Những Đứa Con Của Số Phận

Lượt đọc: 16 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần Ba - 1

❊ ❊ ❊

Nat quay nhìn Su Ling đang bước tới và anh nhớ đến lần đầu họ gặp nhau. Khi đó anh chạy theo xuống chân đồi và cô quay lại thở không ra hơi.

- Cậu có biết là cậu rất may mắn không? - Tom hỏi nhỏ.

- Cậu hãy tập trung vào việc đi. Cái nhẫn đâu rồi?

- Nhẫn? Nhẫn nào? - Nat quay nhìn chăm chăm anh chàng phù rể. “Trời ơi, tớ quên mang theo rồi.” Tom xuýt xoa. “Cậu chờ một lát để tớ về nhà tìm đã nhé.”

- Tớ bóp cổ cậu bây giờ đấy! - Nat cười.

- Thì bóp đi, - Tom nói và nhìn Su Ling bước tới. “Để tớ nhìn cô ta một lần cuối trong đời cho đỡ nhớ.”

Nat quay sang cô dâu. Cô nhìn anh với nụ cười khiến anh nhớ lại buổi hẹn đầu tiên gặp cô ở cửa hàng cà-phê. Cô đến bên cạnh, đầu hơi cúi, chờ mục sư bắt đầu làm lễ.

Nat nghĩ đến quyết định của hai người sau hôm bầu cử, điều mà anh sẽ chẳng bao giờ hối tiếc. Sao anh lại lo đến sự nghiệp của Su Ling mà bỏ lỡ cơ hội thắng cử trong cuộc bầu Chủ tịch? Ý nghĩ bầu lại trong tuần đầu học kỳ sau và nếu thất bại Su Ling sẽ phải chờ thêm một năm nữa khiến anh dứt khoát. Mục sư quay ra nói: “Các con yêu...”

Khi Su Ling giải thích cho Giáo sư Mullden biết cô sắp lấy chồng, và chồng tương lai đang ở Đại học Connecticut, họ đã lập tức tạo cơ hội cho anh học ở Harvard. Họ đã biết thành tích của Nat ở Việt Nam cũng như trong tổ chạy việt dã, nhưng cấp bậc của anh khiến họ khó xử. Họ không hiểu tại sao anh không ở lại Yale, vì cơ quan tuyển sinh ở đây rõ ràng không muốn anh là chồng Su Ling.

- Con đồng ý lấy người đàn bà này làm vợ chính thức không?

Nat muốn hét to “đồng ý, đồng ý”, nhưng anh chỉ đáp nhỏ.

- Con đồng ý lấy người đàn ông này làm chồng chính thức không?

- Con đồng ý, - Su Ling cúi đầu đáp.

- Con có thể hôn cô dâu, - mục sư nói.

- Con tưởng đó là việc của con chứ, - Tom tiến lên nói. Nat vội ôm hôn Su Ling và đưa chân trái đá một nhát vào ống chân Tom.

- Tớ hy sinh từng ấy năm để hưởng cái đá của cậu hả? Được, ít ra bây giờ cũng đến lượt tớ. - Nat bỗng xoay người ôm lấy Tom khiến mọi người phá lên cười.

Nat nghĩ bụng Tom có lý. Khi anh từ chối kháng án lên ủy ban bầu cử, Tom không hề quở trách mặc dù cậu ta rất hiểu bầu lại thế nào anh cũng thắng. Sáng hôm sau ông Russell gọi điện thoại cho Nat đề nghị anh chiêu đãi. Sao ông ta còn nghĩ đến chuyện đền ơn thế nhỉ?

- Cậu coi chừng, - Tom nói. “Cha tớ hy vọng cậu sẽ về chỗ ông ta sau khi tốt nghiệp ở Trường Kinh doanh Harvard.”

- Thế thì tốt quá còn gì? - Nat nói.

Cô dâu chú rể quay sang gia đình bè bạn. Susan không giấu những giọt nước mắt, còn Michael tỏ ra sung sướng tự hào. Mẹ Su Ling bước tới chụp ảnh hai người đã thành vợ thành chồng.

Nat không nhớ đến cuộc chiêu đãi mấy. Anh chỉ cảm thấy nếu mình là con thì ông bà Russell cũng không giúp đỡ nhiệt tình hơn. Anh đến từng bàn tiệc, đặc biệt cảm ơn những bạn ở xa đến dự. Chỉ đến lúc nghe tiếng thìa gõ cốc anh mới chợt nhớ mình còn bài diễn văn trong túi.

Nat vội quay về bàn đầu, và Tom cũng đứng dậy phát biểu. Mở đầu anh chàng phù rể giải thích tại sao cuộc chiêu đãi được tổ chức ở nhà mình. “Xin các vị đừng quên rằng tôi đã hỏi lấy Su Ling trước cả chú rể, nhưng không hiểu tại sao cô ta lại chỉ muốn tôi làm phù rể thôi.” Nat cười, nhìn về phía Abigail, bà cô của Tom ở Boston. Tân khách vỗ tay rào rào.

Đôi lúc Nat nghĩ không biết những lời Tom nói đùa có làm cho Su Ling hiểu sai tình cảm của anh không. Anh nhìn chàng phù rể mà nhớ lại những ngày đầu ở trường Taft khi cả hai còn ngớ ngẩn không biết gì. Anh thầm nghĩ mình có phúc mới được người bạn như vậy, và anh hy vọng sẽ có một ngày đền đáp xứng đáng.

Mọi người hoan nghênh lúc Tom ngồi xuống nhường lời cho chú rể.

Nat mở đầu bài phát biểu cảm ơn ông bà Russell đã rộng lòng cho mượn ngôi nhà đẹp đẽ làm nơi chiêu đãi. Anh cảm ơn sự khôn ngoan của mẹ, cảm ơn cha đã tạo cho anh có cái dáng bảnh bao được như hôm nay. Mọi người vỗ tay cười. “Nhưng tôi đặc biệt cảm ơn Su Ling hôm trước đã chạy nhầm đường để tôi được gặp, cảm ơn cha mẹ đã xui tôi cứ chạy theo để buộc Su Ling phải phạm sai lầm.”

- Nhưng Su Ling chạy theo anh lên đỉnh đồi còn sai lầm hơn, - Tom chen vào nói.

Chờ mọi người cười xong, Nat nói tiếp: “Tôi đã đem lòng yêu Su Ling ngay từ buổi đầu mới gặp. Tình cảm ấy không được cô ta đáp lại ngay, nhưng như tôi đã nói, có được cái phước hôm nay là do tôi giống cha. Nhân đây xin mời tất cả các vị đến dự lễ cưới vàng của chúng tôi vào ngày 11 tháng 7 năm 2024.” Anh ngừng một lát. “Thời gian từ nay đến đó, chỉ những ai là nữ tu và liều chết mới được xin lỗi vắng mặt.” Anh nâng cốc. “Chúc mừng Su Ling, vợ tôi.”

Lúc Su Ling chạy lên gác thay áo, Tom hỏi Nat, hai người định đi đâu hưởng tuần trăng mật.

- Đi Triều Tiên, - Nat khẽ đáp. “Bọn tớ định tìm về ngôi làng nơi Su Ling ra đời xem có thể tìm được bà con họ hàng nào không. Nhưng cậu đừng nói với mẹ Su Ling. Bọn tớ muốn làm chuyện bất ngờ.”

Ba trăm tân khách cùng kéo ra ngoài vỗ tay chào chiếc xe chở cô dâu chú rể lên đường ra sân bay.

- Không hiểu chúng nó đi hưởng tuần trăng mật ở đâu nhỉ, - mẹ Su Ling hỏi Tom.

- Cháu cũng không biết, - anh đáp.

 

*

 

Fletcher vòng tay ôm Annie. Sau khi chôn cất Harry Robert, một tháng đã trôi qua nhưng Annie vẫn tự trách mình.

- Em đừng nghĩ thế, - Fletcher nói. “Nếu phải trách thì anh. Em chả thấy sau khi sinh đẻ Joanna đã phải chịu đựng thế nào ư? Có khác gì em bây giờ đâu.” Tuy thế anh không sao an ủi được Annie. Bác sĩ đã khuyên anh cách giải quyết vấn đề tâm lý, và Fletcher cũng thấy thế. Annie đã dần khỏe lại, nhưng điều cô quan tâm trước hết vẫn là quyết tâm giúp chồng nổi bật trong năm học. Cô nhắc nhở: “Anh còn nợ Karl Abrahams đấy. Ông ấy đầu tư cho anh rất nhiều, anh chỉ còn cách đền ơn ông ấy thôi.”

Trong thời gian nghỉ hè, Annie giục chồng học cả ngày lẫn đêm trước khi vào năm cuối. Cô vừa làm trợ lý nghiên cứu, vừa làm vợ, làm bạn, không chịu nghe anh khuyên chính cô cũng phải lo học để còn thi tốt nghiệp.

- Không đâu, - Annie nói. “Em chỉ muốn làm vợ thôi, đến khi nào Chúa quyết định thì lúc đó...”

Về trường Yale, Fletcher nghĩ không lâu nữa mình sẽ phải ra làm việc để kiếm sống. Nhiều công ty mời anh đến phỏng vấn. Một vài công ty còn đề nghị anh nhận việc ngay, nhưng Fletcher không muốn làm ở Dallas hoặc Denver, Phoenix hay Pittsburgh. Nhiều tuần lễ trôi qua, không thấy công ty Alexander Dupont và Bell hỏi đến, hy vọng đã nhạt dần, anh kết luận có lẽ còn phải qua nhiều cuộc phỏng vấn mới mọng một công ty lớn nào đó mời về làm việc.

Jimmy cũng đã gửi đi năm chục bức thư nhưng chỉ nhận được ba nơi trả lời, mà cũng không nơi nào mời về làm. Nếu không có Joanna, anh đã về Dallas hoặc Denver, Phoenix hoặc Pittsburgh. Annie và Fletcher nhất trí sẽ thành phố nào mà họ muốn sinh sống, sau đó cô cũng tìm hiểu các công ty hàng đầu ở các bang đó. Hai người cùng nhau viết một bức thư và sao thành năm mươi tư bản, định đến ngày đầu năm học sẽ gửi đi khắp nơi.

Cuối buổi sáng hôm ấy, khi quay về trường, Fletcher bỗng thấy có thư gửi đến trong hòm thư.

- Nhanh nhỉ, - Annie nói. “Chúng ta vừa gửi đi cách đây một giờ.”

Fletcher cười, nhìn dấu bưu điện. Anh mở ra xem và thấy dòng chữ đen ngòm ghi Công ty Alexander Dupont và Bell. Chỉ đến tháng Ba công ty nổi tiếng New York này mới phỏng vấn thí sinh, sao bây giờ họ đã báo cho Fletcher Davenport?

Fletcher liên tục học trong những tháng đông dài trước khi phỏng vấn, nhưng anh vẫn chưa yên tâm trước ngày đi New York. Vừa bước lên tàu ở Ga Trung ương, Fletcher đã thấy ngạt thở với tiếng nói ồn ào và bước chân dồn dập của hành khách. Anh đi tắc- xi đến Phố 54, thò đầu nhìn ra ngoài, ngửi một thứ mùi không có ở thành phố nào khác.

Xe đến trước tòa nhà chọc trời bảy mươi hai tầng. Fletcher nghĩ bụng mình sẽ không làm việc ở nơi nào khác. Anh lảng vảng vài phút ở tầng dưới, chỉ mong không phải ngồi chờ như mọi thí sinh khác. Thang máy lên tầng ba mươi sáu, cô gái ngồi trực hỏi tên rồi đưa anh một tờ giấy ghi thứ tự các cuộc phỏng vấn trong ngày.

Người anh gặp đầu tiên là Bill Alexander, cộng sự cấp cao của công ty. Anh đã yên tâm nhưng không thấy Alexander tỏ ra nồng nhiệt như hồi gặp ở nhà Karl Abrahams trước kia. Tuy vậy, ông ta cũng hỏi thăm Annie và chúc cô mau hồi phục sau nỗi buồn mất cháu Harry. Trong cuộc gặp, Fletcher biết mình không phải người duy nhất được phỏng vấn, vì danh sách để trước mặt ông Alexander còn sáu người nữa.

Fletcher ngồi một giờ với ba cộng sự khác chuyên về lĩnh vực hình sự. Người cuối cùng phỏng vấn xong, anh cùng các bạn được mời đi ăn trưa. Lần đầu tiếp xúc với năm thí sinh kia, anh đã cảm thấy mình chắc ăn, chỉ chưa biết công ty còn phỏng vấn bao nhiêu người khác nữa.

Có điều anh không biết là trước khi mời đến phỏng vấn, công ty Alexander Dupont và Bell đã khảo sát kỹ từ mấy tháng trước. Anh nằm trong số sáu người cuối cùng được giới thiệu vì đã có chút tiếng tăm. Anh cũng không biết chỉ có một hoặc hai người sẽ về công ty. Có năm họ không chọn được ai vì trường không giới thiệu được người nào xứng đáng.

Buổi chiều có thêm vài cuộc phỏng vấn khác. Đã có lúc Fletcher nghĩ mình không đạt yêu cầu. Anh sẽ còn phải gặp nhiều công ty khác đã trả lời thư anh và mời đến phỏng vấn.

- Cuối tháng họ sẽ cho biết mình có đạt không, - anh nói với Annie lúc ấy đang đứng đợi ở sân ga. “Nhưng em cứ tiếp tục gửi thư đi, tuy anh phải thú nhận không muốn làm ở đâu ngoài New York.”

Trên đường về nhà, Annie liên tục hỏi Fletcher mọi chi tiết. Cô cảm động thấy Bill Alexander hỏi thăm, mà ông ta cũng nhớ cả tên Harry nữa.

- Lẽ ra anh phải cho ông ta biết, - Annie nói lúc xe về đến cửa nhà.

- Cho ông ta biết gì? - Fletcher hỏi.

- Biết là em lại có bầu…

 

*

 

Nat rất thích cảnh đông đúc nhộn nhịp của Seoul, một thành phố quyết tâm đẩy lui vào quá khứ mọi ký ức chiến tranh. Đâu đâu cũng có nhà chọc trời, cái mới chen cái cũ một cách hòa hợp. Nat có ấn tượng với đội ngũ lao động có học và thông minh chỉ sống với đồng lương bằng một phần tư số lương chấp nhận được ở Mỹ. Su Ling chú ý đến vai trò của phụ nữ lao động đang còn chịu thua kém ở xã hội Triều Tiên. Cô thầm cảm ơn sự can đảm của mẹ đã biết nhìn xa và đem cô sang Mỹ.

Nat thuê hẳn một chiếc xe để tiện đi chỗ này chỗ khác. Ra khỏi thủ đô vài cây số, hai người rất ngạc nhiên thấy đời sống thay đổi nhanh chóng. Đi vài trăm cây số đã coi như được sống với một thế kỷ của quá khứ. Thay vào những tòa nhà chọc trời hiện đại là những căn nhà gỗ xinh đẹp. Mỗi bước đi đều thấy cuộc sống ở đây thật đông vui rộn rã.

Mẹ Su Ling ít khi kể lại hồi ở Triều Tiên nuôi dạy cô thế nào, song Su Ling biết nơi sinh của cô, biết cả tên tuổi gia đình họ hàng nữa. Cô có hai ông cậu đã hy sinh trong chiến tranh. Theo sách chỉ dẫn, cô về Kaping có dân số 7.303 người, nhưng không hy vọng tìm ra người nào nhớ được mẹ cô.

Su Ling Cartwright tìm đến tòa thị chính hỏi. Ở đây vẫn còn sổ sách ghi tên các công dân địa phương. Trong 7.000 cư dân có đến hơn một nghìn người cùng họ Peng với mẹ Su Ling. Cả cô gái ngồi trực cũng có tên ấy ở tấm biển trên bàn. Cô ta nói hiện nay bà ngoại đã ngoài chín mươi nhưng cụ biết hết các chi trong họ, vì vậy có thể thu xếp cho Su Ling gặp cụ. Cô ta hẹn Su Ling đến chiều quay lại.

Buổi chiều Su Ling gọi đến, được biết cụ bà Ku Sei Peng hẹn hôm sau mời đến uống trà. Cô gái trực còn xin lỗi và lễ phép đặn Su Ling nếu có đến đừng đem theo ông chồng người Mỹ.

Tối hôm sau Su Ling trở về khách sạn, đem theo một mảnh giấy và cười nói: “Chúng ta đã đến tận đây để được trả lời là quay về Seoul.”

- Sao thế? - Nat hỏi.

- Đơn giản thôi. Cụ Ku Sei Peng nhớ là mẹ em đã bỏ làng đi kiếm sống ở thủ đô, nhưng từ đó không quay về làng nữa. Em gái của mẹ em là Kai Pai Peng hiện đang sống ở Seoul. Cụ Ku Sei cho địa chỉ gần đây nhất.

- Vậy thì về Seoul, - Nat nói. Anh gọi tiếp tân khách sạn báo cho biết sẽ đi ngay. Họ về đến Seoul trước nửa đêm.

Sáng hôm sau, trong lúc ăn sáng, Su Ling nói: “Có lẽ để mình em đi gặp thì tốt hơn, vì nếu biết em lấy chồng Mỹ bà sẽ chẳng nói gì nhiều đâu.”

- Được thôi, - Nat đáp. “Anh cũng định đi thăm chợ bên kia thành phố xem có gì đặc biệt.”

- Cái gì đặc biệt? - Su Ling hỏi.

- Cứ chờ sẽ biết, - Nat đùa.

Nat đi tắc- xi đến quận Kiray, lang thang ở khu chợ lộ thiên lớn nhất thế giới. Nhiều dẫy sạp hàng bán đủ thứ, từ đồng hồ Rolex đến ngọc trai, từ túi xách Gucci đến nước hoa Chanel, từ vòng vàng Cartier đến những quả tìm Tiffany. Anh tránh không nghe người ta gọi “ông Mỹ ơi, đến đây xem hàng tôi đi, rẻ lắm.” Anh không dám chắc đó là hàng thật.

Trở về khách sạn, Nat mệt lử với sáu túi xách, toàn những đồ mua tặng vợ. Đi thang máy lên tầng ba, anh mở cửa vào phòng, tưởng Su Ling đi thăm bà cô bên ngoại đã về. Khép cửa lại, anh bỗng nghe như trong phòng ngủ có tiếng ai khóc nức nở.

Nat quẳng mấy túi đồ xuống, chạy ngay vào phòng ngủ. Su Ling đang nằm co trên giường. Anh tụt giây, cởi áo, trèo lên giường ôm vợ vào lòng.

- Có chuyện gì thế em yêu? - anh vuốt ve hỏi.

Cô không đáp. Nat ôm chặt, biết chưa đến lúc vợ nói.

Lúc trời tối hẳn và đèn nê- ông ngoài đường đã bật sáng, Nat đứng dậy kéo màn, rồi đến ngồi bên cầm tay vợ.

- Em mãi mãi yêu anh, - Su Ling nói nhưng không nhìn lên.

- Anh cũng mãi mãi yêu em, - Nat ôm vợ vào lòng đáp.

- Anh có nhớ đêm tân hôn chúng ta đồng ý không giấu nhau điều gì không? Bây giờ em phải kể lại những gì em đã phát hiện lúc chiều.

Chưa bao giờ Nat thấy vợ buồn thế. “Dù em phát hiện gì cũng không ảnh hưởng đến tình yêu của anh,” Nat nói để an ủi.

Su Ling kéo chồng lại gần, áp mặt vào ngực anh, như không muốn hai người nhìn nhau. Cô nói: “Sáng nay em giữ đúng lời hẹn đến thăm bà cô. Bà rất nhớ mẹ em, và giải thích tại sao mẹ em đã bỏ làng về Seoul.” Su Ling vẫn ôm chặt Nat và kể lại những gì bà Kai Pai đã nói. Rồi cô buông tay và nhìn thẳng vào mắt chồng.

- Bây giờ đã biết hết sự thật rồi, anh còn yêu em không? - cô hỏi.

- Chả biết còn yêu nữa không, nhưng chỉ một việc em kể lại cho anh tất cả những chuyện đó đủ thấy em can đảm đến mức nào. - Ngừng một lát, anh nói tiếp: “Điều đó chỉ càng thắt chặt thêm sợi dây gắn bó hai chúng ta mà không bao giờ và không ai có thể cắt đứt được.”

- Em nghĩ có lẽ cùng đi với anh không tiện, - Annie nói.

- Nhưng em là bùa hộ mệnh của anh, và...

 

*

 

- ....bác sĩ Redpath cũng bảo là không nên.” Fletcher đành đồng ý đi New York một mình. Annie đã có bầu được bảy tháng. Tuy không có hiện tượng gì phức tạp, nhưng anh không dám chống lời dặn của bác sĩ.

Fletcher rất thích được công ty Alexander Dupont và Bell mời đến gặp lần nữa. Anh tự hỏi không biết bao nhiêu thí sinh đã bị gạch tên. Anh có cảm tưởng Karl Abrahams biết việc này tuy Giáo sư không nói riêng với ai.

Đoàn tàu vào Ga Trung tâm, Fletcher thuê tắc- xi đến Phố 54 trước hai mươi phút và đứng ở cửa vào. Có lần anh nghe nói thí sinh nào đến chậm ba phút cũng không được phỏng vấn.

Anh đi thang máy lên tầng ba mươi sáu. Cô tiếp tân chỉ đường cho anh đến một phòng rộng, gần đẹp như văn phòng ông trưởng ban. Fletcher ngồi một mình, chưa biết đó có phải là dấu hiệu tốt hay không. Một thí sinh khác đến vài phút trước chín giờ. Anh ta nhìn Fletcher mỉm cười.

- Tôi là Logan Fitzgerald, - anh ta chìa tay bắt tự giới thiệu. “Tôi đã nghe anh nói chuyện với sinh viên năm thứ nhất ở Yale. Anh nói rất hùng hồn về Việt Nam, tuy tôi không nhất trí với những gì anh nói.”

- Anh cũng học ở Yale à?

- Không, tôi đến thăm ông anh. Tôi học ở Princeton. Có lẽ chúng ta đều biết đến đây làm gì chứ nhỉ?

- Anh cũng biết đã có nhiều người đến đây chứ? - Fletcher nói.

- Nhìn đồng hồ, tôi đoán hai chúng ta là những người sau cùng. Tôi chỉ biết chúc anh may mắn thôi.

Fletcher cười đáp: “Tôi tin là anh thành thật.”

Cửa mở, một người đàn bà Fletcher nhớ là thư ký của ông Alexander bước ra nói: “Xin mời các ông theo tôi đi lối này.”

- Cảm ơn cô Townsend, - Fletcher đáp. Cha anh đã có lần dặn chớ bao giờ quên tên cô thư ký. Nói đúng ra, các cô thư ký bao giờ cũng sống nhiều thời gian với ông chủ hơn vợ ông ta. Hai người theo cô ta ra ngoài. Fletcher không biết anh chàng Logan có hồi hộp như mình không. Họ đi qua một hành lang rải thảm, hai bên tường có tên các cộng sự viên bằng chữ vàng đắp lên mặt gỗ. Tên cuối cùng là William Alexander trước cửa phòng họp.

Cô Townsend khẽ gõ cửa. Cô mở cửa đứng ra một bên. Trong phòng đã có mặt hai mươi lăm người, tất cả là nam và ba nữ. Họ đứng lên vỗ tay.

- Xin mời ngồi, - Bill Alexander nói. Tiếng vỗ tay chấm dứt. “Trước hết, xin chào mừng hai anh bạn về với công ty Alexander Dupont và Bell. Cũng xin nói trước, lần sau các đồng nghiệp còn vỗ tay nhiều nữa khi các anh về đây tập sự, ít ra cũng bảy năm. Trong buổi sáng, các anh sẽ gặp những thành viên ban chấp hành, họ sẽ trả lời bất cứ điều gì các anh hỏi. Fletcher, anh được đưa về bộ phận của Matthew Cunliffe phụ trách công việc hình sự. Còn Logan, anh trực tiếp làm việc với Graham Simpson về các công ty sáp nhập và thu hồi. Mười hai giờ ba mươi, mời các anh trở về đây cùng ăn trưa với các đồng nghiệp.”

Bữa ăn trưa diễn ra thân mật sau một loạt những cuộc phỏng vấn mệt lử. Các cộng sự viên không còn cáu gắt phư ông Hyde hoặc tiến sĩ Jekyll. Ngày nào họ cũng có thái độ như thế với các thân chủ hoặc đối thủ.

- Nghe nói cả hai anh đều đứng đầu lớp, - Bill Alexander nói sau khi đã ăn xong. Bữa ăn trưa chỉ có nước đóng chai, không có món khai vị. “Tôi biết thế nhưng chưa thể quyết định để các anh làm việc ở bộ phận nào.”

- Như vậy một trong hai chúng tôi có bị thải không? - Fletcher hỏi.

- Năm đầu anh phải ngồi ở phòng nhận thư và chuyển thông báo đến các công ty luật. - Ông Alexander ngừng một lát nói tiếp. “Và phải đi bộ.” Không thấy ai cười. Fletcher chả hiểu ông ta nói thật hay đùa. Ông ta đang sắp nói tiếp bỗng có tiếng gõ cửa. Cô thư ký bước vào.

- Ông Alexander, có người gọi ở đường dây số ba.

- Cô Townsend, tôi đã bảo không được cắt ngang.

- Nhưng đây là cuộc gọi gấp, thưa ông.

Bill Alexander nhấc máy. Vẻ mặt đang nhăn nhó bỗng chuyển sang tươi cười chú ý nghe. “Vâng, tôi sẽ báo lại.”.

Ông đặt máy.

- Fletcher, tôi là người đầu tiên chúc mừng anh, - ông ta nói. Fletcher ngạc nhiên. Ít ra phải một tuần nữa mới công bố ai đỗ. “Anh đã là cha một cháu gái. Cả hai mẹ con đều khỏe. Ngay từ lần đầu gặp gỡ, tôi đã biết cô ấy là người mà công ty Alexander Dupont và Bell chúng tôi rất cảm kích.

 

 

 

 

24

 

- Lucy.

- Đặt tên Ruth hay Martha thì sao?

- Cho nó cả ba tên, - Fletcher nói. “Như thế cả hai cụ nội ngoại đều vui lòng, riêng chúng ta cứ gọi con là Lucy.” Anh mỉm cười đặt con vào nôi.

- Anh đã nghĩ chúng ta sẽ ở đâu không? - Annie hỏi. “Em không muốn Lucy lớn lên ở New York.”

- Anh đồng ý. - Fletcher nói, gãi tay vào cằm con gái. “Anh đã nói chuyện với Matt Cunliffe, khi về công ty hắn cũng gặp vấn đề tương tự.”

- Vậy Matt khuyên thế nào?

- Hắn bảo ở New Jersey có ba bốn thị trấn nhỏ, chỉ cách Ga Penn khoảng một giờ tàu. Anh nghĩ thứ Sáu sau, nhân ngày nghỉ cuối tuần, chúng ta lên đó tìm xem có chỗ nào thích hợp thì dọn.

- Em tính lúc đầu phải thuê tạm một chỗ đã, - Annie nói. “Chờ khi nào tiết kiệm đủ tiền sẽ mua hẳn.”

- Có lẽ không được, công ty muốn chúng ta mua hẳn một tài sản riêng.

- Công ty muốn là một chuyện, nhưng chúng ta không đủ sức trang trải thì sao?

- Cũng không thành vấn đề, - Fletcher nói, “Alexander Dupont và Bell sẽ có khoản cho vay không lấy lãi.”

- Họ rộng lượng quá nhỉ, - Annie nói. “Em biết rõ Bill Alexander, chắc chắn ông ta phải có động cơ nào đó.”

- Chắc có, - Fletcher nói. “Họ sẽ buộc chặt mình vào công ty, và Alexander Dupont và Bell sẽ tự hào có doanh số nhân viên nhỏ nhất trong mọi hoạt động luật pháp ở New York. Anh đã thấy rõ, một khi họ đã bỏ công chọn người và đào tạo theo cách của họ, họ sẽ không đời nào để chạy sang công ty khác.”

- Có vẻ như đây là một cuộc hôn nhân vội vã, - Annie nói. “Đã có lúc nào anh nói với ông Alexander về tham vọng chính trị của anh chưa?”

- Chưa, chưa qua được giai đoạn đầu thì chưa nói. Nhưng ai mà biết trong vài ba năm nữa anh sẽ nghĩ thế nào?

- Em biết anh sẽ nghĩ thế nào trong vài ba năm, mười năm, hai mươi năm nữa, - Annie nói. “Mỗi khi được đứng ra làm việc gì, anh có vẻ như rất hãnh diện. Em còn nhớ hồi cha em được tái cử vào Thượng viện, anh là người duy nhất phấn khởi về kết quả hơn cả cha em nữa.”

- Em đừng để Matt Cunliffe nghe thấy nhé, - Fletcher cười nói. “Chỉ mười phút sau là đến tai Bill Alexander, mà công ty cũng không thích người nào không chịu hết lòng. Em nhớ không, khẩu hiệu của họ là “mỗi ngày có hai mươi lăm giờ làm luật.”

 

*

 

Su Ling vừa thức dậy đã nghe Nat đang nói điện thoại ở phòng ngoài. Không hiểu anh gọi sớm đi đâu thế. Lát sau, Nat quay vào buồng ngủ.

- Em yêu, dậy chuẩn bị hành lý đi, trong vòng một giờ nữa chúng ta phải đi khỏi đây.

- Sao...?

- Một giờ nữa.

Su Ling nhảy xuống giường chạy vào buồng tắm. “Đại úy Cartwright, em có thể biết anh định đưa em đi đâu không?” cô vừa vặn nước vừa hỏi.

- Phu nhân Cartwright, lên máy bay bà sẽ biết.

- Nhưng đi đâu? - Su Ling tắt nước hỏi lại.

- Lúc máy bay cất cánh sẽ nói, không nói trước được.

- Về nhà ư?

- Không, - Nat đáp, không nói gì thêm.

Lau khô người xong, Su Ling chưa biết mặc đồ gì. Lại thấy Nat nhấc điện thoại.

- Với phụ nữ thì một giờ làm sao đủ? - Su Ling nói.

- Mặc kệ, - Nat nói. Anh lại gọi tiếp tân, bảo họ kêu giùm tắc- xi.

- Chết thật! - Su Ling nhìn đống tặng phẩm nói. “Lấy đâu ra chỗ mà nhét hết những thứ này?”

Nat bỏ máy, đến tủ áo lấy chiếc va- li. Su Ling thấy lạ. “Dám mua Gucci cơ à?” Cô không hiểu sao Nat lại phí tiền thế.

- Không phải đồ thật đâu, - Nat nói. “Chưa đến mười đô-la.”

Su Ling cười. Chồng lại nhấc điện thoại. “Cho người khuân đồ lên nhé. Sẵn sàng hoá đơn đi, chúng tôi xuống là đi liền.” Anh lại cầm máy. “Mười phút nữa.”

Nat quay lại nhìn Su Ling đang cài áo. Hồi đêm, thấy cô đã ngủ say, anh quyết định phải đi khỏi Triều Tiên càng sớm càng tốt. Mỗi phút ở lại thành phố này chỉ càng khiến cô nhớ chuyện cũ...

Ra sân bay, Nat xếp hàng mua vé. Anh cảm ơn cô nhân viên đã nhanh chóng giải quyết yêu cầu. Lúc gửi hành lý, Su Ling vội vã đi gọi đồ ăn sáng. Nat đi thang máy xuống phòng ăn ở tầng dưới, thấy vợ đang ngồi trong góc nói chuyện với một cô tiếp viên.

- Em chưa gọi đồ ăn cho anh đâu, - cô nói lúc Nat bước đến. “Em vừa khoe với cô tiếp viên chúng ta mới lấy nhau được một tuần, nên không chắc anh đã xuống ăn.”

Cô tiếp viên hỏi. “Ông dùng gì, thưa ông?”

- Hai quả trứng, thịt xông khói, băm viên, cà-phê đen.

Cô tiếp viên nhìn xuống giấy. “Vợ ông đã gọi rồi.”

Nat quay nhìn Su Ling. “Chúng ta đi đâu đây?” Su Ling hỏi.

- Ra cửa em sẽ biết. Nếu còn hỏi nữa, anh sẽ không nói cho đến lúc máy bay hạ cánh.

- Nhưng...

Anh sẽ bịt mắt em nếu cần. - Cô tiếp viên đem cà-phê tới. “Bây giờ anh cần hỏi em vài điều quan trọng.” Thấy vẻ mặt Su Ling căng thẳng, anh làm như không để ý. Mấy ngày tới anh không dám nói đùa nữa, sợ cô chưa hết ám ảnh với những điều đang suy nghĩ. “Hình như em có nói với mẹ anh rằng sau khi Nhật Bản thực hiện cuộc cách mạng về máy tính, toàn bộ quá trình công nghệ sẽ phát triển với một tốc độ rất nhanh?”

- Chúng ta đi Nhật ư?

- Không, không đi Nhật. - Nat đáp. “Bây giờ em hãy tập trung vào đây nhé. Anh muốn biết tài năng chuyên môn của em.”

- Toàn bộ nền công nghệ đang tiến như vũ bão, - Su Ling nói. “Canon, Sony, Fujitsu, đã bắt kịp và vượt Mỹ. Tại sao? Anh có nghĩ là sẽ trông vào những công ty mới của ITT không? Nếu thế, anh nên xét...

- Có, và không, - Nat đáp. Chợt anh vểnh tai nghe sân bay thông báo. Anh xem lại vé, ghi vài chữ rồi đứng dậy.

- Đại úy Cartwright, ta đi đâu đây? - Su Ling hỏi.

- Cứ đi đã, - Nat nói. “Vừa có thông báo lần cuối. Em còn muốn làm gì nữa không? Vé và séc lữ hành anh cầm cả đây rồi.”

- Chỉ việc theo lệnh anh hả? - Su Ling uống vội cà-phê, nhìn lên bảng thông báo các cửa ra. Có đến hàng chục cửa. - “Đi Honolulu à?” cô chạy theo Nat hỏi.

- Sao lại đi Honolulu? - Nat nói.

- Để nằm ở bãi biển và suốt ngày làm tình chứ sao?

- Không, chúng ta đến một nơi để ban ngày anh đi gặp những người tình cũ, còn ban đêm chúng ta làm tình với nhau.

- Đi Sàigòn ư? - Su Ling nhìn lên bảng báo các chuyến máy bay đi đến. “Đến đó để thăm lại hiện trường những thắng lợi quá khứ của Đại úy Cartwright chăng?”

- Không đâu, - Nat nói, chân vẫn bước ra cửa. Kiểm xong hộ chiếu và vé máy bay, Nat không dừng lại cửa hàng miễn thuế. Anh đi tiếp sang một quầy hàng không khác.

- Đi Bombay ư? - Su Ling lại hỏi lúc hai người ra cửa số một.

- Anh không có mấy người tình cũ ở Ấn Độ, - Nat nói. Hai người tiếp tục qua cửa số hai, số ba, số bốn.

Qua mỗi cửa, Su Ling lại hỏi: “Singapore? Manila? Hong Kong?”

- Không, không, và không, - Nat đáp. Qua cửa mười một, mười hai, mười ba.

Su Ling không hỏi nữa. Bangkok, Zurich, Paris, London. Cuối cùng họ đến cửa hai mươi mốt.

- Ông đi Rome và Venice chứ ạ? - cô nhân viên ngồi sau quầy hãng Pan Am hỏi.

- Vâng, - Nat đáp. “Vé này ghi tên ông bà Cartwright.” Anh quay ra nhìn vợ.

- Này ông Cartwright, ông biết thế nào không? - Su Ling nói. “Ông là một con người rất đặc biệt đấy nhé.”

 

*

 

Sau bốn tuần, Annie không còn nhớ hai người đã xem những ngôi nhà nào. Cái thì quá to, cái thì quá nhỏ, còn những nhà khác trong quận họ chẳng thích cái nào. Dù được công ty Alexander Dupont và Bell giúp đỡ, họ vẫn không dám hỏi giá tiền những ngôi nhà ấy. Một buổi chiều Chủ nhật, họ tìm được một chỗ ở Ridgewood. Chỉ mười phút đi bộ sau lưng tay đại lý nhà đất, họ đã nhìn nhau gật đầu. Annie vội gọi ngay cho mẹ. “Ngôi nhà rất lý tưởng. Chỗ này yên tĩnh, có nhiều nhà thờ hơn quầy rượu, nhiều trường học hơn rạp chiếu bóng, lại có sông chảy qua nữa.”

- Giá bao nhiêu? - Martha hỏi.

- Hơi đắt một chút, nhưng tay đại lý nói còn chờ ý kiến của bà Martha Gates. Mẹ ơi, không phải mẹ thì còn ai giảm giá được?

- Con có theo đúng lời mẹ chỉ dẫn không? - Martha hỏi.

- Theo đúng. Con bảo tay đại lý chúng con đều là giáo viên, vì họ chỉ nâng giá với những ai là luật sư, giám đốc ngân hàng hoặc bác sĩ thôi. Anh ta có vẻ thất vọng khi nghe bọn con nói thế.

Cả buổi chiều Fletcher và Annie lang thang trên phố chờ xem Martha mặc cả với họ ra sao. Từ ga về chỗ này chỉ có một đoạn ngắn.

Sau bốn tuần kết thúc thương lượng, ngày 1 tháng 10 năm 1974, Fletcher, Annie và con gái Lucy Davenport về ngủ đêm đầu tiên trong ngôi nhà mới ở Ridgewood, New Jersey. Vừa đóng cửa ngoài, Fletcher đã quay vào hỏi vợ: “Em nghĩ có nên để Lucy ở với bà ngoại vài tuần không?”

- Trong lúc dọn dẹp nhà cửa, em thấy để nó ở đây cũng không sao, - Annie đáp.

- Anh không có ý thế, - Fletcher nói. “Anh nghĩ đã đến lúc chúng ta nên nghỉ phép để hưởng tuần trăng mật lần thứ hai.”

- Nhưng...

- Không nhưng gì hết...chúng ta phải thực hiện điều em vẫn nói, đó là đi Scotland tìm vết tích tổ tiên ông bà những dòng họ Davenport và Gates.

- Anh định bao giờ đi? - Annie hỏi.

- Mười một giờ sáng mai máy bay cất cánh.

- Ông Davenport, ông báo trước như thế cũng giỏi đấy nhỉ?

 

*

 

- Anh tìm gì thế? - Su Ling dướn người nhìn chồng đang xem cột số trên trang báo Tin tức doanh nghiệp châu Á.

- Anh xem trong năm qua tiền tệ vận động như thế nào, - Nat đáp.

- Trong phương trình có Nhật Bản không? - Su Ling hỏi.

- Có chứ, - Nat đáp. “Mười năm qua, Yen là đồng tiền chủ yếu liên tục lên giá so với đô-la. Nhiều nhà kinh tế học đoán trong tương lai gần, nó có xu hướng tăng lên nữa. Họ bảo đồng Yen vẫn đang ở dưới mệnh giá. Nếu các chuyên gia đoán đúng, điều em nói là chính xác về vai trò bành trướng của Nhật Bản trong công nghệ mới. Do đó anh nhận ra mình đã đầu tư vào một lĩnh vực không lấy gì làm chắc chắn.”

- Đó là chủ đề luận án của anh ở trường doanh nghiệp u?

- Không, nhưng đó cũng là ý kiến hay, - Nat nói. “Anh đang tính làm một cuộc đầu tư nhỏ, nếu đúng thì mỗi tháng có thể thu về một số đô-la.”

- Nhưng cũng có rủi ro chứ, phải không?

- Nếu muốn có lợi nhuận thì phải chấp nhận rủi ro. Bí quyết là làm thế nào gạt bỏ được yếu tố rủi ro. - Su Ling có vẻ không tin. Nat lại nói tiếp: “Anh cho em biết điều anh đang nghĩ. Hiện nay mỗi tháng anh được 400$ lương đại úy quân đội. Nếu đem bán trước một năm khoản tiền đó, và chuyển đổi cả mười hai tháng theo tỷ lệ đồng Yen hiện nay, và nếu tỷ lệ hối đoái giữa đô-la và Yen tiếp tục như bảy năm qua, anh sẽ có lợi nhuận mỗi năm từ 400$ đến 500$.”

- Nếu ngược lại thì sao? - Su Ling nói.

- Bảy năm qua không hề ngược lại.

- Nhưng nó cứ ngược thì sao?

- Thì anh mất khoảng 400$, tức một tháng lương.

- Em thà mỗi tháng nhận tấm séc có đảm bảo còn hơn.

- Em sẽ không bao giờ tạo được vốn trên cơ sở thu nhập đó, - Nat nói. “Rất nhiều người sống ngoài khả năng thu nhập của mình. Họ chỉ có mỗi cách tiết kiệm là bảo hiểm nhân thọ hoặc trái phiếu. Nếu xảy ra lạm phát là mất hết. Em cứ hỏi cha anh thì biết.”

- Nhưng chúng ta cần tiền đó làm gì chứ? - Su Ling hỏi.

- Cần cho những người tình của anh, - Nat nói.

- Những người tình của anh ở đâu?

- Số lớn đang ở Ý, một số ở các thành phố thủ đô lớn trên thế giới.

- Vì vậy mà chúng ta đi Venice?

- Đi Florence, Milan và Rome nữa. Hồi anh ra đi, có nhiều cô khỏa thân. Một trong những điều anh thích nhất là họ không có tuổi. Da dẻ họ chỉ hơi nứt nẻ nếu phơi nắng quá nhiều.

- Họ may mắn nhỉ, - Su Ling nói. “Anh thích cô nào nhất?”

- Không, tính anh hơi bừa bãi. Nếu buộc phải chọn cô nào, anh thú thật có một cô ở Florence hiện đang sống trong ngôi nhà nhỏ mà anh rất thích, chỉ mong được gặp lại cô ta.

- Liệu cô ta còn trinh không? - Su Ling hỏi.

- Em hỏi thế là giỏi đấy, - Nat đáp.

- Cô ta tên là Maria chứ gì?

- Em đoán đúng, tuy ở Ý có rất nhiều cô tên là Maria.

- Đó là Magi quyến rũ, tranh của Tintoretto.

- Không.

- Hay Mẹ và Con, tranh của Bellini?

- Không, những tranh ấy còn nằm ở Vatican.

Su Ling im lặng một lát. Cô tiếp viên yêu cầu thắt dây an toàn. “Hay là Cavaraggio?”

- Đúng rồi. Anh để cô ta nằm lại ở cung điện Pitti, bức tường bên phải trên phòng tranh ở tầng ba. Cô ta hứa sẽ chờ đến lúc anh quay về.

- Cô ta sẽ còn đó mãi. Một người tình như thế sẽ làm anh mất mỗi tháng 400$. Nếu còn định đi vào lĩnh vực chính trị, anh sẽ không đủ sức mua nổi cái khung đâu.

- Cho đến lúc mua được cả phòng tranh, anh sẽ không đi vào lĩnh vực chính trị, - Nat cam đoan với vợ.

 

*

 

Annie bắt đầu hiểu tại sao người Anh có vẻ khinh miệt những khách du lịch Mỹ chỉ muốn trong vòng ba ngày có thể đi thăm cả mấy nơi, London, Oxford, Blenheim và Stratford. Cô quan sát đám khách du lịch xuống xe vào Nhà hát Shakespeare Hoàng gia Stratford, đến giờ giải lao lại bỏ đi cho đám khác vào tiếp. Nếu không quay lại sau giờ giải lao, có lẽ cô không nhìn ra hai hàng ghế đầu toàn những người có giọng nói quen thuộc mà cô chưa từng gặp. Cô không hiểu những người vào xem màn hai có kể lại cho những người xem màn một về số phận các nhân vật Rosencrantz và Guildenstern trong vở kịch hay không, hay họ quay về London cả rồi?

Chơi mười ngày ở Scotland, Annie cảm thấy mình đã đỡ có lỗi. Họ dự liên hoan ở Edinburgh, được chọn lựa giữa Marlowe với Mozart, hoặc giữa Pinter với Orton. Hai người thích nhất đi dọc bờ biển. Phong cảnh vô cùng hấp dẫn, khiến họ tưởng không nơi nào trên trái đất có cảnh đẹp hơn thế.

Đến Edinburgh, họ cố tìm dấu vết về dòng dõi gia đình Gates và Davenport, nhưng chỉ thấy một biểu đồ về các bộ lạc xưa kia và chiếc áo kẻ sọc nhiều màu sắc sỡ kiểu Davenport mà Annie nghĩ bụng trở về Mỹ cô sẽ không dám mặc.

Vài phút sau khi lên máy bay từ Edinburgh về New York, Fletcher đã ngủ ngay. Tỉnh dậy thấy mặt trời lúc trước ở bên này máy bay đã chạy sang bên kia. Máy bay bắt đầu xuống phi trường JFK. Annie cảm thấy không quen với tên sân bay mới thay vào tên cũ của nó là Idlewild. Cô chỉ muốn về ngay nhà với Lucy, còn Fletcher nóng lòng nghĩ đến ngày làm việc đầu tiên ở công ty Alexander Dupont và Bell.

 

*

 

Nat và Su Ling ở Rome về cũng mệt nhoài, tuy cả hai thấy chuyến đi rất giá trị. Mỗi ngày qua, Su Ling thấy thư giãn hơn. Trong cả hai tuần sau đó, không ai nhắc đến chuyện ở Triều Tiên nữa. Hai người nhất trí khi về nhà sẽ nói với mẹ Su Ling là họ đi hưởng tuần trăng mật ở Ý. Chỉ có Tom cảm thấy hơi lạ.

Trong lúc Su Ling đang ngủ, Nat lại nghiên cứu tiếp về thị trường tiền tệ trên tờ Diễn đàn Thông tin Quốc tế và Thời báo Tài chính London. Vẫn tiếp tục xu hướng cũ, lên một chút, xuống một chút, lại lên, lại xuống, nhưng đường chạy của đồng Yen vẫn là đường thẳng, ngược chiều với đồng đô-la. So với những tiền khác như đồng Mark, đồng bảng, đồng Lire, cũng vậy. Nat quyết định tiếp tục nghiên cứu xem tỷ lệ hối đoái nào chênh lệch nhiều nhất. Anh tính về đến Boston sẽ nói ngay với cha Tom nên sử dụng bộ phận tiền tệ ở Ngân hàng Russell, chứ không tiết lộ điều đó với người nào anh không quen biết.

Nat nhìn vợ đang ngủ, cảm ơn cô đã gợi ý anh nên lấy tỷ lệ hối đoái làm chủ đề luận án cho năm học cuối ở trường doanh nghiệp. Thời gian ở Harvard sẽ trôi nhanh. Anh biết mình không thể bỏ qua một quyết định ảnh hưởng đến tương lai của hai người. Họ đã bàn với nhau có thể có ba khả năng. Anh có thể kiếm việc làm ở Boston để Su Ling được ở lại Harvard, nhưng như cô đã nói, như thế sẽ hạn chế con đường tiến thân. Hoặc anh có thể nhận lời đề nghị của ông Russell và cùng làm với Tom tại một ngân hàng tỉnh nhỏ, nhưng điều đó cũng sẽ ngăn trở các triển vọng sau này. Hoặc anh có thể xin việc ở Wall Street xem có thể tồn tại được với những công ty chóp bu hay không.

Su Ling không nghi ngờ anh sẽ theo đuổi một trong ba khả năng ấy. Tuy nhiên, dù đã có lúc hai người bàn chuyện tương lai, cô đã liên hệ với trường Columbia rồi.

 

 

25

 

Nhìn lại năm học cuối ở Harvard, Nat có vài phần tiếc nuối.

Chỉ vài giờ sau khi hạ cánh xuống sân Logan Quốc tế, anh đã gọi điện cho cha của Tom trình bày những ý kiến về tiền tệ. Ông Russell bảo số tiền anh muốn bỏ ra làm ăn quá nhỏ, không đáng để quầy ngoại tệ giải quyết. Nat thất vọng. Nhưng đến lúc ông Russell gợi ý ngân hàng có thể cho vay một ngàn đô-la, hỏi anh và Tom có thể đầu tư mỗi người một ngàn đô-la được không, thế là cái đó liền trở thành quỹ tiền tệ đầu tiên của Nat.

Khi Joe Stein nghe nói về dự án này, trong cùng ngày lại có thêm một ngàn nữa. Chỉ trong vòng một tháng, quỹ đã phát triển thành 10.000$. Nat bảo Su Ling anh lo mất tiền đầu tư hơn tiền của chính mình. Cuối khóa học, quỹ của Cartwright đã lên đến 14.000$, và Nat có được khoản lợi nhuận 726$.

- Anh vẫn có thể mất hết đấy, - Su Ling nhắc.

- Đúng, nhưng bây giờ quỹ vững rồi, ít có khả năng mất nghiêm trọng. Dù cho xu thế đảo ngược, anh vẫn có thể né tránh được và giảm thiệt hại đến mức tối thiểu.

- Nhưng anh sẽ mất rất nhiều thì giờ, trong khi đó còn phải viết luận án kia mà? - Su Ling nói.

- Mỗi ngày chỉ mất mười lăm phút, - Nat nói. “Sáu giờ sáng anh xem thị trường Nhật Bản, sáu giờ tối anh xem tỷ giá cuối cùng ở New York. Chừng nào trong mấy ngày không có gì đảo ngược, chừng đó anh không phải lo chuyện gì khác ngoài việc mỗi tháng đầu tư thêm một ít.”

- Như thế xem ra hơi bẩn thỉu, - Su Ling nói.

- Nhưng anh dùng kỹ năng, kiến thức và một chút kinh doanh vào đó thì có gì là không đúng? - Nat hỏi lại.

- Vì anh dùng mười lăm phút trong ngày để thu về khoản tiền bằng một năm của nhà nghiên cứu ở Đại học Columbia, mà còn hơn cả thu nhập của giám sát viên ở trường em nữa kia.

- Nhưng dù thị trường thay đổi thế nào thì một năm nữa giám sát viên ở trường em vẫn còn đó. Đây là chuyện kinh doanh tự do. Chỉ có cái nguy là anh có thể mất hết.

Nat không cho vợ biết nhà kinh tế học Anh Maynard Keynes đã từng nói ‘Người khôn khéo có thể làm giàu trước bữa ăn sáng, thời gian còn lại trong ngày để làm việc khác tốt hơn’. Anh biết vợ rất không thích cái mà cô thường gọi là “đồng tiền dễ kiếm”. Anh chỉ nói chuyện đầu tư khi nào cô hỏi đến thôi. Anh cũng không muốn cho vợ biết ông Russell nhắc đã đến lúc phải tính đến vốn doanh nghiệp.

Nat cảm thấy không có lỗi khi bỏ ra mỗi ngày mười lăm phút chăm sóc cái quỹ nhỏ của mình. Anh không tin có sinh viên nào học chăm hơn mình. Mỗi buổi chiều anh chỉ dành một giờ tập chạy, hy vọng cuộc thi trong năm anh sẽ khoác áo Harvard về đích trước trường đại học Connecticut.

Sau mấy cuộc phỏng vấn ở New York, Nat nhận được nhiều thư của các cơ quan tài chính mời về làm việc, nhưng anh chỉ quan tâm đến hai nơi. Về tiếng tăm và quy mô, những nơi đó không có gì phải chọn lựa, nhưng sau khi gặp Arnie Freeman, người phụ trách phòng tiền tệ ở ngân hàng Morgan, anh đã nhận lời ngay. Arnie có cái tài mỗi ngày có thể làm việc mười bốn giờ ở Wall Street mà vẫn làm như chơi.

Nat không hiểu trong năm còn chuyện gì khác nữa không, nhưng có một lúc Su Ling bỗng hỏi Quỹ Cartwright đã được bao nhiêu lợi nhuận.

- Khoảng bốn chục nghìn đô-la, - Nat đáp.

- Anh có bao nhiêu cổ phần trong đó?

- Hai mươi phần trăm. Em định tiêu vào việc gì?

- Vào đứa con đầu lòng của chúng ta, - cô đáp.

 

*

 

Nhìn lại năm đầu ở công ty Alexander Dupont và Bell, Fletcher cảm thấy ân hận. Anh không biết trách nhiệm của mình đến đâu. Chẳng lẽ năm đầu chỉ để “sai vặt” thôi sao? Nhưng anh đã mau chóng hiểu trách nhiệm chính của mình là đảm bảo cho Matt Cunliffe nắm được tình hình mà không cần tra cứu tài liệu gì ở đâu khác. Chỉ mới vài ngày, Fletcher đã hiểu rõ các vụ đàn bà vô tội bị tố giác phạm tội giết người. Nhưng hầu hết việc anh làm chỉ mô tả sự việc chứ không đưa ra lý lẽ bào chữa cho vụ án nào hết.

Fletcher cũng hiểu chỉ khi nào là thành viên thật sự mới có “lương to” và ban ngày được đi đi về về. Tuy thế Matt cũng giảm bớt cho anh thời gian làm việc, cũng không buộc phải nghi ba mươi phút ăn trưa, do đó mỗi tuần anh có vài lần về nhà chơi bóng với Jimmy.

Dù phải mang việc về làm ở nhà, anh vẫn tranh thủ mỗi tối chơi với con gái được một giờ. Cha anh thường mỏi những năm đầu qua đi sẽ không thấy lại “những giờ phút quan trọng của tuổi thơ Lucy” được nữa.

Fletcher chưa thấy sự kiện nào sôi nổi bằng bữa tiệc mừng Lucy đầy năm. Annie mời rất nhiều bạn láng giềng đến dự. Trong nhà vô số trẻ con, đứa cười đứa khóc ầm ĩ. Anh kinh ngạc thấy Annie vẫn bình tĩnh vui vẻ để các bạn đổ kem, sô- cô- la, sữa, lên quần áo và vứt bừa ra thảm. Khi đứa trẻ cuối cùng đã ra về, Fletcher mệt lử cả người, còn Annie chỉ nói: “Em thấy rất vui.”

Fletcher vẫn theo dõi công việc của Jimmy ở cơ quan luật trên Đại lộ Lexington, cơ quan này tuy nhỏ nhưng rất được tôn trọng. Giờ giấc của Jimmy cũng eo hẹp như Fletcher, nhưng anh ta rất phấn khởi với nhiệm vụ làm cha. Khi Joanna sinh đứa thứ hai, nhiệm vụ còn nặng hơn. Fletcher mừng cho cuộc hôn nhân hạnh phúc của hai người, mặc dù tuổi tác và học lực có khác nhau. Hai vợ chồng rất quý nhau. Nhiều cặp vợ chồng khác tuy đã bỏ nhau thấy thế cũng phải ghen tị. Nghe tin Jimmy có đứa con thứ hai và là con trai, Fletcher hy vọng Annie sẽ đẻ thêm đứa nữa, vì lúc nào anh cũng nhớ đến Harry Robert. Vì bận nhiều việc nên Fletcher ít có bạn mới. Hàng ngày chỉ có Logan Fitzgerald. Họ chỉ biết trao đổi lúc ăn trưa hoặc uống chút rượu trước khi Fletcher ra tàu về nhà buổi tối. Rồi anh chàng Ái-nhĩ-lan cao lớn tóc vàng ấy được mời về Ridgewood để gặp những cô bạn chưa chồng của Annie. Tuy Fletcher biết Logan là đối thủ, nhưng điều đó không hại gì đến tình bạn của hai người. Họ gắn bó với nhau nhiều hơn. Trong năm đầu, cả hai đều có thành tựu và thất bại, nhưng hình như công ty không muốn cho hai người biết ai sẽ là người đầu tiên làm thành viên chính thức.

Một tối cùng ngồi uống rượu, Fletcher và Logan thấy bây giờ họ đã đủ lông cánh. Mấy tuần nữa sẽ có đợt thí sinh mới, và họ sẽ từ “dự bị” lên “chính thức”. Họ được xem lý lịch danh sách thí sinh.

- Cậu thấy những ứng viên này thế nào? - Fletcher khiêm tốn hỏi.

- Cũng không tồi, - Logan gọi thêm bia cho Fletcher. “Trừ trường hợp thằng cha ở Stanford. Không hiểu sao hắn cũng được nằm trong danh sách đã chọn lọc.”

- Nghe nói hắn là cháu của Bill Alexander.

- Chỉ là lý do để đưa vào danh sách thôi, không phải để làm việc. Chưa chắc bọn mình sẽ gặp hắn. Rồi cậu xem. - Logan nói. “Ngay tên hắn tớ cũng chả nhớ được.”

 

*

 

Nat trẻ nhất trong tổ ba người ở ngân hàng Morgan. Sếp trực tiếp của anh là Steven Ginsberg, hai mươi tám tuổi. Phó của Steven là A drian Kenwright, vừa kỷ niệm sinh nhật thứ hai mươi sáu. Họ kiểm soát ngân khoản trên một triệu đô-la.

Do thị trường tiền tệ ở Tokyo mở vào lúc phần lớn người Mỹ sắp đi ngủ, và Los Angeles cũng đóng cửa khi mặt trời không còn chiếu trên lục địa Mỹ, mỗi người trong tổ phải thường xuyên trực cả ngày lẫn đêm. Cơ hội duy nhất Nat được Steven cho nghỉ một buổi chiều là để về trường Harvard chứng kiến việc Su Ling tốt nghiệp tiến sĩ. Lúc đó anh cũng chỉ có thể gọi điện thoại gấp để giải thích sao đồng Lire của Ý lên giá ở miền Nam.

- Vào giờ này tuần sau họ có thể có một Chính phủ Cộng sản, - Nat nói. “Vậy nên chuyển đổi sang đồng Franc Thụy Sĩ,” anh nói tiếp. “Đồng thời cũng tống khứ tiền Peseta hoặc Sterling hiện ta đang có trong sổ sách, vì cả hai đều có Chính phủ cánh tả và sau này họ sẽ gây rắc rối”

- Còn đồng Mark Đức thì sao?

- Cứ giữ đồng Mark, vì chừng nào còn bức tường Berlin thì tiền đó còn có giá trị.

Tuy hai thành viên lâu năm trong tổ có nhiều kinh nghiệm về tài chính hơn Nat và cũng làm việc vất vả, nhưng họ đều công nhận rằng ăng- ten chính trị của Nat có thể nắm được thị trường hơn nhiều người khác.

Hôm mọi người bán đô-la lấy đồng bảng, Nat lập tức bán đồng bảng trên thị trường ngoại hối. Suốt tám ngày liền, có vẻ như ngân hàng sẽ mất đi một khoản lớn. Các đồng nghiệp đi lại trong hành lang không thèm ngó đến Nat. Nhưng một tháng sau, bảy ngân hàng khác đều muốn anh về làm và trả lương cao hơn. Cuối năm Nat được thưởng tám ngàn đô-la. Đó cũng là lúc Nat nghĩ đến việc đi kiếm “tình nhân”.

Anh không cho Su Ling biết về tiền thưởng hay tình nhân, vì cô cũng mới được tăng thêm mỗi tháng chín chục đô-la. Còn chuyện tình nhân, mỗi sáng đi làm anh đã đặc biệt chú ý đến một cô gái ở góc phố. Tối tối đi làm về nhà ở Soho, anh vẫn nhìn cô ta tắm bên cửa sổ. Ngày lại ngày, anh nhìn cô ta một cách say mê. Cuối cùng anh quyết định vào hỏi giá.

- Sáu ngàn năm trăm đô-la, - chủ phòng tranh nói. “Tôi tin là ông có con mắt tinh đời, vì đây không chỉ là bức tranh đẹp, mà còn là khoản đầu tư khôn ngoan nữa.” Nat kết luận ngay, các nhà buôn bán nghệ thuật chẳng khác gì những tay buôn ô- tô cũ, chỉ có khác là họ mặc bộ đồ sang trọng mua ở nhà hàng Brooks Brothers.

- Bonnard không được đánh giá cao bằng những tác phẩm của Renoir, Monet hay Matisse, - chủ phòng tranh nói, “nhưng tôi đoán trong tương lai cái giá của Bonnard sẽ rất cao.” Nat không quan tâm đến giá, vì anh là người yêu tranh chứ không làm mối lái.

 

*

 

Chiều hôm đó người tình khác của anh gọi điện thoại báo tin cô đang trên đường đến bệnh viện. Lúc ấy anh đang nói chuyện với Hồng Kông, đành bảo họ cầm máy đợi.

- Sao thế? - Nat lo lắng hỏi.

- Vì em sắp sinh con, - vợ anh đáp.

- Còn một tháng nữa kia mà?

- Có ai bảo với đứa bé thế đâu, - Su Ling nói.

- Em yêu, anh về ngay đây, - Nat bỏ máy kia xuống.

Đêm đó ở bệnh viện về, Nat gọi ngay cho mẹ báo tin bà có cháu trai.

- Tuyệt vời, - bà nói. “Vậy con đặt tên cháu là gì?”

- Luke, - anh đáp.

- Con định làm gì để chúc mừng Su Ling?

Anh ngập ngừng một lát rồi nói: “Một cô gái đẹp đang tắm.”

Vài ngày sau anh mặc cả với chủ phòng tranh trả năm ngàn bảy trăm năm mươi đô-la. Thế là Bonnard được chuyển từ phòng tranh về phòng ngủ trong ngôi nhà ở Soho.

- Anh thích cô ta lắm hả? - Su Ling hỏi hôm cô đem Luke ở bệnh viện về nhà.

- Không, cô ta bụ bẫm hơn em nhiều, nhưng anh chỉ thích ôm những người mảnh mai như em thôi.

Su Ling đứng một lúc lâu ngắm nhìn tặng phẩm của chồng, cuối cùng cô thốt lên.

- Rất đẹp. Cảm ơn anh.

Nat sung sướng vì thấy vợ cũng thích bức tranh. Không thấy vợ hỏi cô gái giá bao nhiêu, anh yên tâm.

Chuyến đi du lịch với Tom từ Rome đến Venice rồi đến Florence đã làm cho Nat nhanh chóng mắc nghiện một thứ không sao bỏ được. Mỗi lần được thưởng một khoản tiền, anh lại đi tìm mua tranh. Có thể anh không ưa những nhà buôn xe cũ, nhưng như thế cũng phải, vì anh tiếp tục tìm mua những bức tranh thuộc phái ấn tượng nhưng phù hợp với túi tiền. Vuillard, Luce, Picasso, Camoin, Sisley vv. Anh chỉ cần biết những tranh đó sẽ lên giá nhanh như các khoản đầu tư tài chính anh đã chọn cho khách hàng trên phố Wall Street.

Su Ling rất thích nhìn bộ tranh sưu tập. Cô không quan tâm việc Nat trả bao nhiêu tiền, càng không muốn biết giá trị đầu tư. Có lẽ vì ở tuổi hai mươi lăm cô đã được chỉ định làm Giáo sư phụ giảng trẻ nhất trong lịch sử trường Columbia, dù thu nhập cả năm của cô chỉ bằng một tuần của Nat.

Về phần mình, anh chả cần nghe phê phán việc mình làm là bẩn thỉu.

 

*

 

Fletcher nhớ rất rõ sự việc xấy ra

Matt Cunliffe phái anh đem tài liệu đến công ty Higgs & Dunlop cho họ ký. “Bình thường tôi cử một người bán chính thức làm việc này,” Matt giải thích, “nhưng ông Alexander đã mất nhiều tuần để thỏa thuận với họ về các điều khoản, không muốn họ viện cớ trì hoãn việc ký kết nữa.”

Fletcher nghĩ bụng chỉ cần ký xong bốn bản thỏa thuận là nửa giờ sau anh có thể quay về cơ quan. Vậy mà hai giờ sau, lúc anh quay về chỉ nói tài liệu không được ký, cũng không ai làm chứng. Matt đang ngồi, bỏ bút xuống nghe anh giải thích.

Khi Fletcher đến công ty Higgs & Dunlop, họ để anh ngồi chờ ở phòng tiếp tân và nói người ký còn đi ăn chưa về. Fletcher ngạc nhiên, vì người ký là ông Higgs đã hẹn gặp vào một giờ, và chính Fletcher đã phải bỏ bữa trưa để đến cho kịp.

Ngồi ở phòng tiếp tân, anh giở tài liệu đọc để làm quen với các thuật ngữ. Trong thỏa thuận mục đối tác phải đền bù, và hai bên đã mất nhiều thời gian mới nhất trí được.

Đến 1 giờ 15, Fletcher ngẩng nhìn cô tiếp tân. Cô ta ra vẻ xin lỗi và mời anh uống cà-phê. Fletcher cảm ơn, dù sao việc anh ngồi chờ đâu phải lỗi cô ta. Nhưng anh đọc tài liệu lần thứ hai và uống đến ba tách cà phê vẫn chưa thấy ông Higgs đâu. Anh nghĩ ông ta rất vô lễ hoặc là vô tích sự.

Fletcher lại nhìn đồng hồ. Đã 1 giờ 35. Anh thở dài, hỏi cô tiếp tân xem phòng vệ sinh ở đâu. Cô ta ngập ngừng một lát rồi lấy chìa khóa dưới bàn đưa ra. “Phòng vệ sinh ở tầng trên, nhưng chỉ đối tác và khách hàng quan trọng mới được dùng. Nếu ai hỏi, xin anh bảo là khách hàng.”

Không có ai trong phòng vệ sinh. Sợ bất tiện, Fletcher vào tận ngăn trong cùng rồi đóng cửa lại. Chưa kịp đóng khóa quần, anh bỗng nghe có hai người ở ngoài vào, một người như vừa đi nhậu về, có lẽ uống quá nhiều nên vội vào đi tiểu.

Người thứ nhất nói: “Mình rất mừng đã giải quyết xong việc. Chẳng có gì khoái hơn là ăn chặn được công ty Alexander Dupont và Bell.”

Người thứ hai nói: “Họ phái một cậu liên lạc mang thỏa thuận sang. Tôi đã dặn trước Millie giữ cậu ta ở phòng tiếp tân, để cậu ta chờ chán thì thôi.”

Fletcher rút cây bút trong túi đặt nhẹ lên cuộn giấy vệ sinh.

Người thứ nhất nói: “Cuối cùng đã giải quyết thế nào?”

Người thứ hai đáp: “Rất hay. Được 1.325.000$. Nhiều hơn dự tính.”

Người thứ nhất nói: “Khách hàng vừa lòng chứ.”

Người thứ hai đáp: “Ông ta vừa ăn trưa với mình. Ông ta gọi một chai Château Lafitte năm 52. Mình bảo hy vọng được nửa triệu. Ông ta đồng ý ngay, bảo có lý do rõ ràng.”

Người thứ nhất nói: “Tính vào khoản phụ phí chứ?”

Người thứ hai đáp: “Hắn thế rồi. Bất cứ khoản nào trên nửa triệu ta cũng có năm mươi phần trăm trong đó.”

Người thứ nhất nói: “Thế là công ty vớ gọn 417.500$. Nhưng anh vừa nói “có lý do rõ ràng” là thế nào?”

Tiếng mờ vòi nước. “Vấn đề lớn nhất của ta là ngân hàng của khách. Tiền công ty đã lội 720.000$. Nếu thứ Sáu này đóng quỹ không rút ra được, họ sẽ đe dọa không trả, nghĩa là chúng ta sẽ không có cả...” - vòi nước tắt. “...khoản 500.000$ đã giành được sau mấy tháng mặc cả”

Người thứ hai nói: “Chỉ tiếc một điều.”

Người thứ nhất hỏi: “Điều gì?”

Người thứ hai nói: “Tiếc là không cho bọn hợm hĩnh ở công ty Alexander Dupont và Bell biết thế nào là đánh bạc.”

Người thứ nhất nói: “Đúng thế. Nhưng mình phải ra hỏi chuyện...” Tiếng cửa mở. “...thằng cha liên lạc bên đó đã.” Tiếng cửa đóng lại.

Fletcher nhét cả cuộn giấy vệ sinh vào túi. Anh lẻn ra ngoài, rửa tay, rồi lách vào cầu thang xuống tầng dưới. Anh đến chỗ tiếp tân trả lại chìa khóa phòng vệ sinh.

- Cảm ơn ông, - cô tiếp tân nói. Vừa lúc đó chuông điện thoại reo. Cô ta nghe rồi mỉm cười nhìn Fletcher. “Vừa đúng lúc. Mời ông đi thang máy lên tầng mười một. Ông Higgs sẵn sàng gặp ông ngay bây giờ.”

- Cảm ơn cô, - Fletcher đáp. Anh lui ra ngoài, đến thang máy bấm nút xuống tầng trệt.

Matt Cunliffe đang giở cuộn giấy vệ sinh xem bỗng có điện thoại gọi.

- Ông Higgs đề nghị nói chuyện, ở đường dây một, - cô thư ký bên công ty kia nói.

- Bảo ông ấy tôi đang bận. - Matt ngả lưng ra ghế, nháy mắt nhìn Fletcher.

- Ông Higgs hỏi bao giờ gặp được ạ?

- Trước khi đóng quỹ vào thứ Sáu thì không gặp được.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.