Khi Nat ra mở hộp thư của Liên hiệp sinh viên, cậu rấtmừng thấy có ba thư một lúc. Một thư đúng là của mẹ.Thư thứ hai có dấu bưu điện New Haven, cậu đoán là củaTom. Thử thứ ba là một phong bì dầy màu nâu có tấm séchọc bổng hàng tháng. Cậu phải đến ngay ngân hàng vì đãcạn tiền.
Cậu sang nhà hàng McConaughy làm một bát bỏng ngô với vài lát bánh mì nướng, tránh món trứng chiên. Cậu ngồi vào ghế trống ở góc xa, mở thư đọc. Cậu cảm thấy có lỗi hai tuần nay đã không viết cho mẹ. Chỉ còn ít ngày nữa đến kỳ nghỉ lễ Giáng sinh, cậu hy vọng nếu không trả lời ngay mẹ cũng không trách. Hôm chia tay với Rebecca, cậu đã nói chuyện khá lâu với mẹ trên điện thoại. Cậu không nói gì đến chuyện cô mang bầu, cũng không nói tại sao chia tay.
Con Nathaniel yêu quý - bà chưa bao giờ gọi con là Nat. Ai đọc lá thư sẽ hiểu hết về mẹ. Bà là người giản dị, sắc sảo, có hiểu biết, luôn gây ấn tượng. Bao giờ cuối thư bà cũng viết Con phải luôn luôn yêu Mẹ. Mẩu tin duy nhất bà nói trong thư là việc bố được đề bạt làm quản lý ở địa phương, nghĩa là bố không phải suốt ngày có mặt ngoài đường nữa, và tương lai sẽ về làm ở Hartford.
Bổ rất mừng được đề bạt và tăng lương, nghĩa là nhà ta có thể sắm thêm một xe. Tuy nhiên bố lại tiếc từ nay không trực tiếp quan hệ với các khách hàng nữa.
Nat múc thêm một thìa ngũ cốc trước khi mở thư gửi từ New Haven. Thư của Tom đánh máy, đôi chỗ còn có lỗi chính tả, có lẽ vì cậu ta cao hứng mô tả thắng lợi trong bầu cử. Tom nói cậu ta thắng vì đối thủ làm một bài diễn văn ra sức bênh vực cho Mỹ dính líu vào cuộc chiến tranh Việt Nam, do đó lúc bỏ phiếu hắn chẳng được gì hết. Nat thích cái giọng điệu Fletcher Davenport, nghĩ bụng giá mình ra ứng cử ở trường Yale thì hơn. Cậu vừa cắn bánh mì nướng vừa đọc thư Tom. Tớ rất tiếc nghe tin cậu đã chia tay với Rebecca. Không thể hòa giải được sao? Nat ngửng đầu nghĩ không biết trả lời thế nào, mặc dầu hiểu anh bạn cũ sẽ chẳng ngạc nhiên nếu phát hiện có Ralph Elliot trong vụ này.
Nat phết bơ vào miếng bánh thứ hai, suy nghĩ một lúc xem có thể hòa giải được không, nhưng lại nhanh chóng quay về thực tế. Dù sao cậu cũng đã có kế hoạch sau khi học hết năm đầu ở đây sẽ vào trường Yale.
Cuối cùng Nat xem đến chiếc phong bì nâu, quyết định sẽ gửi tấm séc vào ngân hàng trước khi hoàn thành bài giảng. Không như những bạn sinh viên khác, phải đến phút cuối cùng cậu mới dám gửi số tiền ít ỏi vào ngân hàng. Cậu bóc phong bì, ngạc nhiên không thấy có séc mà chỉ là một lá thư. Cậu mở thư xem nội dung mà ngỡ ngàng, không tin ở mắt mình.
CHẾ ĐỘ QUÂN DỊCH
LỆNH GỌI KHÁM SỨC KHỎE QUÂN ĐỘI
Gửi: Nathaniel Cartwright - Đại học Connecticut, Đường Bắc Eagleville, Storrs, Connecticut
Ban Chỉ huy địa phương số 21 - Chế độ quân dịch, 205 phố Walter, Rockville, CT
CHẾ ĐỘ QUÂN DỊCH số …6…21…48…270
Nnận được giấy gọi này xin đến trình diện để khám sức khỏe quân đội tại Ban Chỉ huy địa phương nói trên. Cần có mặt tại …Đường 195&44 (Mansfield Corners), Storrs, Connecticut… vào …7:58 sáng… ngày…5 tháng…1 năm…1968
(Ký tên)
(Thành viên hoặc nhân viên Ban Chỉ huy)
Nat để bức thư xuống trước mặt, nghĩ bụng chưa biết hậu quả thế nào. Cậu thừa nhận chế độ quân dịch là một thứ xổ số, và bây giờ đã đến lượt cậu. Nếu xin miễn trừ vì mình là sinh viên thì như thế có đúng lý hay không, hoặc nên làm như cha đã làm năm 1942, đăng ký và phục vụ đất nước? Cha cậu đã ở châu Âu hai năm cùng sư đoàn 80 trước khi về nước với tấm huân chương Trái Tim Đỏ. Hai mươi lăm năm sau ông còn hăng hái cảm thấy nước Mỹ cần có vai trò ở Việt Nam. Chẳng lẽ tình cảm ấy chỉ áp dụng cho những người Mỹ vô học mà không có sự lựa chọn nào khác ư?
Nat lập tức gọi điện về nhà, và cậu không ngạc nhiên thấy cha mẹ ít khi bất đồng ý kiến về việc này. Mẹ thì muốn cậu học xong đã rồi hãy tính đến sự nghiệp nào khác, vả lại lúc đó chiến tranh cũng đã kết thúc. Chẳng phải Tổng thống Johnson đã hứa trong cuộc vận động bầu cử đó sao? Còn bố thì trái lại, ông thấy tuy lỡ dở một thời gian nhưng bổn phận của Nat là phải đáp ứng lời kêu gọi. Nếu ai cũng đốt thẻ quân dịch, như thế sẽ tạo ra tình hình vô chính phủ. Đó là lời khuyên cuối cùng của bố.
Nat lại gọi cho Tom ở Yale hỏi xem cậu ta có nhận được lệnh quân dịch không.
- Tớ cũng nhận được, - Tom đáp.
- Cậu có đốt đi không? - Nat hỏi.
- Không, tớ không đốt, mặc dù có nhiều sinh viên làm thế.
- Có nghĩa là cậu cũng đăng ký chứ?
- Không, tớ chẳng có được tinh thần như cậu. Tớ sẽ đi con đường pháp lý. Bố tớ tìm được một luật sư ở Washington chuyên về miễn trừ, ông ấy tin rằng tớ có thể được hoãn, ít nhất cho đến sau khi tốt nghiệp.
- Vậy cái gã chống cậu hồi bầu đại diện sinh viên năm thứ nhất và đã phát biểu rất hăng về trách nhiệm những ai “muốn dân chủ” ấy, hắn có quyết định gì không? - Nat hỏi.
- Tớ cũng chả biết, Tom đáp. “Nhưng nếu có tên hắn trong danh sách, có khả năng cậu sẽ chạm trán với hắn ở mặt trận.”
Mỗi tháng trôi qua không thấy có phong bì nâu nào gửi đến hộp thư, Fletcher bắt đầu tin rằng mình may mắn. Nhưng cậu vẫn xác định sẽ trả lời thế nào nếu lại nhận được phong bì ấy.
Khi Jimmy được gọi, cậu ta lập tức hỏi ý kiến cha. Ông khuyên cậu nên làm đơn xin miễn trừ vì chưa tốt nghiệp, ba năm sau sẽ xét. Ông cũng bảo Jimmy là đến lúc đó có thể có tổng thống mới, quốc hội mới và rất có khả năng Mỹ sẽ không còn ở Việt Nam nữa. Jimmy nghe theo bố khuyên và cũng nói thẳng vấn đề tinh thần với Fletcher.
- Tớ không định liều mạng với đám Việt Cộng đâu, vì trước mắt họ có thể đối phó được với ưu thế quân sự nhưng rồi cuối cùng cũng sẽ phải đầu hàng chủ nghĩa tư bản.
Annie nhất trí với quan điểm của ông anh. Cô yên tâm thấy Fletcher không nhận được giấy gọi. Cô cũng chả biết cậu ta sẽ đáp ứng như thế nào.
Ngày 5 tháng Giêng, 1968, Nat đến trình diện ở Ban Chỉ huy địa phương. Sau một cuộc khám sơ bộ, cậu được Thiếu tá Willis phỏng vấn. Viên thiếu tá rất có ấn tượng về cậu ta. Cartwright đạt 92% điều kiện sức khỏe. Cả buổi sáng ông ta đã kiểm tra những thanh niên khác nhưng thấy họ đều có nhiều lý do không thích hợp để phục vụ trong quân đội. Buổi chiều, Nat lại qua một lần thí nghiệm tổng hợp nữa để xếp hạng và đạt 97%.
Tối hôm sau, cùng với năm chục cậu khác, Nat lên chiếc xe buýt đi New Jersey. Dọc đường lan man qua các địa giới bang, Nat chỉ loay hoay với những hộp thức ăn rồi ngủ lúc nào không biết.
Quá nửa đêm hôm sau xe buýt dừng lại ở Trại Dix. Mọi người xuống xe được đón tiếp bằng tiếng chào và tiếng hò hét của mấy sĩ quan huấn luyện, rồi đưa vào những căn lều lắp ghép để ngủ thêm vài giờ.
Năm giờ sáng Nat đã tỉnh dậy. Lúc sau ai nấy được phát quần áo lính. Các đồ dân sự đều được gói ghém gửi về nhà. Cả năm chục tân binh được lệnh viết thư về cho cha mẹ.
Trong ngày, Nat được Chuyên gia Cấp bốn Jackson phỏng vấn. Ông ta chỉ hỏi một câu: “Cartwright, anh có biết lẽ ra anh đã có thể nộp đơn xin miễn trừ không?”
- Thưa ông, tôi biết.
Chuyên gia Jackson ngước mắt. “Và sau khi nghe lời khuyên, anh đã quyết định không xin nữa.”
- Tôi không cần nghe lời khuyên, thưa ông.
- Tốt, binh nhì Cartwright, sau khi học xong lớp huấn luyện cơ bản, tôi chắc anh sẽ xin vào trường sĩ quan. - Ông ta ngừng một lát. “Trong năm chục tân binh chỉ vài người đạt thôi, vậy anh đừng lo. Nhân đây, anh đừng kêu tôi là ông nữa, cứ gọi Chuyên gia Cấp bốn là được.”
Sau nhiều năm chạy việt dã, Nat cho là mình đã đủ khỏe. Nhưng cậu thấy sức khỏe trong quân đội được hiểu một cách khác, mà từ điển Webster cũng không giải thích đầy đủ. Còn chữ “cơ bản” ở đây cũng khác, từ thức ăn, quần áo, lò sưởi, đến giường chiếu, mọi thứ đều cơ bản. Nat nghĩ bụng có lẽ quân đội đã trực tiếp nhập những chiếc đệm từ miền Bắc Việt Nam để ai nấy đều được nếm mùi gian khổ như quân địch.
Suốt tám tuần sau, Nat đều dậy từ năm giờ, tắm nước lạnh vì trong trại không có nước nóng, rồi mặc quần áo, ăn uống, xếp gọn đồ ở đầu giường trước khi ra đứng nghiêm vào sáu giờ cùng các thành viên khác của trung đội hai thuộc đại đội Alpha.
Người đầu tiên mỗi sáng gọi đến cậu là trung sĩ huấn luyện Al Quamo. Lúc nào trông anh ta cũng bảnh bao đến nỗi Nat đoán anh ta phải dậy từ bốn giờ để ủi bộ quân phục. Mười bốn tiếng sau đó, nếu Nat định nói chuyện với bất cứ người nào, Quamo đều muốn biết đó là ai và tại sao. Viên trung sĩ huấn luyện cùng một tầm người với Nat, ngoài ra không có gì giống nhau. Nat chưa bao giờ đứng đủ lâu để đếm hết những huy chương của trung sĩ. “Tôi là mẹ, là cha, và là bạn thân nhất của các anh,” rồi liền đó hắn hét thật to: “Nghe rõ chưa nào?”
- Rõ, thưa ông, - cả ba mươi sáu tân binh của trung đội hai đáp lại. “Ông là mẹ, là cha, làn bạn thân nhất của chúng tôi.”
Hầu hết trung đội đều đã làm đơn xin miễn trừ nhưng không được. Nhiều người cho Nat tự nguyện là điên rồ. Phải mấy tuần sau đó họ mới hiểu khác về anh chàng xuất thân từ Cromwell. Ít ngày trước khi lớp học kết thúc, Nat đã trở thành cố vấn, người viết thư hộ, và người tin cẩn của cả trung đội. Cậu còn dạy cho một số tân binh học đọc học viết. Cậu không nói với mẹ là về phần mình, cậu đã học được ở họ những gì. Khoảng giữa chừng, Quamo cho Nat làm tiểu đội trưởng.
Sau hai tháng vất vả, Nat đứng đầu các môn. Cậu làm các bạn tân binh phải ngạc nhiên vì đã vượt tất cả trong những cuộc chạy việt dã. Trước khi được huấn luyện cơ bản cậu chưa bao giờ câm đến khẩu súng, vậy mà khi học tiêu liên M60 và súng phóng lựu đạn M70, cậu còn bắn giỏi hơn cả bọn thanh niên ở vùng Queen vốn đã quen với những vũ khí nhẹ.
Chưa hết tám tuần, Quamo đã nghĩ về khả năng Nat sẽ vào trường sĩ quan. Quamo thấy Nat không như nhiều anh chàng “bị thịt” khác, mà có năng khiếu trở thành người chỉ huy sau này.
- Cậu phải cẩn thận đấy nhé, - Quamo cảnh báo Nat, “một anh thiếu úy mới ra trường vẫn có thể bị bắn nát đít, vì Việt Cộng không phân biệt anh nào vào anh nào đâu.” Trung sĩ Quamo nói đúng. Chỉ có hai người được cử về Trại Benning, Nat và một sinh viên khác ở trung đội Ba tên là Dick Tyler.
Ba tuần đầu ở Trại Benning, hoạt động ngoài trời chủ yếu là cùng đám mũ đen. Huấn luyện viên nhảy dù chọn tân binh qua những động tác tiếp đất, trước hết từ tường cao ba mươi lăm bộ, rồi từ tháp cao ba trăm bộ. Trong số hai trăm lính ở lớp, chỉ dưới một trăm qua được giai đoạn sau. Nat nằm trong số mười người được đội mũ trắng trong tuần học nhảy. Qua mười lăm lần nhảy, cậu ta được cài thêm vào ngực đôi cánh bạc.
Khi Nat được nghỉ phép về nhà một tuần, mẹ hầu như không nhận ra đứa con đã ra đi ba tháng trước. Thay vào cậu con là người đàn ông hẳn hoi, cao hơn trước mấy phân và rắn rỏi hơn trước, với bộ tóc cắt ngắn y như bố trước đây hồi còn đóng ở Ý.
Nghỉ ít ngày rồi, Nat trở lại Trại Benning, đeo đôi giày ủng Corcoran bóng nhoáng, khoác chiếc ba- lô trên vai, cuốc bộ từ đơn vị không vận sang bên kia đường.
Ở đây cậu bắt đầu tập luyện để trở thành sĩ quan bộ binh. Dù vẫn dậy sớm như mọi ngày, cậu dành nhiều thì giờ trong phòng học, nghiên cứu lịch sử quân sự, xem bản đồ, tài liệu về chỉ huy chiến lược chiến thuật, để cùng bảy chục sĩ quan tương lai đang chuẩn bị được phái sang Việt Nam. Chỉ có một thống kê không ai nói đến, đó là năm chục phần trăm trong số họ có thể hy vọng trở về trong túi đựng xác.
*
- Joanna sẽ bị điều tra về kỷ luật, - Jimmy đang ngồi ở chân giường Fletcher nói. “Thực ra chính tớ mới là người phải chịu đựng sự căm giận của Ủy ban đạo đức.”
Fletcher khuyên bạn cố nén giận, nhưng chưa bao giờ cậu thấy bạn tỏ ra bực bội như vậy. “Tại sao họ không thể hiểu rằng yêu đâu phải là một tội ác kia chứ?
- Cậu sẽ thấy rằng họ lo ngại về hậu quả ngược lại, Fletcher nói.
- Nghĩa là sao? - Jimmy ngẩng lên hỏi.
- Chẳng qua đó là chính quyền thực sự lo rằng các thầy giáo lợi dụng những cô sinh viên trẻ đẹp đó thôi.
- Nhưng họ có dám bảo khi nào là thực sự không? - Jimmy hỏi. “Ai chả biết tớ yêu Joanna, và cô ấy cũng yêu tớ.”
- Trong trường hợp của cậu, nếu cả hai người không tỏ ra công khai quá thì họ cũng nhắm mắt làm ngơ.
- Tớ tưởng cậu cũng tôn trọng Joanna vì cô ấy không chịu gian dối về chuyện này, - Jimmy nói.
- Tớ tôn trọng chứ, - Fletcher nói. “Nhưng cô ta trung thực đến mức buộc chính quyền phải đáp lại bằng cách theo đúng điều lệ của trường.”
- Vậy thì phải thay đổi điều lệ chứ, - Jimmy nói. “Joanna là cô giáo, việc gì cô ấy phải che giấu tình cảm thật của mình. Cô ấy muốn thế hệ sau này sẽ không bao giờ phải đứng trước tình trạng đó nữa.”
- Jimmy, tớ không bác ý kiến của cậu. Tớ biết Joanna chứ. Lẽ ra cô ấy đã suy nghĩ kỹ về điều lệ và có quan điểm mạnh bạo về tính thích hợp của điều 17b.
- Cố nhiên cô ấy có quan điểm, nhưng muốn để ban lãnh đạo khỏi lôi thôi nên Joanna không chịu.
- Đó chính là người đàn bà cậu cần nếu có thể cầm hộ đống sách cho cô ta chứ gì, - Fletcher nói.
- Chả cần nhắc lại chuyện ấy, - Jimmy nói. “Cậu biết không, hiện nay mỗi bài giảng của cô ấy đều được hoan nghênh từ đầu đến cuối.”
- Vậy bao giờ Ủy ban đạo đức họp để quyết định?
- Mười giờ thứ Tư sau. Cũng là ngày báo chí tham dự. Tớ chỉ mong mùa thu này bố tớ không ra ứng cử lần nữa.
- Chả lo về cha cậu, - Fletcher nói. “Tớ đoán thế nào ông cũng tìm ra cách xoay chuyển tình hình cho có lợi.”
*
Nat không ngờ lại gặp sĩ quan chỉ huy, lẽ ra cũng không có chuyện ấy nếu mẹ cậu đã không đỗ xe ở chỗ dành cho đại tá. Lúc cha Nat nhìn ra biển hiệu CHỈ HUY, Nat đã bảo mẹ phải quay xe ngay, Susan vội lùi xe thì dụng phải chiếc xe Jeep của Đại tá Tremlett.
- Trời ơi! - Nat nhảy ngay ra ngoài xe.
- Chẳng cần phải thế, - Tremlett nói. “Đại tá không sao đâu.”
Nat đứng nghiêm chào, còn cha cậu liếc nhìn những tấm huy chương ở viên đại tá. “Hình như chúng ta đã cùng phục vụ trong quân đội,” cha Nat không rời mắt khỏi những tấm băng xanh đỏ trên ngực áo đại tá. Còn ông kia xem lại vết lõm trên thanh cản xốc ở mũi xe, rồi ngửng lên đáp, “Tôi đã ở sư đoàn 80 bên Ý.”
- Có lẽ ông điều khiển những khẩu Sherman còn giỏi hơn lái xe, - đại tá nói, rồi hai người bắt tay nhau. Michael không nói lái xe là vợ mình. Tremlett nhìn Nat. “Cậu là Cartwright, phải không?”
- Thưa vâng, - Nat đáp, ngạc nhiên thấy sĩ quan chỉ huy biết tên mình.
- Có vẻ như con ông sẽ đứng đầu lớp trong buổi thi tốt nghiệp tuần tới, - Tremlett nói với cha Nat. “Có thể tôi sẽ giao cho cậu ta một nhiệm vụ.” Ông không giải thích tại sao. Rồi quay sang Nat: “Cartwright, tám giờ sáng mai đến văn phòng tôi.” Đại tá mỉm cười bắt tay mẹ Nat rồi quay sang cậu nói tiếp. “Cartwright, nếu tối nay ra về tôi còn thấy vết lõm ở thành cản xốc, cậu sẽ không được nghỉ phép lần sau nữa đâu nhé.” Đại tá nháy mắt với mẹ Nat, còn cậu ta đứng nghiêm chào.
Chiều hôm đó Nat phải gò lưng cầm búa và sơn để sửa lại vết lõm.
Sáng hôm sau, vào bây giờ bốn nhăm, Nat đến văn phòng đại tá và ngạc nhiên được đưa vào ngay gặp chỉ huy. Tremlett chỉ tay vào chiếc ghế trước bàn.
- Nat, như thế là cậu đã đạt yêu cầu, - đại tá nhìn hồ sơ nói. “Sau đây cậu muốn làm gì?”
Nat nhìn Đại tá Tremlett. Ông đã có đến năm hàng băng huy chương trên ngực. Ông đã phục vụ ở Ý và Triều Tiên, nay vừa hoàn thành nhiệm vụ ở Việt Nam trở về. Ông có biệt danh là “cáo chồn” vì ông thường bám sát quân địch đến mức có thể cắn được gót chân họ. Nat trả lời ngay: “Thưa ông, tôi muốn được cùng anh em sang Việt Nam.”
- Cậu không cần phải phục vụ ở khu vực châu Á, - sĩ quan chỉ huy nói. “Tôi có thể đề nghị cho cậu nhiều chỗ khác, từ Berlin đến thủ đô Washington, để hai năm sau cậu có thể trở về trường đại học.”
- Như vậy có sai mục đích không, thưa ông?
- Hầu như chẳng ai biết một sĩ quan có được phái sang Việt Nam hay không, - sĩ quan chỉ huy nói. “Nhất là với một người ở cỡ như của cậu.”
- Phải chăng đã đến lúc phá vỡ các khuôn mẫu? Vả lại các vị vẫn nhắc nhở chúng tôi rằng lãnh đạo là phải như vậy.
- Nếu yêu cầu cậu hoàn thành nghĩa vụ bằng cách làm nhân viên của tôi, như vậy cậu có thể ở đây giúp tôi tuyển chọn tân binh được không?
- Để họ sang Việt Nam và chết ở đó hay sao? - Nat nhìn sĩ quan chỉ huy và cảm thấy ân hận mình đã đạt điểm quá cao.
- Cậu có biết người cuối cùng cũng ngồi đó cương quyết đòi sang Việt Nam mà tôi cũng chẳng làm thế nào thuyết phục được là ai không?
- Không, thưa ông.
- Đó là Daniel con tôi, - Tremlett nói. “Lúc đó tôi không còn cách nào khác là phải chấp nhận quyết định của nó.” Đại tá im lặng nhìn tấm ảnh trên bàn mà Nat không thấy được. “Nó chỉ sống được mười một ngày. “
*
GIẢNG VIÊN NỮ QUYẾN RŨ CON TRAI THƯỢNG NGHỊ SĨ, đó là dòng chữ trên trang đầu báo Tin tức New Haven.
- Một sự lăng nhục đáng ghét, - Jimmy nói.
- Cậu nói thế là sao? - Fletcher hỏi.
- Chính tớ quyến rũ cô ta chứ.
Fletcher cười, rồi đọc tiếp bài báo trên trang nhất.
“Joanna Palmer, giảng viên lịch sử châu Âu ở Yale, vừa bị Ủy ban đạo đức của trường đại học cắt hợp đồng, sau khi cô thừa nhận có quan hệ yêu đương với James Gates, sinh viên năm thứ nhất được cô giảng dạy sáu tháng qua. Gates là con trai Thượng nghị sĩ Harry Gates. Đêm qua, từ nhà cô đến Đông Hartford...
Fletcher nhìn lên. “Bố cậu nghĩ sao?”
- Ông ấy bảo rồi sẽ thắng to, - Jimmy nói. “Tất cả các nhóm nữ quyền đều ủng hộ Joanna, còn mọi anh đàn ông đều cho tớ là ngầu nhất kể từ sau cuốn phim Tốt nghiệp của Dustin Hoffman. Bố tớ cũng bảo cái Ủy ban đó không còn sự lựa chọn nào khác là phải đảo ngược quyết định trước khi học kỳ kết thúc.”
- Nếu không thì sao? - Fletcher hỏi, “Có cơ hội nào cho Joanna được có việc làm khác không?”
- Chuyện đó không thành vấn đề, - Jimmy đáp. “từ khi Ủy ban công bố quyết định, chuông điện thoại cô ta reo suốt. Cả Radcliffe là trường cô ấy học trước đây, và Columbia, nơi cô ấy hoàn thành luận án tiến sĩ, đều mời về làm việc. Đó là trước cuộc điều tra dư luận trên báo Ngày Nay cho thấy tám mươi hai phần trăm bạn đọc yêu cầu cho cô ấy được phục hồi.”
- Thế cô ấy định làm gì nữa?
- Kháng cáo. Tớ cũng đoán Ủy ban không thể phớt lờ dư luận được.
- Nhưng rồi cậu làm gì?
- Tớ vẫn muốn cưới Joanna, nhưng cô ấy bảo cứ chờ xem kết quả phán xét thế nào đã. Cô ấy chưa muốn đính hôn nếu điều đó ảnh hưởng có lợi cho Ủy ban. Cô ấy kiên quyết phải thắng trong vụ này chứ không dựa vào tình cảm công chúng.
- Đúng là cậu có được người đàn bà khác thường đấy,
- Fletcher nói.
- Phải, - Jimmy nói. “Nhưng cậu mới chỉ biết được một nửa.”