Về mặt thống kê, số phiếu ở hai hòm sau không đúng nếu so sánh với mười hòm đã kiểm, - Su Ling nói. “Hẳn có ai giấu hai hòm đó để đảo ngược quyết định.”
- Họ làm thế sao được? - Tom hỏi.
- Rất dễ mó tay vào những phiếu chưa dùng đến, - Su Ling nói.
- Mà cũng chẳng khó, - Joe nói.
- Sao cậu chắc thế? - Nat hỏi.
- Vì trong giờ ăn trưa, khi tôi bỏ phiếu thì chỉ có một người kiểm, mà người đấy còn đang bận làm bài. Lúc đó tôi chỉ việc nhặt ra một số phiếu thì ai biết được.
- Như vậy không giải thích được tại sao lòi ra hai hòm phiếu kia, - Tom nói.
- Chả cần phải đỗ tiến sĩ mới hiểu được, - Chris nói. “Khi đóng hòm phiếu, họ chỉ việc giữ lại hai hòm và nhét thêm phiếu vào đó là xong.”
- Nhưng chúng ta có cách gì chứng minh được đâu, - Nat nói.
- Thống kê chứng minh được, - Su Ling nói. “Thống kê không bao giờ nói dối, tuy phải thừa nhận là không có gì chứng minh.”
- Vậy bây giờ làm thế nào? - Joe hỏi. Anh ta nhìn sang phía Elliot đang ra vẻ rất thỏa mãn.
- Chúng ta chẳng làm gì được hơn trừ mỗi việc báo cáo nhận xét lên Chester Davies. Dù sao ông ta cũng là trưởng ban bầu cử.
- Đồng ý. Joe, cậu làm việc ấy đi. Chờ xem ông ta sẽ nói gì.
Joe báo cáo lên giám thị. Mọi người nhìn vẻ mặt ông ta, thấy mỗi lúc một xám ngoét. Joe trình bày xong, giám thị lập tức cho gọi tham mưu của Elliot. Anh ta đến nhưng chỉ nhún vai bảo phiếu nào cũng có giá trị hết.
Nat lo lắng nhìn ông Davies hỏi hai người, thấy Joe gật đầu đồng ý. Rồi hai người về chỗ.
- Giám thị triệu tập các tổ bầu cử vào ngay văn phòng họp. Sau khi bàn bạc sẽ thông báo lại. Phải mất độ nửa giờ nữa.
Su Ling cầm tay Nat. “Ông Davies là người tốt và đứng đắn,” cô nói. “Ông ta sẽ có kết luận chính xác.”
- Có thể kết luận chính xác, - Nat đáp. “Nhưng cuối cùng rồi ông ta cũng phải theo đúng thể lệ bầu cử, dù cho cá nhân ông ta nghĩ thế nào.”
- Tôi đồng ý, - bỗng có tiếng nói sau lưng. Nat quay lại thấy Elliot đang nhìn anh cười. “Không cần phải xem thể lệ cũng có thể biết ai nhiều phiếu hơn sẽ thắng.” Elliot nói với vẻ khinh mạn.
- Trừ phi họ kiểm tra đúng là mỗi người một phiếu, - Nat nói.
- Ý anh muốn buộc tội tôi gian lận ư? - Elliot nói lại. Một số cổ động viên bên ngoài chạy đến đứng sau lưng anh ta.
- Không, ý tôi muốn nói thế này: nếu anh thắng, anh có thể xin việc ở Chicago làm thủ quỹ ở ngân hàng Quận Cook, vì Thị trưởng Daly chả dạy anh được điều gì.
Elliot tiến lên định giơ tay đánh vừa lúc giám thị bước vào, tay cầm mảnh giấy. Ông bước lên bục.
- Anh suýt ăn đòn đấy nhé, - Elliot khẽ nói.
- Tôi nghĩ anh suýt ăn đòn thì đúng hơn, - Nat đáp. Họ quay ra nhìn lên sân khấu.
Tiếng nói chuyện râm ran im hẳn khi ông Davies điều chỉnh mi-crô cho vừa tầm rồi quay ra nói. Ông chậm rãi đọc mảnh giấy viết sẵn.
- Trong cuộc bầu cử Chủ tịch Hội Sinh viên, tôi đã nghe báo cáo về hai hòm phiếu được phát hiện sau khi cuộc kiểm phiếu kết thúc. Mở hai hòm thấy kết quả số phiếu bầu rất khác với những hòm trước. Do đó, là người phụ trách, chúng tôi không thể có chọn lựa nào khác ngoài việc dựa vào thể lệ bầu cử. Như chúng tôi đã tìm hiểu, không ai nói gì đến việc thiếu hai hòm phiếu hoặc có hành vi nào không tương xứng với tỷ lệ phiếu bầu ở mỗi hòm.
- Vì trước đây không ai gian lận, - Joe đứng cuối phòng nói to.
- Và lần này cũng không ai gian lận, - một tiếng khác đáp lại. “Các anh thua rồi.”
- Còn giấu bao nhiêu hòm nữa...?
- Chúng tôi không cần.
- Im lặng, - giám thị nói. “Những cử chỉ như vừa rồi không phản ánh bên nào đúng.” Ông chờ mọi người im hằn mới tiếp tục đọc. “Tuy nhiên, chúng tôi lưu tâm đến trách nhiệm những người phụ trách, và đã đi đến kết luận là giữ nguyên kết quả bầu cử.” Các cổ động viên của Elliot liền nhảy lên reo hò.
- Elliot quay sang Nat nói: “Có lẽ chính anh mới vừa ăn đòn.”
- Chưa hết đâu, - Nat nói, mắt vẫn nhìn lên ông Davies.
Một lát sau ông giám thị nói tiếp. Ít ai tưởng ông đã nói hết.
- Vì cuộc bầu cử này có nhiều chuyện lộn xộn chưa được giải quyết, nên chúng tôi quyết định: theo điều 7B Quy chế Hội Sinh viên, ứng cử viên nào thua cuộc sẽ được quyền kháng án. Làm như vậy sẽ có ba khả năng. - Ông mở quyển điều lệ đọc: “a) xác nhận kết quả đã có, b) đảo ngược kết quả, và c) yêu cầu bầu lại, và việc này sẽ tiến hành vào tuần đầu của học kỳ sau. Ông Cartwright có hai mươi bốn giờ để kháng án.
- Chúng tôi không cần hai mươi bốn giờ, - Joe hét to “Chúng tôi kháng án ngay bây giờ.”
- Đơn kháng án phải do ứng cử viên viết, - giám thị nói.
Tom liếc sang phía Nat đang cúi nhìn Su Ling.
- Em nhớ chúng ta đã thỏa thuận những gì nếu anh không thắng chứ?