Những Đứa Con Của Số Phận

Lượt đọc: 16 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3

❊ ❊ ❊

Tên trung uý Cartwright đã được dán ở cửa phòng nhân sự trong Sở chỉ huy ngay cả trước khi cậu ta đến Sàigòn. Nat hiểu ngay mình sẽ phải ngồi lì ở bàn giấy, không được phép biết mặt trận là thế nào. Đến nơi rồi, cậu ta không được ra chiến trường với trung đoàn, mà được cử ngay vào bộ phận Dịch vụ hậu cần. Rõ ràng cậu chưa đáp xuống Sàigòn thì điện của Đại tá Tremlett đã đến trước.

Tên của Nat được ghi trên bảng thông tin hàng ngày là sĩ quan quân nhu, có nghĩa là người ở cấp trên cậu ta nhận giấy tờ, còn người ở cấp dưới thi hành mệnh lệnh. Tất cả đều nằm trong một kế hoạch để suốt ngày Nat chỉ có việc điền vào giấy tờ những mục như lương thực nấu nướng thể nào hoặc máy bay trực thăng Chinook sử dụng ra sao. Mỗi tuần có bảy trăm hai mươi hai tấn nhu yếu phẩm được đưa vào thành phố, và việc của Nat là xem những thứ đó có ra đến mặt trận hay không. Tháng nào cậu ta cũng phải giải quyết trên chín ngân thứ. Thứ nào cũng được chuyển ra mặt trận, trừ cậu ta. Nat chỉ còn biết ngủ với cô thư ký của sĩ quan chỉ huy, nhưng nhận ra ngay rằng Mollie chẳng tácđộng gì được đến thủ trưởng, mặc dầu biết cô ta cũng khá giỏi về tác chiến không vũ khí.

Sau đó cứ tối đến là Nat rời nhiệm sở, và bắt đầu tự hỏi chẳng biết có phải mình đang ở nước ngoài hay không. Bữa trưa ăn bánh mì cặp thịt, uống Coca với thịt gà rán Kentucky, bữa tối thêm chai bia Budweiser, sau đó trở về khu nhà sĩ quan xem Tin tức ABC và phim Đường hoàng hôn 77 chiếu lại, như vậy thì xa quê hương đến đây làm gì chứ?

Nat tìm nhiều cách để ra mặt trận với trung đoàn, nhưng cậu nhận ra Đại tá Tremlett đã tính toán hết mọi chỗ, vì thế mỗi lần đơn của cậu lại quay về bàn giấy với dòng chữ Đơn bị bác, một tháng nữa xin lại và đóng dấu.

Mỗi khi Nat yêu cầu được trao đổi vấn đề với sĩ quan tiền phương, cậu chẳng được gặp ai ở cấp sĩ quan tham mưu. Lần nào cũng có một sĩ quan khác ngồi nửa giờ để thuyết phục Nat rằng công việc hiện tại của cậu là quan trọng và cần thiết. Hồ sơ chiến đấu của cậu ở Sàigòn chẳng có nghĩa gì.

Nat dần hiểu ra rằng lập trường “nguyên tắc” của cậu là vô ích. Một tháng nữa, Tom sẽ bắt đầu vào năm học thứ hai ở trường Yale. Còn cậu chẳng có gì để khoe ngoài bộ tóc cắt cụt và kiến thức về nhưng giấy tờ mà quân đội yêu cầu cậu làm ở Việt Nam trong một tháng?

Nat ngồi văn phòng chuẩn bị nhận tân binh để báo cáo vào thứ Hai tới trong khi mọi thứ đều đã thay đổi.

Ăn ở, quân phục, giấy tờ đi lại, những thứ đó làm cậu bận từ sáng đến tối. Cái nào cũng có dấu Khẩn, còn sĩ quan chỉ huy thì cần được cậu thông báo cụ thể về mỗi chuyến tân binh đến Sàigòn. Nat không để ý công việc ấy mất bao nhiêu thì giờ, mỗi khi điền xong giấy tờ cậu quẳng nó sang văn phòng sĩ quan phụ tá rồi đi kiếm cái gì ăn ở khu nhà dành cho sĩ quan.

Khi đi qua phòng tác chiến, cậu bỗng cảm thấy bực bội. Hóa ra tất cả những gì đã được huấn luyện ở Trại Dix và Trại Benning đều hoàn toàn phí công. Lúc này đã gần tám giờ nhưng vẫn còn một số người cậu nhận ra đang cầm điện thoại và cắm đầu vào bản đồ tác chiến của Bắc Việt Nam.

Trên đường quay về văn phòng sĩ quan phụ tá, Nat rẽ vào phòng tác chiến xem có ai cùng đi ăn tối với mình không. Cậu nghe họ đang nói về hoạt động của quân tiểu đoàn hai, trung đoàn bộ binh dù 503. Nat đã định bỏ đi nếu đó không phải là trung đoàn của cậu. Tiểu đoàn hai đang gặp phải hỏa lực súng cối của Việt Cộng và bị dồn vào bên này sông Dinh, chờ một đợt tấn công khác. Chuông reo tới tấp ở điện thoại đỏ trên bàn trước mặt Nat.

Cậu đứng im không làm gì.

- Trung úy, ông đừng đứng im thế. Cầm điện thoại lên nghe xem họ nói gì đi chứ, - viên sĩ quan tác chiến nói.

Nat lập tức thi hành.

- Mayday, Mayday, Đại úy Tyler đây, nghe rõ không?

- Nghe rõ, Đại úy. Trung úy Cartwright đây. Tôi có thể làm được gì cho ông?

- Trung đội tôi bị Việt Cộng phục kích ngay ở đầu sông Dinh, xem điểm Đông Nam 42 Bắc Đông Bắc 71 trên bàn đó. Cần có ngay máy bay Huey với đầy đủ dụng cụ y tế. Tôi có chín mươi sáu người, mười một đã bị hạ, ba chết, tám bị thương.

Một sĩ quan phụ tá đến nghe điện thoại khác. “Phải gọi cấp cứu thế nào đây?” - Nat hỏi.

- Gọi căn cứ Chim Đen ở tiền phương Eisenhower. Cầm điện thoại trắng báo cho sĩ quan trực biết địa điểm.

Nat cầm lấy điện thoại trắng. Đầu dây có tiếng ngái ngủ đáp lại.

- Trung úy Cartwright đây. Có cuộc gọi khẩn. Hai trung đội bị kẹt ở phía bắc sông Dinh, điểm Đông Nam 42 Bắc Đông Bắc 71 trên bản đồ. Họ bị phục kích, yêu cầu cấp cứu.

- Bảo họ năm phút nữa chúng tôi đến ngay, - giọng nói lúc này đã hoàn toàn tỉnh táo.

- Tôi cùng đi được không? - Nat hỏi, úp tay vào miệng ống nói, bụng chỉ sợ bị bác.

- Ông được phép ngồi trực thăng Huey không?

- Được, - Nat nói dối.

- Có kinh nghiệm nhảy dù không?

- Được huấn luyện ở Trại Benning, - Nat đáp. “Mười sáu lần nhảy từ S- 123 ở độ cao sáu trăm bộ. Dù sao đó cũng chính là trung đoàn của tôi.”

- Vậy nếu ông có thể kịp đến điểm tập kết, Trung úy, tôi sẽ cho ông đi cùng.

Nat đặt điện thoại trắng xuống, chuyển sang điện thoại đỏ. “Đại úy, họ đang trên đường.” Cậu chỉ biết trả lời có thế.

Nat chạy ra khỏi phòng tác chiến vào khu đỗ xe. Một hạ sĩ trực đang ngủ sau tay lái chiếc xe Jeep. Nat nhảy vào ngồi, đưa tay bấm còi nói: “Căn cứ Chim Đen trong năm phút.”

- Nhưng đây đến đó những bảy tám cây số, thưa ông, - lái xe nói.

- Vậy phải đi nhanh lên chứ, hạ sĩ? - Nat quát to.

Viên hạ sĩ mở máy, cài số, cho xe vọt ra khỏi chỗ đỗ, bật đèn, một tay bấm còi, một tay lái. “Nhanh hơn nữa, nhanh hơn nữa,” Nat nói. Những người còn đi trên phố Sàigòn sau giờ giới nghiêm chạy dạt sang bên đường, đám gà nháo nhác. Ba phút sau, Nat nhìn thấy hơn chục chiếc trực thăng Huey ở phía trước. Một chiếc đã bắt đầu khởi động.

- Anh xuống đi, - Nat nói.

- Đến sân rồi, thưa ông, - viên hạ sĩ đáp lúc xe qua cổng. Nat đếm lại. Bảy chiếc trực thăng đã bắt đầu cho cánh quạt quay.

- Cứt thật, - cậu ta nói khi chiếc đầu cất cánh.

Chiếc xe Jeep phanh rít trước cửa một ngôi nhà. Một quân cảnh ra hỏi giấy tờ.

- Tôi phải lập tức lên ngay một chiếc, - Nat vừa nói vừa chìa giấy. “Anh mau lên.”

- Tôi chỉ làm nhiệm vụ, thưa ông, - tay quân cảnh nói và xem giấy tờ của hai người.

Được trả lại giấy tờ rồi, Nat chỉ tay vào một chiếc trực thăng còn chưa quay cánh quạt. Viên hạ sĩ phóng xe ra đó, phanh lại trước cửa máy bay vừa lúc cánh quạt bắt đầu quay.

Viên phi công nhìn xuống cười. “Trung úy, ông đến vừa kịp. Mời ông trèo lên đi.” Chiếc trực thăng lên khỏi mặt đất mà Nat chưa kịp móc dây an toàn vào mình. “Ông muốn nghe tin tốt hay tin xấu?” viên phi công hỏi,

- Nghe, - Nat đáp.

- Cái lệ của mọi trường hợp khẩn cấp đều như nhau. Lên khỏi mặt đất sau cùng thì hạ cánh xuống đất địch trước tiên.

- Còn tin xấu là gì?

 

*

 

- Em lấy anh không? - Jimmy hỏi.

Joanna quay nhìn con người trong năm qua đã đem hạnh phúc đến cho cô nhiều hơn là cô tưởng có thể có được. “Nếu khi nào tốt nghiệp anh vẫn hỏi câu đó, em sẽ trả lời là có, nhưng hôm nay thì câu trả lời là không.”

- Nhưng tại sao chứ? Trong thời gian một hai năm thì cái gì có thể thay đổi được?

- Anh sẽ già hơn một chút, và hy vọng sẽ khôn ngoan hơn, - Joanna cười đáp. “Em đã hai mươi lăm, còn anh chưa đến hai mươi.”

- Cái đó có khác gì đâu nếu chúng ta muốn sống suốt đời với nhau?

- Có thể anh sẽ không nghĩ thế lúc em đã năm mươi tuổi, còn anh chỉ mới bốn mươi lăm.

- Em nhầm rồi, - Jimmy nói. “Đến tuổi năm mươi, em mới bước vào thời kỳ tốt đẹp nhất, còn anh lúc đó đã là một tên bại hoại. Vậy em nên nắm lấy khi anh còn chút năng lượng trong người.

Joanna cười. “Anh sinh viên năm thứ nhất, anh đừng quên rằng những gì chúng ta vừa sống trong mấy tuần qua đã đủ tác động đến cách nghĩ của anh rồi đó.”

- Anh không đồng ý. Anh tin rằng kinh nghiệm chỉ tăng cường cho quan hệ chúng ta thôi.

- Có thể, - Joanna nói. “Nhưng về lâu dài, anh không bao giờ có thể đảo ngược cái tốt cái xấu, vì một trong hai chúng ta sẽ nghĩ khác khi mọi cái đều đổ vỡ.”

- Em đã nghĩ khác rồi sao? - Jimmy khẽ hỏi.

- Không, - Joanna đưa tay sờ lên má Jimmy. “Nhưng cha mẹ em đã lấy nhau gần ba chục năm, ông bà em còn kỷ niệm ngày cưới vàng, vì vậy khi lấy chồng em muốn là cuộc hôn nhân cho cả đời.”

- Càng là lý do để chúng ta lấy nhau càng sớm càng tốt, - Jimmy nói. “Dù sao anh cũng sẽ phải sống đến tuổi bẩy mươi để chúng ta được kỷ niệm ngày cưới vàng.”

Joanna lại cười. “Em đánh cuộc là anh bạn Fletcher của anh cũng nhất trí với em.”

- Có thể em đúng, nhưng em có lấy Fletcher đâu. Dù thế nào anh cũng đánh cuộc rằng hắn và em gái anh sẽ sống với nhau ít nhất năm chục năm.

- Anh sinh viên năm thứ nhất ơi, em sẽ không thể yêu anh nếu em muốn thế. Anh nên nhớ mùa thu tới em sẽ về trường Columbia, còn anh thì lúc đó vẫn ở trường Yale.

- Nhưng em còn có thể thay đổi ý kiến, nhận việc ở Columbia.

- Không, đó chỉ là dư luận chung đã buộc ban lãnh đạo ở trường phải đảo ngược quyết định thôi. Nếu anh nhìn nét mặt của họ lúc tuyên án, anh sẽ thấy ngay họ không thể nào mong em quay lại. Anh sinh viên năm thứ nhất ơi, chúng ta đã thắng rồi, nhưng nếu em ra đi sẽ tốt cho mọi người hơn.

- Không phải mọi người đâu, - Jimmy khẽ đáp.

- Vì một khi em không còn đó nữa, họ sẽ dễ sửa đổi điều lệ hơn, - Joanna nói, bất chấp ý kiến của Jimmy.

“Trong vòng hai chục năm tới, các sinh viên sẽ không bao giờ còn thấy tồn tại những điều lệ quái gở ấy nữa.”

- Vậy anh sẽ phải kiếm cái vẻ khứ hồi đi New York, vì anh không thể xa em được.

- Em sẽ ra ga đón anh, anh sinh viên năm thứ nhất ạ. Nhưng trong khi xa nhau, em mong anh sẽ kiếm những người đàn bà khác. Rồi đến ngày anh tốt nghiệp, nếu anh còn nghĩ đến em như bây giờ, em sẽ sung sướng nhận lời. - Joanna vừa nói đến đây thì chuông đồng hồ reo.

- Thôi chết! - Jimmy kêu lên và nhảy ra khỏi giường.

“Anh vào phòng tắm trước được không? Chín giờ đã phải nghe bài giảng mà chưa biết giảng vấn đề gì đây.”

- Napoleon và ảnh hưởng của ông với sự phát triển của luật pháp Mỹ, - Joanna nói.

- Anh tưởng em đã nói luật pháp Mỹ chịu ảnh hưởng của La Mã và Anh hơn bất cứ nước nào khác.

- Cho anh nửa điểm, anh sinh viên năm thứ nhất ạ, nhưng anh còn cần dự buổi giảng chín giờ của em nếu anh muốn biết tại sao. Nhân đây, nhờ anh giúp em hai việc được không?

- Chỉ hai việc thôi sao? - Jimmy hỏi, tay mở vòi nước.

- Mỗi khi em giảng bài, anh đừng nhìn em như nhìn con chó con được không?

Jimmy thò đầu ra cửa. - “Không”, cậu ta đáp và nhìn Joanna đang cởi áo ngủ. “Còn việc thứ hai là gì?”

- Anh có thể ít nhất cũng chú ý đến những gì em nói và thỉnh thoảng ghi chép được không?

- Tại sao anh phải ghi chép trong khi chính em chấm điểm cho anh?

- Vì anh sẽ không bằng lòng với điểm em chấm, Joanna nói và theo cậu vào phòng tắm.

- Ôi, anh hy vọng được điểm A cho bài đó, - Jimmy vừa nói vừa bắt đầu xoa xà phòng lên ngực cô.

- Anh có nhớ ai đã có ảnh hưởng lớn nhất đối với Napoleon không?

- Josephine, - Jimmy đáp ngay.

- Trả lời đó có thể đúng, nhưng sao bài của anh không viết thế?

Jimmy bước ra ngoài lấy khăn, rồi quay lại hỏi: “Anh đã viết gì?”

- Anh lại viết là Joanna.

 

*

 

Chỉ trong vài phút, cả mười chiếc trực thăng đã bay theo đội hình chữ V. Nat nhìn hai tay súng ngồi phía sau đang chăm chăm theo dõi đêm tối. Cậu lắp ống lên tai nghe trung úy lái máy bay.

- Chim Đen Một gọi. Bốn phút nữa chúng tôi ra khỏi vùng trời đồng minh. Sẽ đến nơi vào hai mươi mốt giờ.

Nat ngồi thẳng đuỗn nghe viên phi công trẻ nói. Cậu nhìn qua cửa sổ thấy những vì sao chưa bao giờ thấy ở châu Mỹ. Lúc bay gần đến phòng tuyến địch, cậu cảm thấy hồi hộp ghê gớm. Cuối cùng cậu thấy mình là một phần của cuộc chiến tranh khốn kiếp này. Chỉ hơi ngạc nhiên sao mình không thấy sợ. Có lẽ chốc nữa sẽ biết sợ là gì.

- Chúng ta đang vào đất địch, - trung úy phi công nói lúc máy bay qua một đoạn đường có người. “Chỉ huy mặt đất có nhận không?”

Có tiếng lạo xạo, rồi một giọng đáp: “Nghe thấy rồi, Chim Đen Một. Đang ở vị trí nào đấy?” - Nat nhận ra giọng miền Nam lè nhè của Đại úy Dick Tyler.

- Chúng tôi đang ở khoảng năm dặm về phía Nam các bạn.

- Nghe rõ. Mong gặp nhau trong mười lăm phút nữa.

- Nghe rõ. Các bạn sẽ không nhìn thấy chúng tôi vào lúc cuối cùng, vì chúng tôi tắt hết đèn ngoài.

- Nghe rõ. - Giọng lè nhè đáp.

- Biết chỗ nào có thể hạ cánh được không?

- Có một khoảng đất trống ở phía dưới chỗ chúng tôi, - Tyler đáp. “Nhưng mỗi lần chỉ một chiếc xuống được thôi. Trời đang mưa, lại có bùn, hạ cánh rất khó đấy.”

- Vị trí các bạn hiện đang ở đâu?

- Tôi vẫn đang ở chỗ đã nói, phía Bắc sông Dinh, - Tyler ngừng một lát nói tiếp: “Tôi chắc Việt Cộng đã bắt đầu qua sông.”

- Các anh còn bao nhiêu người?

- Bảy mươi tám. - Nat biết quân số của hai trung đội là chín mươi sáu. “Bao nhiêu xác?” viên trung úy phi công hỏi, y như hỏi đại úy cần bao nhiêu quả trứng để ăn sáng.

- Mười tám.

- Được rồi, hãy sẵn sàng cho sáu người và hai xác lên mỗi máy bay. Nhớ khi trông thấy tôi là phải chắc chắn trèo được lên máy bay.

- Chúng tôi sẵn sàng, - đại úy đáp. “Đồng hồ các anh mấy giờ?

- Hai mươi giờ ba mươi ba phút, - trung úy phi công

- Vậy đến hai mười giờ bốn tám, tôi sẽ phóng pháo hiệu đỏ.

- Hai mươi giờ bốn tám, pháo hiệu đỏ, - trung úy phi công nhắc lại. “Nghe rõ. Hết.”

Nat rất xúc động trước thái độ điềm tĩnh của trung úy phi công, vì hai mươi phút nữa anh ta cùng phi công phụ và hai tay súng ngôi sau có thể chết. Nhưng Đại tá Tremlett thường nói những con người điềm tĩnh có thể cứu được nhiều mạng sống hơn những con người dũng cảm. Mười lăm phút sau đó không ai nói gì. Lúc này Nat mới suy nghĩ về quyết định của mình. Hai mươi phút nữa, cậu cũng có thể chết chăng?

Thế là Nat chịu đựng mười lăm phút dài nhất trong đời. Cậu nhìn xuống những cánh rừng rậm chỉ le lói nửa vầng trăng trong khi vẫn duy trì đài liên lạc. Lúc máy bay lướt trên ngọn cây, cậu quay nhìn hai tay súng ngồi phía sau. Họ đã giương súng, ngón tay đặt vào cò, sẵn sàng với bất cứ tình hình nào. Nat lại nhìn ra cửa sổ bên cạnh bỗng thấy pháo hiệu đó bắn lên trời. Cậu chợt nghĩ đáng lẽ lúc này mình đã đang ngồi uống cà-phê ở căng- tin sĩ quan rồi.

- Chim Đen Một đang đến đây, - phí công nói trên đài.

“Ba mươi giây trước khi đến chỗ hẹn đừng bật đèn dưới bụng. Nhớ là tôi xuống trước nhé.”

Một vết đạn sáng xanh bắn đến trước buồng lái. Hai tay súng ngồi sau lập tức đáp lại.

- Việt Cộng đã nhận ra chúng ta, - phi công đầu nói gấp. Anh ta nghiêng máy bay sang phải, và lần đầu tiên Nat trông thấy địch. Quân Việt Cộng đang tiến lên đồi, chỉ cách chỗ trực thăng hạ cánh vài trăm thước.

 

*

 

Fletcher đọc bài báo trên tờ Bưu điện Washington. Đó là một câu chuyện dũng cảm khiến dư luận công chúng chú ý về một cuộc chiến tranh không ai muốn biết. Một toán bộ binh bảy mươi tám người bị dồn vào rừng sâu ở Việt Nam chống lại số quân Việt Cộng đông hơn, được đội máy bay trực thăng đến cứu ngay tại một trận địa nguy hiểm đầy hỏa lực địch. Fletcher giở trang sau xem chi tiết. Trung úy phi công Chuck Philips là người đầu tiên cho máy bay xuống sát mặt đất để cứu nửa số người bị kẹt. Fletcher chú ý đến một sĩ quan khác, Trung úy Cartwright, đã nhảy ra lúc máy bay chúc xuống rồi lại lao lên ngay nhường chỗ cho máy bay thứ hai xuống tiếp.

Trong số xác trên chiếc trực thăng thứ ba có sĩ quan chỉ huy là đại úy Dick Tyler. Trung úy Cartwright đã lập tức nắm quyền chỉ huy phản công quân địch trong khi đó kết hợp giải cứu tất cả những người khác. Anh ta cũng là người cuối cùng rời chiến trường và trèo lên chiếc trực thăng còn lại. Cả mười hai chiếc trực thăng quay về Sàigòn nhưng chỉ có mười một chiếc hạ cánh xuống căn cứ Eisenhower,

Thiếu tướng Hayward đã lập tức phái quân cứu viện. Cả mười một phi công đã quay về tự nguyện bổ đi tìm chiếc Huey mất tích, nhưng những phi vụ liên tiếp trên đất địch vẫn không sao tìm ra con Chim Đen thứ mười hai. Hayward còn mô tả Nat Cartwright, một quân nhân mới rời trường Đại học Connecticut ở năm học thứ nhất, như một tấm gương cho mọi người Mỹ với tinh thần “tận tụy hết mức” như Lincoln trước đây đã nói. Hayward còn tuyên bố: “Sống chết cũng phải tìm được anh ta.”

Sau khi xem tiểu sử và được biết Cartwright sinh cùng ngày, cùng nơi, cùng bệnh viện với mình, Fletcher đã sục tìm trong tất cả các báo những bài nào viết về anh ta.

 

*

 

Nat nhảy ra khỏi chiếc trực thăng thứ nhất trong khi nó vẫn bay là là gần mặt đất. Cậu giúp đại úy Tyler đưa tốp người đầu tiên lên máy bay trong khi đạn và súng cối ào ào bắn tới.

- Anh coi chỗ này nhé, - Tyler nói. “Tôi quay lại thu xếp để mỗi lần đưa ra được sáu người.”

- Đi đi, - Nat gào lên vừa lúc chiếc trực thăng thứ nhất nghiêng sang trái vọt lên trời. Chiếc thứ hai lao xuống. Mặc dầu lửa đạn liên tục bắn tới, Nat vẫn bình tĩnh cho tốp thứ hai trèo lên. Cậu nhìn xuống chân đồi thấy Dick Tyler vừa chỉ huy quân phía sau chống cự vừa ra lệnh cho tốp khác chạy đến chỗ Nat. Nat quay lại thấy chiếc trực thăng thứ ba đã tới đang lơ lửng trên khoảng đất bùn. Một hạ sĩ cùng năm lính chạy tới trèo lên.

Viên hạ sĩ bỗng quay lại kêu: “Chết rồi! Đại úy bị trúng đạn.”

Nat nhìn ra thấy Tyler đã nằm úp mặt xuống bùn. Hai lính nâng anh ta dậy đưa ngay đến chiếc trực thăng đang chờ.

- Hạ sĩ, anh coi chỗ này nhé, - Nat nói rồi chạy đến bìa rừng. Cậu giật khẩu M60 ở tay đại úy và bắn lia lịa ra chung quanh để yểm trợ, tiếp đó đưa thêm sáu người lên chiếc trực thăng thứ tư. Đứng đó hai mươi phút, Nat tiếp tục đẩy lui các đợi tiến công của Việt Cộng. Số người còn lại ít dần vì đã được đưa lên máy bay để những chiếc khác vào tiếp.

Sáu người cuối cùng chờ con Chim Đen thứ mười hai bổ tới. Nat đang quay người chạy lên bỗng bị một viên đạn bắn trúng chân. Cậu biết mình đau nhưng cứ chạy, vừa chạy vừa bắn trả lại. Đến cửa máy bay cậu nghe hạ sĩ hét to: “Thôi, mời ông lên máy bay cho.”

Viên hạ sĩ kéo cậu lên. Nhưng chiếc trực thăng bỗng chúi mũi, đảo nghiêng và hất Nat bắn ra ngoài trước khi nó vội bay tiếp.

- Anh có sao không? - viên phi công cứu nạn lên tiếng hỏi.

- Có lẽ không sao, - Nat đáp. Cậu thấy mình đang nằm đè lên xác một binh nhì.

Quân đội là thế, chả biết ai sống ai chết. Nhờ số phận cả thôi, cậu nói. “Nhưng dù sao cũng phải về kịp bữa sáng.

Nat nhìn xác người lính lúc nãy đứng cạnh mình. Cậu nghĩ gia đình sẽ dự đám tang anh ta, chứ không chỉ được báo tin suông là đã lặng lẽ chết ở một vùng đất xa lạ nào đó.

- Cầu Chúa phù hộ, - bỗng nghe viên phi công nói.

- Có vấn đề gì không? - Nat hỏi.

- Có đây. Chúng ta hết xăng rồi. Có lẽ bọn khốn kiếp đã bắn trúng thùng nhiên liệu.

- Tôi tưởng máy bay này có hai thùng xăng chứ, - Nat

- Ông có biết lúc ra đi tôi đã phải dùng đến mức nào không?

Viên phi công gõ vào thùng xăng và kiểm tra đồng hồ. Đèn đỏ cho thấy chỉ bay được ba chục cây nữa là hết. Anh ta quay lại nhìn Nat vẫn nằm đè lên xác người lính, tay bám chặt vào cửa. “Tôi phải xem có chỗ nào hạ cánh được không đây.”

Nat nhìn ra ngoài chỉ thấy rừng rậm mênh mông.

Viên phi công bật sáng cả mấy ngọn đèn, tìm một quãng trống. Máy bay bỗng rung lên. “Tôi xuống đây nhé,” viên phi công bình tĩnh nói. “Có lẽ chúng ta phải hoãn bữa sáng mất thôi.”

- Sang phải đi, - Nat kêu lên vì vừa trông thấy một quãng rừng trống.

- Tôi thấy rồi, - viên phi công đảo trực thăng về phía đó nhưng máy bay không chịu nghe. “Được hay không cũng cứ xuống đã.”

Cánh quạt từ từ chậm lại như không muốn quay nữa. Nat nghĩ đến mẹ, cảm thấy có lỗi vì đã không nghe lời mẹ trong thư, nghĩ đến cha đã tự hào về mình, nghĩ đến Tom vừa thắng trong bầu cử vào hội đồng sinh viên trường Yale, không biết cậu ta có được làm Chủ tịch không? Rồi nghĩ đến Rebecca, người cậu vẫn yêu và không biết sau này còn yêu không. Tay bám chặt vào cửa máy bay, Nat chợt cảm thấy mình còn rất trẻ. Dù sao cậu chỉ mới mười chín tuổi. Rồi nghĩ viên trung úy phi công có tên Chim Đen số Mười Hai kia cũng chỉ hơn mình một tuổi.

Cánh quạt đã dừng hẳn. Máy bay lặng lẽ trườn về phía rừng cây. Viên phi công nói: “Thưa ông, trường hợp chúng ta không còn gặp lại nhau nữa, xin tự giới thiệu, tên tôi là Speck Foreman. Hân hạnh được biết ông”

Hai người bắt tay, đúng như người ta thường làm sau mỗi trận đấu.

 

*

 

Fletcher ngắm bức ảnh Nat trên trang nhất Thời báo New York dưới dòng chữ MỘT ANH HÙNG MỸ. Vừa nhận được giấy gọi quân dịch, anh ta đã trình diện ngay mặc dầu có nhiều lý do để xin miễn trừ. Anh ta được đề bạt chuẩn úy và sau đó là sĩ quan chỉ huy cuộc hành quân cứu viện cho một trung đội bị kẹt bên bờ sông Dinh.

Không ai giải thích nổi một sĩ quan non trẻ lại có thể làm được một chiến công như vậy với chiếc trực thăng hoạt động ở tiền tuyến.

Fletcher nghĩ bụng suốt đời cậu sẽ chẳng sao hiểu nổi mình đã quyết định như thế nào khi nhận được chiếc phong bì màu nâu ở hộp thư. Chỉ có những ai đã qua thử thách mới trả lời được. Ngay cả Jimmy cũng thừa nhận trung úy Cartwright là một con người khác thường. Cậu ta nói “nếu chuyện đó xảy ra trước cuộc bầu cử thì cậu đã có thể đánh bại Tom Russell. Vấn đề chỉ là chọn đúng lúc thôi.”

- Không, tớ chả thắng được đâu, - Fletcher nói.

- Tại sao không? - Jimmy nói.

- Thế mới lạ, - Fletcher đáp. “Vì hắn là bạn thân nhất của Tom.”

 

*

 

Cả toán mười một chiếc trực thăng đã quay lại tìm người mất tích, nhưng chỉ một tuần sau mới đem về được xác chiếc máy bay mà họ cho rằng đã đâm vào cây và nổ tung. Ba xác được nhận diện. Một là của trung úy phi công Carl Mould. Tìm mãi vẫn không thấy dấu vết nào của trung úy Cartwright hoặc hạ sĩ Speck Foreman.

Cố vấn an ninh Henry Kissinger đề nghị cả nước truy điệu và tuyên dương những người đã nêu gương dũng cảm trên chiến trường.

- Ông ta không nên nói truy điệu, - Fletcher nói.

- Tại sao không? - Jimmy hỏi.

- Vì Cartwright còn sống.

- Sao cậu biết chắc như vậy?

- Tớ cũng chả biết tại sao mình biết, - Fletcher đáp. “Nhưng tớ đoán chắc với cậu là anh ta còn sống.”

 

*

 

Nat không nhớ đã đâm vào cây như thế nào, hay bị văng từ trực thăng ra ngoài. Lúc cậu ta tỉnh dậy, mặt trời đã chiếu rát mặt. Cậu nằm đó, không biết đây là đâu. Dần dần giờ phút bi đát trở lại trong đầu.

Hình như lúc trước đã có ai cầu Chúa. Cậu thử nhấc tay phải. Thấy cử động được, cậu ngọ nguậy năm ngón tay. Rồi hạ xuống và thử nhấc tay trái. Cũng thế. Vậy là não vẫn còn điều khiển. Cậu bỏ tay xuống, từ từ nhấc chân phải và ngọ nguậy ngón chân. Đến lúc nhấc chân trái mới thấy đau.

Câu thử ngoẹo đầu sang hai bên rồi đặt hai bàn tay xuống mặt đất. Cầu nguyện rồi chống tay từ từ ngồi dậy. Chờ cho cây cối trước mắt hết quay cuồng, cậu mới thử đứng lên. Câu thứ đi lên một bước như đứa trẻ mới tập. Không thấy ngã, cậu bước tiếp. À, được rồi. Xin cảm ơn. Nhưng rồi cậu lại thấy đau. Vừa rồi chỉ bị tê thôi.

Cậu quỳ xuống nhìn chân trái xem viên đạn xuyên vào chỗ nào. Mấy con kiến đang bò ra bò vào quanh vết thương. Chúng không biết cậu còn sống. Nat bắt mấy con kiến vứt đi, rồi xé mảnh tay áo băng bó. Cậu ngửng lên nhìn mặt trời đang lặn xuống sau đồi. Cậu nhìn quanh xem còn đồng đội nào sống sót không.

Cậu đứng dậy đi một vòng. Thấy trong rừng có khói, cậu đứng lại. Cậu bắt đầu tập tễnh về phía đó. Bỗng vấp phải xác viên phi công đã cháy xém, cậu nôn mửa. Không biết tên anh ta là gì. Chiếc áo còn mắc trên cành cây. Cậu chỉ nhận ra anh ta khi trông thấy quân hàm trên vai áo. Nat sẽ tìm cách chôn cất cho anh ta, nhưng lúc này cậu phải đi tiếp kẻo tối. Cậu chợt nghe có tiếng rên rỉ.

- Ở đâu thế? - Nat lên tiếng. Tiếng rên to hơn. Nat quay lại trông thấy thân hình to lớn của hạ sĩ Foreman nằm kẹt trên cành cây gần xác máy bay. Cậu bước đến gần. Tiếng rên to hơn trước. “Anh nghe được không?” Nat hỏi. Anh ta mở mắt. Nat bế anh ta xuống. Anh ta lại nhắm mắt. Nat nói: “Anh yên tâm, tôi sẽ đưa anh về.” Nat rút chiếc la bàn ở thắt lưng hạ sĩ rồi nhìn lên mặt trời, bỗng lại thấy một vật gì đó trên cây. Cậu chưa biết làm thế nào lấy xuống. Cậu lê đến gốc cây, co một chân nhảy lên với tay vào cành cây, rung mạnh cho rơi xuống. Rung mãi không được cậu đã định thôi nhưng lại cố lần nữa. Cuối cùng vật đó suýt rơi vào đầu vì Nat chỉ có thể tránh chứ không nhảy ra được.

Nat ngồi thở một lúc rồi khẽ nâng viên hạ sĩ ngồi dậy đặt vào cáng. Rồi cậu ngồi lại nhìn mặt trời lặn dần sau ngọn cây, coi như làm xong nhiệm vụ trong ngày ở vùng đất quái lạ này.

Cậu đã đọc ở đâu đó câu chuyện về một bà mẹ cố giữ cho con sống sau vụ đâm xe bằng cách suốt đêm ngồi nói chuyện với con. Suốt đêm đó, Nat cũng nói chuyện với viên hạ sĩ.

 

*

 

Fletcher đọc báo nhưng không sao tin được chuyện những người nông dân địa phương đã giúp trung úy Nat Cartwright kéo lê chiếc cáng qua hết làng này đến làng khác, đi hơn hai trăm cây số, sau mười bảy ngày đêm mới về đến ngoại ô thành phố Sàigòn, và hai người lập tức được vào bệnh viện tiền phương gần đó nhất.

Ba ngày sau, hạ sĩ Speck Foreman qua đời. Anh ta sẽ không bao giờ biết được tên người trung úy đã cứu mình và bản thân cậu ta cũng đang vật lộn với mạng sống.

Fletcher vẫn theo dõi từng mẩu tin về trung úy Cartwright, nhưng không lúc nào hết tin rằng cậu ta còn sống.

Một tuần sau, Nat được đưa về Trại Jama ở Nhật Bản, được giải phẫu để cứu chiếc chân bị thương. Một tháng sau, cậu được đưa về nước, vào Trung tâm Y tế Walter Reed của quân đội ở thủ đô Washington để phục hồi sức khỏe.

Lần Fletcher thấy lại Nat Cartwright là trang nhất Thời báo New York đăng ảnh cậu ta bắt tay Tổng thống Johnson tại Vườn Hồng ở Nhà Trắng.

Cậu ta được thưởng Huân Chương Danh Dự.

 

 

15

 

Michael và Susan Cartwright không ngờ được đến thăm Nhà Trắng để chứng kiến cậu con trai duy nhất nhận Huân chương Danh Dự ở Vườn Hồng. Sau lễ trao tặng, Tổng thống Johnson nghe cha Nat nói việc những người Mỹ gặp nhiều khó khăn khi đến tuổi mười chín mà không được bảo hiểm nhân thọ. Sáng hôm sau, LBJ (tức Tổng thống Johnson) nói với Chính phủ: “ Thế kỷ tới, những người Mỹ về hưu sẽ được hưởng quyền lợi như khi họ còn làm việc”.

Trên đường trở về Cromwell, mẹ Nat hỏi cậu có kế hoạch gì cho tương lai không.

- Chưa biết được, vì tương lai không nằm trong tay con, - cậu đáp. “Con đã được lệnh thứ Hai này đến Trại Benning. Đến đó mới biết Đại tá Tremlett tính chuyện của con như thế nào.”

- Lại uổng phí một năm nữa, - mẹ nói.

- Đó là xây dựng tính cách, - cha nói, trong bụng còn hồ hởi về cuộc nói chuyện với Tổng thống.

- Tôi nghĩ Nat chẳng cần đến thứ đó, - mẹ nói.

Nat mỉm cười nhìn ra cửa ngắm phong cảnh Connecticut. Khi còn kéo lê chiếc cáng mười bảy ngày đêm, không được ngủ mấy chốc, cũng không được ăn mấy chút, cậu ta nghĩ chẳng hiểu mình còn được trông thấy quê nhà nữa không. Cậu nghĩ đến những lời mẹ nói và thấy mẹ nói đúng. Cậu càng bực mình nghĩ đến chuyện đã bỏ phí một năm ở quân đội mà chỉ có mỗi việc ra chào vào chào trước giờ tập luyện. Các sĩ quan cao cấp cũng đã nói sẽ không để cậu trở lại Việt Nam, vì như vậy uổng phí cuộc đời của một trong số những anh hùng nổi tiếng nước Mỹ.

Bữa ăn tối hôm đó, sau khi nhắc lại cuộc trò chuyện với Tổng thống, cha yêu cầu Nat kể cho nghe những chuyện ở Việt Nam.

Nat bỏ ra hơn một giờ mô tả lại thành phố Sàigòn, nông thôn và nhân dân, nhưng ít nhắc đến công việc của cậu là sĩ quan quân nhu. Cậu kể với cha mẹ: “Người Việt Nam họ cần cù và rất thân thiện. Hình như họ hài lòng với sự có mặt của ta ở đó. Nhưng cả hai phía chẳng một ai tin rằng ta có thể ở đó được mãi. Con e rằng lịch sử sẽ thấy chuyện này là rất vô lý, và một khi kết thúc rồi, chuyện này sẽ nhanh chóng phai mờ trong tâm lý cả nước.” Cậu quay sang cha: “Ít nhất thì chiến tranh phải có mục đích gì chứ.” Mẹ gật gù tán thành, nhưng Nat ngạc nhiên thấy cha không có quan điểm gì khác.

Trong ký ức, con có gì đặc biệt đáng nhớ không? - mẹ hỏi, hy vọng cậu sẽ kể lại cuộc sống ngoài mặt trận.

- Có. Đó là sự bất bình đẳng của con người.

Nhưng chúng ta đã làm mọi thứ có thể để giúp người dân Nam Việt Nam kia mà, - cha nói.

- Cha ạ, con không nói người Việt Nam, - Nat đáp. “Con nói cái mà Kennedy mô tả là ‘đồng bào Mỹ của tôi’ ấy.

- Đồng bào Mỹ ư? - mẹ hỏi lại,

- Phải, vì điều con nhớ hơn cả là cách đối xử của ta với dân thiểu số nghèo khó, nhất là dân da đen. Họ có rất nhiều người phải ra chiến trường chỉ vì lý do là không đủ tiền thuê luật sư để chỉ cho họ cách trốn quân dịch.

- Nhưng bạn thân của con...

- Con biết, - Nat nói. “Con mừng cho Tom là đã không ra trình diện, nếu không nó cũng rất có thể chịu chung số phận như Dick Tyler.”

- Vậy con tiếc là đã quyết định như thế? - mẹ khẽ hỏi.

Nat nghĩ một lát mới trả lời. “Không, nhưng con thường nghĩ đến Speck Foreman. Vợ con anh ta ở Alabama vẫn không hiểu cái chết của anh ta phục vụ cho cái gì.”

Sáng hôm sau Nat dậy sớm đi chuyến xe lửa đầu tiên đến Trại Benning. Cậu nhìn đồng hồ lúc đầu tàu tiến vào ga Columbus. Còn một giờ nữa mới gặp đại tá, vì vậy cậu đi bộ hơn hai cây số đến học viện. Trên đường, cậu luôn tự nhủ mình vẫn ở căn cứ quân sự nên phải chào lại tất cả những ai ở dưới cấp đại úy. Một số mỉm cười khi họ nhìn thấy tấm huân chương danh dự trên ngực Nat, vì nếu là anh hùng trong trận đấu bóng ở trường họ cũng có thể được huân chương ấy.

Nat đứng bên ngoài văn phòng đại tá Tremlett mười lăm phút trước giờ hẹn.

- Chào đại úy Cartwright. Đại tá bảo tôi nếu thấy anh thì đưa thẳng đến văn phòng, - một phụ tá trẻ tuổi nói.

Nat vào phòng đại tá, đứng nghiêm chào. Từ sau bàn Tremlett bước đến vòng tay ôm Nat. Viên phụ tá ngạc nhiên vì anh ta nghĩ chỉ có sĩ quan quân đội Pháp mới chào nhau bằng cách đó. Quay về bàn Tremlett mở một hồ sơ dầy xem. “Nat, anh có ý kiến năm tới sẽ làm gì không?”

- Thưa ông không, nhưng vì không được phép sang Việt Nam nữa, tôi sẵn sàng làm theo ý kiến trước đây của ông, tức ở lại học viện giúp ông trong việc tuyển quân.

- Việc đó đã có người làm rồi, - Tremlett nói. “Và tôi cũng không chắc về lâu dài việc đó còn thích hợp với anh nữa.”

- Ông còn ý kiến gì khác chăng? - Nat hỏi.

- Anh đã hỏi thì tôi nói để anh biết, - đại tá đáp. “Khi tôi biết tin anh về nước, tôi đã điện hỏi ý kiến các luật sư hàng đầu học viện. Bình thường tôi không ưa gì các luật sư vì họ chỉ biết cãi nhăng ở tòa án. Nhưng bây giờ tôi phải công nhận một người trong số họ đã có sáng kiến rất hay.” Nat không phát biểu gì, cậu chỉ muốn biết đại tá đang nghĩ gì. “Luật lệ và điều lệnh có thể hiểu nhiều cách. Nếu không các luật sư biết làm gì khác?” đại tá nói. “Năm trước đây, anh ra trình diện mà không thắc mắc gì, do đó anh được phái sang Việt Nam. Lạy Chúa, hóa ra là tôi sai.”

Nat định lên tiếng bảo ông nói tiếp, nhưng cậu tự kiềm chế.

- À, tôi quên chưa mời anh uống cà-phê.

- Cảm ơn ông, tôi không uống. - Nat cố không tỏ ra sốt ruột.

Đại tá mỉm cười. “Tôi uống vậy.” Ông nhấc điện thoại. “Dan, cho tôi cốc cà-phê nhé, có lẽ thêm vài chiếc bánh rán nữa.” Ông nhìn Nat, “Chắc anh sẽ không thay đổi ý kiến chứ?”

- Thì ông cũng hài lòng với công việc này đấy chứ, phải không ạ? - Nat mỉm cười đáp.

- Thật ra tôi hài lòng, - đại tá nói. “Anh biết không, tôi đã phải mất mấy tuần mới được Washington đồng ý với đề nghị của tôi. Vậy anh tha lỗi nếu tôi nhẩn nha thêm ít phút.”

Nat nhăn nhó cười rồi ngồi xuống ghế.

- Có nhiều con đường mở ra cho anh, theo tôi thì hầu hết những con đường ấy đều phí thì giờ vô ích. Thí dụ anh có thể làm đơn xin xuất ngũ vì đã bị thương trong tác chiến. Nếu đi con đường ấy, anh sẽ hưởng lương hưu sáu tháng sau khi ra khỏi đây. Là sĩ quan ngoại ngạch, nên chả nói anh cũng hiểu không biết bao giờ mới xong giấy tờ. Còn như anh vừa nói, cố nhiên anh có thể hoàn thành nghĩa vụ ở học viện này, nhưng thử hỏi tôi có muốn một thương binh làm việc cho mình không? - đại tá cười nói vừa lúc viên phụ tá bước vào mang theo khay cà-phê nóng và hai chiếc cốc. “Anh cũng có thể nhận một vị trí khác ở nơi có môi trường thân thiện, chẳng hạn như Honolulu, nhưng tôi đoán anh không muốn đi xa để kiếm một cô gái nhảy.” Ông nhìn lại hồ sơ, “Nhưng dù đề nghị của tôi là thế nào thì anh cũng cứ phải nện gót ở đây thêm một năm nữa. Vì vậy tôi cần hỏi anh câu nữa: một khi đã hết hai năm ở đây, anh định làm gì chưa?”

- Trở lại trường để tiếp tục học, thưa ông.

- Tôi biết thế nào anh cũng nói thế, - đại tá nói. “Thế là anh đã quyết định rồi?”

- Nhưng tuần sau đã bắt đầu năm học mới, - Nat nói. “Và như ông vừa nói, chỉ mỗi việc giấy tờ đã...”

- Trừ phi anh đăng ký phục vụ sáu năm nữa, như vậy giấy tờ sẽ được làm rất nhanh chóng.

- Đăng ký sáu năm nữa? - Nat sửng sốt hỏi lại. “Tôi đã tính ra khỏi quân đội chứ không ở lại kia mà.”

- Chứ sao nữa, - đại tá nói. “Nhưng chỉ với điều kiện anh đăng ký sáu năm nữa.” Ông đứng dậy đi lại trong phòng. “Nat, anh biết không, với trình độ hiện nay, anh có thể làm đơn xin vào bất cứ trường đại học nào. Hơn thế nữa, việc học của anh sẽ do quân đội đài thọ.”

- Nhưng tôi đã có học bổng rồi, - Nat nói lại.

- Tôi biết. Trong hồ sơ này có hết. - Đại tá nhìn xuống nói. “Nhưng trường đại học đâu có nhận học phí của đại úy?”

- Nghĩa là tôi được trả tiền vào đại học? - Nat nói.

- Phải, anh sẽ được nhận đầy đủ với trợ cấp đóng quân ở nước ngoài.

- Đóng quân ở nước ngoài? Nhưng tôi không làm đơn xin vào trường đại học ở Việt Nam. Tôi chỉ muốn quay về Connecticut, rồi vào trường Yale.

- Thì thế chứ sao? Điều lệ đã ghi rõ rằng nếu, và chỉ nếu, anh đã phục vụ ở nước ngoài, trong khu vực có chiến sự, - Tôi dẫn chứng đây nhé, - ông đại tá lật trang hồ sơ - “thì đơn xin vào đại học sẽ được cấp theo quy chế đã đóng quân lần cuối ở nước ngoài.” Ông đại tá ngẩng lên nói tiếp. “Tôi bắt đầu quý các luật sư ở chỗ này. Đúng là họ giỏi thật.” Tremlett nhấp cà-phê, còn Nat vẫn ngồi im. “Không những anh sẽ được hưởng đầy đủ lương đại úy và trợ cấp hải ngoại”, đại tá nói tiếp, “vì anh bị thương, mà hết sáu năm anh còn được xuất ngũ và hưởng lương hưu đại úy nữa.”

- Làm sao Quốc hội thông qua điều đó được? - Nat hỏi.

- Tôi không cho là bất cứ ai thảo ra điều này cũng đều giỏi tất cả các mặt, - đại tá nói.

- Hẳn là phải có sơ hở, - Nat nói.

- Có chứ, đại tá nghiêm mặt đáp. “Ngay cả Quốc hội cũng còn có chỗ phải che giấu.” Nat không ngắt lời ông. “Trước hết, mỗi năm cậu phải quay về tập luyện ở Trại Benning hai tuần gọi là để dưỡng thương.”

- Tôi rất muốn thế, - Nat đáp.

- Ông đại tá không để ý Nat vừa ngắt lời. “Hết sáu năm, anh vẫn nằm trong danh sách quân đội cho đến sinh nhật bốn mươi lăm tuổi. Như vậy, nếu có cuộc chiến tranh khác, anh vẫn bị gọi ra.”

- Thế đấy? - Nat nói, giọng nghi hoặc.

- Thế đấy, - đại tá nhắc lại.

- Sau đây tôi phải làm gì?

- Ký vào sáu bản tài liệu mà các luật sư đã chuẩn bị. Ngày này tuần sau chúng tôi sẽ đưa anh về Đại học Connecticut. Nhân đây, tôi đã nói với ông hiệu trưởng, và ông ta bảo sẵn sàng gặp anh vào thứ Hai sau. Ông ta yêu cầu tôi báo cho anh biết bài giảng đầu tiên bắt đầu vào chín giờ. - đại tá nói thêm: “với tôi thì giờ đó là muộn đấy.”

- Ông cũng biết trước là tôi sẽ đáp ứng thế nào chứ ạ? - Nat nói.

- Đúng thế, - Tremlett đáp. “Tôi còn nghĩ anh sẽ chọn con đường đun cà-phê cho tôi trong mười hai tháng nữa kia. Nhân đây, anh không muốn uống cà-phê với tôi sao?” Ông đại tá hỏi, rồi tiện tay rót cốc nữa.

 

*

 

- Anh đồng ý lấy người đàn bà này làm vợ chính thức không? - ông giám mục Connecticut hỏi.

- Tôi đồng ý, - Jimmy đáp.

- Chị đồng ý lấy người đàn ông này làm chồng chính thức không?

- Tôi đồng ý, - Joanna đáp.

 

*

 

- Anh đồng ý lấy người đàn bà này làm vợ chính thức không? - ông giám mục lại hỏi.

- Tôi đồng ý, - Fletcher đáp.

- Chị đồng ý lấy người đàn ông này làm chồng chính thức không?

- Tôi đồng ý, - Annie đáp.

 

*

 

Cùng một lúc có hai cuộc hôn lễ là sự kiện hiếm có ở Hartford. Ông giám mục cũng công nhận đây là lần đầu ông chủ trì như vậy.

Thượng nghị sĩ Gates đứng đầu hàng, mỉm cười đón tân khách đến dự. Ông quen biết hầu hết. Dù sao cả hai đứa con ông đều kết hôn trong cùng một ngày.

- Có ai ngờ Jimmy lại lấy được cô gái thông minh nhất lớp như thế chứ? - Harry hãnh diện nói.

- Chả phải nó giỏi ư? - Martha nói. “Ông cũng vậy. Mà ông cũng đừng quên là nhờ có Joanna mà nó được phong cấp.”

- Mọi người ngồi vào bàn rồi, xin cho cắt bánh, - chủ khách sạn nói, “đề nghị các cô dâu chú rể đứng phía trước, các vị phụ huynh đứng phía sau để chụp ảnh.”

- Không cần phải nhắc ông nhà tôi, - Martha Gates nói, “đèn nháy xong là ông ấy đã quay đi rồi, đây chỉ là ngẫu nhiên nghề nghiệp.”

- Bà nói đúng đấy, - Thượng nghị sĩ đáp. Ông quay sang Ruth Davenport lúc đó đang nhìn cô con dâu bằng con mắt nghi hoặc.

- Tôi cứ nghĩ không hiểu hai đứa còn quá trẻ không nhỉ.

- Nó đã hai mươi rồi, - Thượng nghị sĩ nói. “Martha và tôi lấy nhau khi bà ấy hai mươi tuổi.”

- Nhưng Annie chưa tốt nghiệp.

- Điều đó không can hệ. Chúng nó đã đi với nhau sáu năm rồi. - Ông Thượng nghị sĩ quay ra chào một tân khách.

- Thỉnh thoảng tôi cứ mong rằng... - Ruth nói.

- Thỉnh thoảng bà mong gì? - Robert đứng cạnh vợ Ruth quay đi để Thượng nghị sĩ không nghe thấy mình nói gì. “Không ai yêu Annie bằng tôi, nhưng thỉnh thoảng tôi cứ nghĩ giá như...” bà ngập ngừng, - “giá như hai đứa gặp nhau nhiều hơn nữa thì hơn.”

- Fletcher đã gặp khối cô gái, nhưng nó chẳng hẹn hò với cô nào. Với lại...- Robert đưa cốc lấy thêm rượu, “Với lại tôi đã nhiều lần đi mua sắm với bà, chỉ thấy bà mua ngay bộ áo nào bà trông thấy trước.”

- Điều đó không có nghĩa là tôi không nhìn đến những đàn ông khác trước khi tôi quyết định lấy ông, - Ruth nói.

- Phải, nhưng đấy là chuyện khác, vì những người kia chẳng ai lấy bà.

- Robert Davenport, tôi muốn nói để ông biết...

- Ruth, bà quên rằng tôi đã hỏi nhiều lần, cuối cùng bà mới chấp nhận đó sao? Tôi còn định làm cho bà có bầu trước khi lấy cơ mà.

- Ông có bao giờ nói thế đâu, - Ruth quay nhìn chồng.

Có lẽ bà quên sau khi cưới bao lâu thì bà đã đẻ Fletcher.

Ruth quay lại nhìn con dâu. “Tôi chỉ mong nó không gặp chuyện tương tự.”

- Chả có lý gì phải thế, - Robert nói. “Người đẻ không phải là Fletcher. Còn tôi đánh cuộc là Fletcher, cũng như tôi, suốt đời nó sẽ chẳng bao giờ nhìn đến người đàn bà khác.”

Từ khi chúng ta lấy nhau, ông chưa bao giờ nhìn đến người đàn bà khác thật sao? - Ruth bắt tay hai tân khách rồi quay lại hỏi.

- Đúng thế, - Robert đáp và lại nhấp rượu. “Tôi đã ngủ với nhiều người, nhưng chưa bao giờ nhìn đến họ.”

- Robert, ông uống bao nhiêu rồi?

- Tôi không đếm, - Robert nói vừa lúc Jimmy bước đến.

- Bác cười gì thế, bác Davenport?

- Tôi vừa bảo Ruth là tôi đã chinh phục nhiều người, nhưng bà ấy không tin. Jimmy này, cậu sẽ làm gì sau khi tốt nghiệp?

- Cháu sẽ theo Fletcher vào trường luật. Kể cũng khó đấy, nhưng ban ngày con bác giúp, ban đêm Joanna giúp, cháu sẽ xoay sở được. Bác phải tự hào về con bác đấy, - Jimmy nói.

Ông giơ cốc cho người phục vụ đi qua rót thêm rượu.

“Chắc chắn nó sẽ được phong cấp ở học viện, lại thêm Chủ tịch Hội Sinh viên.”

- Ông say rượu rồi đấy, - Ruth nói nhưng không cười.

- Bà yêu quý, bà luôn luôn đúng, nhưng điều đó không ngăn được tôi tự hào thái quá về đứa con duy nhất của tôi..

- Nhưng không có sự đóng góp của Jimmy, nó sẽ chẳng bao giờ trở thành Chủ tịch, - Ruth cãi.

- Bác quá khen đấy ạ, bác Davenport, nhưng bác đừng quên Fletcher đã thắng áp đảo trong cuộc bầu cử.

- Nhưng chỉ sau khi cháu đã thuyết phục được Tom...hắn tên là gì ấy nhỉ...cho nên hắn mới chịu ủng hộ Fletcher.

- Cũng có thể, nhưng chính Fletcher đã tạo ra sự thay đổi tác động đến cả một thế hệ trường Yale, - Jimmy nói.

Lúc này Annie vừa bước tới. “A, chào cô em bé.”

- Khi nào em làm Chủ tịch Hãng General Motors, anh còn nói với em bằng giọng đó nữa không?

- Còn chứ, - Jimmy đáp. “Hơn thế nữa, anh sẽ không di xe Caddie.

Annie định giơ tay đánh anh, nhưng chủ khách sạn lên tiếng bảo đã đến lúc cắt bánh.

Ruth vòng tay ôm cô con dâu. Bà nói: “Đừng để ý gì đến anh cháu, vì sau khi cháu tốt nghiệp, nó cũng đã yên vị rồi.”

- Không phải cháu muốn chứng minh cho anh ấy, - Annie nói. “Trước sau thì con bác cũng là người nêu gương.”

- Vậy cháu chỉ việc đánh bại anh ta là xong, - Ruth nói.

- Cháu không muốn thế, - Annie đáp. “Bác biết không, anh ấy bảo sau khi tốt nghiệp trường luật anh ấy sẽ đi làm chính trị.”

- Điều đó có cản trở gì đến sự nghiệp của cháu đâu.

- Không, nhưng cháu chẳng muốn mất gì để giúp anh ấy thực hiện tham vọng.

- Cháu có quyền có sự nghiệp riêng của cháu chứ, - Ruth nói.

- Tại sao ạ? - Annie nói. “Bỗng dưng chuyện này thành ra hợp thời nhỉ. Có lẽ cháu không như Joanna,” cô liếc sang chị dâu. “Bác Ruth ạ, cháu biết cháu muốn gì, và cháu sẽ làm bất cứ gì cần thiết để thực hiện cho được.”

- Đó là gì vậy? - Ruth khẽ hỏi.

- Suốt đời ủng hộ người cháu yêu quý, nuôi dạy con cái, sung sướng với thành công của chồng, và với áp lực như của những năm bảy mươi, như thế sẽ còn chứng minh hùng hồn hơn là được phong cấp ở trường Vassar,” - Annie nói và cầm con dao bạc có cán bằng ngà. “Bác biết không, cháu đoán sang thế kỷ hai mươi mốt những kỷ niệm hôn lễ vàng sẽ còn ít hơn rất nhiều so với thế kỷ hai mươi.”

- Fletcher, con là người may mắn đấy, mẹ nói lúc Annie ấn con dao xuống chiếc bánh.

- Con biết từ trước khi Annie sửa lại hàm răng kia, Fletcher đáp.

Annie chuyển con dao sang tay Joanna. “Em ước điều gi đi,” - Jimmy khẽ ri tai.

- Em ước rồi, anh sinh viên năm thứ nhất ạ, - cô đáp. “Hơn thế nữa, điều ước ấy đã thành sự thật.”

- À, em muốn nói cái quyền được lấy anh chứ gì?

- Trời ơi, không đâu, còn ý nghĩa hơn thế nữa chứ.

- Còn ý nghĩa gì hơn thế?

- Đó là chúng ta sắp có con.

Jimmy vòng tay ôm vợ. - “Từ bao giờ vậy?”

- Em không biết chắc, nhưng khi em tin rằng anh sẽ tốt nghiệp, em đã thôi không dùng thuốc tránh thai nữa.

- Thế thì tuyệt. Nào, chúng ta hãy báo tin cho các tân khách.

- Anh mà nói nữa, em sẽ thọc ngay lưỡi dao này vào người anh chứ không cắt bánh. Anh coi chừng đấy, em vẫn biết lấy một anh sinh viên năm thứ nhất có tóc đỏ là một sai lầm.

- Anh đánh cuộc đứa bé sẽ có tóc đỏ.

- Đừng chắc thế, anh sinh viên năm thứ nhất ạ. Nếu anh nói ra với bất cứ ai, em sẽ bảo em chả biết bố đứa bé là người nào.

- Thưa quý ông quý bà, - Jimmy nói vừa lúc vợ giơ dao lên. “Tôi xin báo một tin”. Cả phòng im lặng. “Joanna và tôi sắp có con.” Đột nhiên cả năm trăm tân khách ào ào vỗ tay.

- Thế là anh chết rồi, - Joanna nói và thọc dao vào chiếc bánh.

- Phu nhân Gates ơi, tôi đã biết thế từ lúc mới gặp bà cơ. Nhưng tôi nghĩ chúng ta phải có ít nhất ba đứa con trước khi bà định giết tôi.

- Ông Thượng nghị sĩ, ông sắp trở thành ông nội rồi, - Ruth nói. “Xin chúc mừng ông. Tôi cũng nóng lòng muốn được làm bà ngoại, nhưng có lẽ còn lâu đến khi Annie đẻ đứa con đầu lòng.”

- Tôi đoán chắc nó chưa nghĩ đến chuyện ấy trước khi tốt nghiệp, - Harry Gates nói. “Nhất là khi chúng nó biết tôi đã có kế hoạch như thế nào cho Fletcher.”

- Chẳng lẽ Fletcher không theo kế hoạch của ông sao? - Ruth hỏi.

- Chừng nào tôi và Jimmy còn muốn nó cảm thấy đó phải là ý kiến của nó trước đã.

- Ông không cho là hiện nay nó chỉ việc thực hiện ý kiến của ông ư?

- Từ cái ngày gặp nó ở trận đấu bóng của hai trường Hotchkiss và Taft cách đây gần chục năm, tôi đã biết khả năng của nó rồi. Nó có thể giơ gậy cao hơn tôi nhiều.

- Ông Thượng nghị sĩ vòng tay ôm Ruth. “Nhưng có một vấn đề có lẽ tôi cần bà giúp cho.”

- Gì thế? - Ruth hỏi.

- Tôi nghĩ Fletcher chưa dứt khoát là Cộng hòa hay Dân chủ, mà tôi thì rất biết rằng ông chồng bà...

- Tin về Joanna thế chẳng phải là tuyệt vời sao? - Fletcher hỏi mẹ vợ.

- Hẳn đi chứ, - Martha đáp. “Harry đã tính những lá phiếu sẽ giành được khi ông ta làm ông nội.”

- Cái gì làm ông ấy tin tưởng thế? - Fletcher hỏi.

- Công dân lớn tuổi là bộ phận mau già nhất trong số cử tri. Do đó phải có một tỷ lệ phần trăm nhất định cho những cử trí theo Harry đi nơi này nơi khác chứ.

- Vậy nếu Annie và cháu có con thì có tỷ lệ gì trong đó?

- Không, không, - Martha nói. “Vấn đề là thời điểm. Con hãy nhớ phải hai năm nữa Harry mới lại ra ứng cử.”

- Bác có nghĩ rằng chúng cháu phải có kế hoạch đẻ đứa thứ nhất để trùng hợp với ngày Harry ra tái cử không?

- Cháu sẽ ngạc nhiên thấy biết bao nhiêu nhà chính trị đều làm như thế cả, - Martha đáp.

- Joanna, chúc mừng con, - ông Thượng nghị sĩ ôm con dâu nói.

- Có bao giờ con trai bác giữ được bí mật không? - Joanna nói và nhấc con dao để ra ngoài bánh.

- Không, nếu như nó muốn làm vừa lòng bè bạn, - ông Thượng nghị sĩ đáp. “Nhưng nếu nó nghĩ như thế là làm đau lòng người nó yêu quý, nó sẽ đem theo điều bí mật ấy xuống mồ.”

 

 

16

 

Chuông đồng hồ đánh chín giờ. Giáo sư Karl Abrahams bước vào giảng đường. Mỗi học kỳ ông giảng tám bài. Người ta đồn trong suốt ba mươi bảy năm ông chưa bỏ một buổi nào. Không có gì chứng minh được dư luận về Karl Abrahams, vì vậy ai hỏi ông cũng bảo nghe nói thế thôi, không tin được.

Tuy nhiên dư luận vẫn dai dẳng đến mức trở thành giai thoại. Chẳng sinh viên nào ngu ngốc tin vào những lời nói mỉa mai chua chát của ông. Thí dụ ông nói ba đời Tổng thống đã mời ông tham gia Tòa án Tối cao, thì việc đó chỉ có ba Tổng thống biết. Nhưng ai hỏi đến ông chỉ nói cách phục vụ tốt nhất cho đất nước là giảng dạy cho thế hệ luật gia sau này và tạo được càng nhiều cố vấn đứng đắn lương thiện càng tốt, như thế còn hơn bỏ công dọn dẹp những lộn xộn do nhiều kẻ xấu gây ra.

Trong một bài báo không được phép, tờ Bưu điện Washington nói Abrahams đã dạy cho hai thành viên của Tòa án Tối cao hiện nay, hai mươi hai thẩm phán liên bang, và nhiều hiệu trưởng các trường luật đầu ngành.

Khi Fletcher và Jimmy dự buổi đầu trong số tám bài giảng của Abrahams, họ không ảo tưởng gì về những việc sắp đến. Tuy nhiên Fletcher vẫn mang áo tưởng là chỉ cần năm cuối trước khi thi tốt nghiệp bỏ nhiều thì giờ học là đủ, dù phải học đến quá nửa đêm. Giáo sư Abrahams đã phải làm cho anh quen với giờ giấc, thường vào những lúc đi ngủ.

Giáo sư Abrahams luôn nhắc nhở những sinh viên năm thứ nhất rằng không phải đến cuối khóa là tất cả sẽ tốt nghiệp đâu. Jimmy nghe nói cúi gập đâu. Fletcher bắt đầu bỏ nhiều thời gian nghiên cứu đến nỗi Annie ít khi gặp chồng trước khi thư viện khóa cửa. Thinh thoảng Jimmy bỏ về sớm hơn để gặp Joanna, nhưng chẳng mấy khi ra đi mà không ôm theo một đống sách. Fletcher bảo Annie chưa bao giờ thấy ông anh rể chăm chỉ học tập thế.

- Khi nào đứa bé ra đời sẽ không dễ như vậy đâu, - Annie nói với chồng hôm cô đến thư viện đón anh ta về.

- Chắc Joanna có kế hoạch đẻ đứa bé trong dịp nghỉ hè, để chị ấy còn về làm việc hôm khai mạc khóa học chứ.

- Em không muốn con đầu lòng của mình ra đời như vậy, - Annie nói. “Em muốn nuôi con ở nhà, suốt ngày làm mẹ, còn bố về sớm để tối nói chuyện với con.”

- Được thôi, - Fletcher nói. “Nhưng nếu em thay đổi ý kiến và quyết định làm Chủ tịch Hãng General Motors, anh sẽ sẵn lòng thay tã cho con.”

 

*

 

Điều đầu tiên Nat ngạc nhiên là khi trở lại trường đại học, anh thấy hình như các bạn cũ đều rất non kém. Anh tin rằng mình đủ sức vào năm thứ hai. Nhưng cùng ngồi với họ anh chỉ thấy họ bàn tán về tốp ca này hoặc ngôi sao điện ảnh kia mới ra đời, và anh chả biết gì về những chuyện đó. Chỉ đến khi nghe bài giảng đầu anh mới ý thức được rằng kinh nghiệm ở Việt Nam quả đã khiến cuộc đời anh thay đổi hẳn.

Nat biết các bạn cùng trường không coi anh như một người của họ, cả đến vài ba Giáo sư cũng e ngại. Anh hãnh diện nghĩ mình được coi trọng nhưng cũng hiểu ra ngay vấn đề còn có mặt khác. Trong dịp nghỉ lễ Giáng sinh, anh trao đổi chuyện này với Tom, và Tom nói sở dĩ họ cảnh giác với anh vì hình như họ nghe nói anh đã giết ít ra là hàng trăm quân Việt Cộng. “Hàng trăm ư?” Nat hỏi lại.

- Những người khác còn nghe quân lính của ta đã làm những gì đối với phụ nữ Việt Nam nữa, - Tom nói.

- May cho tớ là đã có Mollie, nếu không tớ sẽ độc thân mãi.

- Tớ khuyên cậu đừng để họ vỡ mộng, - Tom nói. “Tớ đoán họ đố kỵ đó thôi, còn phụ nữ thì tò mò không hiểu. Cậu cần làm cho họ thấy cậu chỉ là một công dân bình thường nhưng tôn trọng pháp luật.”

- Tớ chỉ mong họ nhớ cho rằng tớ mới mười chín tuổi, - Nat nói.

- Cái khó chính ở chỗ cậu là đại úy Cartwright, Huân chương Danh dự, mà như thế thì không thể là mười chín tuổi. Có lẽ chỉ chiếc chân khập khiễng mới làm họ hiểu ra được, - Tom nói.

Nat nghe lời bạn khuyên, quyết định tỏ ra năng nổ trong lớp, ở phòng tập thể dục và chạy việt dã. Trước đây bác sĩ đã dặn phải một năm sau anh mới được chạy nhảy. Nhưng mỗi ngày anh đến phòng thể dục tập hàng giờ, leo dây, cử tạ, đôi khi còn đánh quần vợt dưới nước. Cuối khóa anh đã từ từ chạy bộ quanh sân, phải mất một giờ hai mươi phút mới chạy hết sáu cây số. Anh xem lại kế hoạch luyện tập cũ chỉ mất ba mươi tư phút mười tám giây. Anh tự nhủ vào cuối năm học thứ hai sẽ phá được kỷ lục.

Nat còn gặp vấn đề nữa là phụ nữ. Mỗi khi hẹn hò với cô nào, anh chỉ thấy họ hoặc muốn nhảy vào giường ngay hoặc từ chối phắt. Tom còn nói kiểu tóc ngắn như của anh đôi khi cũng có nhiều cô thích, và Nat cũng phát hiện đã nhiều người làm như vậy.

- Tiếng tăm cũng có nhiều cái bất lợi, - Nat phàn nàn.

- Nếu thế để tớ đổi chỗ cho cậu, - Tom nói.

Hóa ra trường hợp duy nhất còn lại là Rebecca. Ngay hôm Nat quay về học xá cô ta đã tỏ ý muốn nối lại chuyện cũ. Nat băn khoăn không biết có nên trở lại mối tình cũ ấy không. Cuối cùng anh nghĩ bụng nếu cần xây dựng lại quan hệ thì cũng từ từ. Nhưng Rebecca lại có kế hoạch khác.

Cuộc hẹn lần thứ hai, Rebecca mời anh về phòng uống cà-phê. Vừa khép cửa, cô đã định cởi quần áo anh. Nat lùi ra, viện cớ hôm sau phải tham gia cuộc chạy thi bấm giờ. Nhưng cô ta không chịu. Lát sau khi cô đem ra hai tách cà-phê, anh thấy Rebecca đã khoác áo ngủ, chứng tỏ bên dưới cô không mặc gì hết. Nat bỗng thấy mình không còn cảm giác gì đối với cô ta nữa. Anh vội uống tách cà-phê và nói cần đi ngủ sớm.

- Trước kia có thấy anh bận tâm gì về những cuộc chạy thi ấy đâu? - Rebecca hỏi đùa.

- Đó là hồi anh còn khỏe cả hai chân, - Nat đáp.

- Có lẽ anh thấy em không còn hấp dẫn nữa chứ gì, - Rebecca nói, “với lại bây giờ ai cũng đã cho anh là một loại anh hùng rồi.”

- Không liên quan gì đến chuyện đó đâu. Chỉ là...

- Ngay từ đầu Ralph đã nói rất đúng về anh.

- Em nói thế là sao? - Nat hỏi ngay.

- Đơn giản là anh không thuộc lớp người như hắn, dù ở trên giường hay chỗ khác. - Cô ngừng lại.

Nat đã định phản ứng nhưng nghĩ thế nào lại thôi. Anh ra về, không nói thêm câu nào. Đêm đó anh thức khuya, nghĩ bụng Rebecca vẫn là một phần cuộc sống trước đây của mình như rất nhiều cái khác.

 

*

 

Trở về trường đại học, một trong những điều Nat phát hiện là có nhiều sinh viên muốn anh ra tranh cử chức Chủ tịch Hội Sinh viên với Elliot. Nhưng Nat nói ngay lúc này anh phải cố lấy lại thời gian đã bỏ phí, nên không quan tâm đến việc tranh cử.

Cuối năm học thứ hai, Nat về nhà nói với cha anh đã rút được thời gian chạy việt dã xuống dưới một giờ và được xếp trong số sáu người đứng đầu danh sách.

Mùa hè, Nat và Tom đi du lịch sang châu Âu. Nat thấy một trong những cái hay của lương đại úy là anh có thể cùng đi với bạn thân mà không cảm thấy phải dựa vào bạn.

Chặng đầu họ dừng lại ở London, xem quân cận vệ duyệt binh trên đường phố. Nat có cảm tưởng họ sẽ là một lực lượng mạnh ở Việt Nam. Ở Paris, họ đi dạo trên đường Champs Elysées, mỗi khi thấy một phụ nữ đẹp muốn nói chuyện lại phải giở cuốn hội thoại. Rồi họ đi Rome, lần đầu tiên nếm món mì Ý ở tiệm cà-phê, và thề sẽ không bao giờ thêm ăn ở nhà hàng McDonald nữa.

Mãi đến khi thăm thành Venice anh mới lao vào chuyện tình dục. Chỉ một hôm mà anh đã nếm đủ mùi, từ đàn bà khỏa thân đến những cô gái trinh. Lúc đầu là cả một ngày với những Da Vinci, rồi Bellini, rồi Luini. Sau đó Tom đồng ý với anh sẽ ở lại thêm vài ngày rồi mới đi Florence để kết thúc chuyến du lịch. Họ nhanh chóng vớ được những người tình mới ở mọi góc phố, Michelangelo, Caravaggio, Canaletto, Tintoretto. Hầu như cô nào đến với Nat cũng có chữ o ở cuối tên.

 

*

 

Giáo sư Karl Abrahams đứng trước bàn giảng bài thứ năm của khóa học. Ông ngước nhìn lên những hàng ghế hình bán nguyệt trước mặt.

Ông bắt đầu giảng về Carter kiện công ty Thép. Ông không nhìn vào sách, hay hồ sơ, hay một mẩu giấy nào.

- Ông Carter mất một cánh tay trong vụ tai nạn công nghiệp năm 1923 và bị sa thải mà không được một xu tiền bồi thường nào, - Giáo sư nói. “Ông ta không kiếm được việc làm ở chỗ khác, vì chẳng công ty thép nào muốn dùng người chỉ có một cánh tay. Đến khi làm chân gác cửa cho một khách sạn địa phương, ông ta biết chẳng đời nào có việc làm khác nữa. Mãi đến năm 1927 mới có đạo luật bồi thường tai nạn công nghiệp, một điều xưa nay chưa từng có. Lúc đó ông Carter mới dám nghĩ đến chuyện đi kiện chủ hãng. Nhưng ông không có tiền thuê luật sư. Một sinh viên luật biết ông Carter chưa hề nhận được tiền thưởng đã tự nguyện ra tòa thay ông ta. Anh sinh viên này thắng kiện và ông Carter được bồi thường một trăm đô-la. Số tiền không lớn nhưng cũng đủ an ủi ông Carter. Vậy là ông ta và anh sinh viên kia đã buộc pháp luật phải thay đổi. Hy vọng trong tương lai một người nào đó trong số các bạn đây sẽ buộc được pháp luật phải thay đổi trước những bất công như vậy. Nói thêm: anh chàng luật sư trẻ ấy tên là Theo Rampleiri. Anh ta suýt bị trường luật đuổi vì đã bỏ nhiều thời gian vào vụ Carter. Mãi sau này anh ta mới được cử vào Tòa án Tối cao.

Giáo sư nhăn mặt nói tiếp. “Năm ngoái, Hãng General Motors trả cho ông Cameron năm triệu đô-la vì ông này bị cụt một chân, mặc dầu hãng GM có thể chứng minh ông Cameron bị thương là do cầu thả.” Giáo sư chậm rãi. “Như Charles Dickens đã nói, pháp luật thường rất ngu dốt, hơn nữa, chẳng biết thế nào là phải trái. Tôi khuyên các bạn không nên chỉ nhìn một phía của pháp luật, nhất là khi đã hiểu ý đồ của Thượng viện và Quốc hội. Trong số các bạn đây chắc sẽ có người quên những điều trên khi đã làm việc cho một công ty nổi tiếng mà công ty đó phải thắng kiện bằng mọi giá. Nhưng cũng sẽ có những bạn khác, có lẽ không nhiều lắm, nhớ câu châm ngôn của Lincoln “Phải thực hiện công lý”. Fletcher đang ghi chép ngửng lên nhìn ông thầy. “Trước khi nghe giảng lần sau, các bạn hãy nghiên cứu thêm năm trường hợp tiếp theo vụ Carter cho đến vụ Demetri kiện Demetri, vì tất cả đều dẫn đến thay đổi luật pháp. Các bạn có thể học từng đôi, nhưng không nên tham khảo ý kiến đôi khác. Hy vọng tôi nói thế là rõ.” Chuông đồng hồ đánh mười một tiếng. “Chào các bạn.”

Fletcher và Jimmy cùng nhau nghiên cứu rà soát từng vụ. Cuối tuần, họ tìm ra ba vụ liên quan. Joanna moi óc nhớ lại hồi còn nhỏ ở Ohio cô đã nghe nói đến một vụ nữa, nhưng cô từ chối không cung cấp tài liệu gì khác.

- Tình yêu, danh dự và phục tùng là thế nào nhỉ? - Jimmy hỏi.

- Em chưa bao giờ đồng ý phục tùng anh, anh sinh viên năm thứ nhất ạ, - cô đáp. “Nhân đây nhắc để anh nhớ nếu ban đêm Elizabeth thức dậy là anh phải thay tã cho nó đấy.”

- Đó là vụ Sumner kiện Sumner, Jimmy khoái trá chui vào giường nói. Lúc này đã quá nửa đêm.

- Cũng không tồi. Nhưng đến mười giờ thứ Hai anh phải tìm ra vụ thứ năm nếu anh muốn được Giáo sư Abrahams khen.

- Anh nghĩ muốn được cái khối đá hoa cương ấy mở miệng khen cho một câu thì còn phải làm việc rất nhiều nữa kia, - Jimmy nói.

 

*

 

Lên tới đỉnh đồi, Nat trông thấy cô ta chạy phía trước. Anh tính sẽ vượt cô ta lúc xuống dốc. Được nửa đường, anh nhìn đồng hồ: mười bảy phút chín giây. Nat tin chắc sẽ phá được kỷ lục bản thân và sẽ trở về với đội trong cuộc họp đầu mùa.

Lúc vọt qua đỉnh đồi anh đang cảm thấy nghị lực đầy mình, bỗng hét lên một tiếng. Cái cô gái ngốc nghếch kia chạy sai đường rồi. Có lẽ cô ta học năm thứ nhất. Anh gọi to sau lưng, nhưng cô ta không đáp. Anh chửi thầm rồi đổi đường chạy theo cô ta. Đến cuối dốc, cô ta bỗng quay lại nhìn với vẻ ngạc nhiên.

- Cô chạy sai đường rồi, - Nat nói rồi quay ra lối cũ. Được một quãng anh trở lại để nhìn cho rõ, chân vẫn tiếp tục chạy tại chỗ.

- Cảm ơn anh, - cô ta nói. “Tôi mới chạy lần thứ hai nên không nhớ đường lên đỉnh đồi.”

Nat mỉm cười. “Cô phải chạy đường nhỏ cơ. Đường lớn là vào rừng.”

- Cảm ơn anh, cô nhắc lại rồi chạy ngược lên đỉnh đồi.

Anh theo sau, chạy ngang cô ta đến đỉnh đồi. Thấy cô ta đã vào đúng con đường hẹp, anh giơ tay chào. “Sẽ gặp lại nhé.” Cô ta có đáp lại anh cũng chả nghe rõ.

Qua đường ranh giới, Nat lại nhìn đồng hồ. Bốn mươi ba phút năm mươi mốt giây. Anh chửi thầm vì đã mất thêm thì giờ chỉ đường cho cô gái. Nhưng không sao. Anh bình tĩnh lại, làm tiếp một số động tác như mọi khi, rồi đứng chờ cô gái quay về.

Bỗng thấy cô ta xuất hiện trên đỉnh đồi và cũng chạy xuống đường ranh giới chỗ anh đang đứng. “Cô chạy được đấy.” Nat cười chạy đến bên cạnh. Cô ta không cười. “Tôi là Nat Cartwright,” anh nói.

- Tôi biết anh là ai rồi, - cô ta nói, giọng cộc lốc.

- Ta đã gặp nhau chưa nhỉ?

- Chưa, - cô ta đáp. “Tôi chỉ biết tiếng anh thôi.” Rồi cô ta chạy về hướng có dãy phòng phụ nữ, không giải thích thêm tại sao.

 

*

 

- Những ai đã tìm ra cả năm vụ, hãy đứng dậy.

Fletcher và Jimmy đứng phắt dậy, làm như chỉ có mình biết, nhưng cả hai bỗng xẹp ngay vì ít ra cũng có ba phần tư lớp đứng dậy. “Những người tìm được bốn vụ thì sao?” - Giáo sư nói, vẻ không bằng lòng. Một số đứng dậy tiếp, còn lại một số ngồi im. Fletcher nghĩ bụng đến cuối khóa sẽ chẳng còn mấy người theo học. “Ngồi xuống đi,” Giáo sư nói. “Bây giờ ta bắt đầu với vụ Công ty hơi đốt Maxell kiện Pennstone. Riêng vụ này đã đưa đến việc thay đổi pháp luật như thế nào.” Ông chỉ tay một sinh viên ngồi ở hàng ghế thứ ba.

- Năm 1932, công ty bắt đầu có trách nhiệm đảm bảo các thiết bị phải tuân thủ đúng quy chế an toàn, các nhân viên phải nắm rõ mọi thủ tục khẩn cấp. - Giáo sư chỉ sang người khác.

- Mọi hướng dẫn bằng văn bản phải được yết lên bảng để các nhân viên có thể trông thấy và đọc được.

- Khi nào cái đó không cần thiết nữa?

Giáo sư chỉ một người khác. Sinh viên trả lời: “Đó là vụ “Reynolds kiện Công ty khai thác gỗ McDermond.”

- Đúng. - Ông lại chỉ người khác. “Nhưng tại sao?”

- Reynolds mất ba ngón tay khi anh ta xẻ một khúc cây, nhưng luật sư bào chữa chứng minh rằng anh ta không biết chữ, cũng không được hướng dẫn miệng là phải sử dụng máy móc như thế nào.

- Vậy cơ sở của luật mới là gì? - Giáo sư chỉ người khác.

- Luật công nghiệp năm 1934 quy định, người chủ phải có trách nhiệm hướng dẫn nhân viên, bằng miệng và bằng văn bản, cách sử dụng thiết bị.

- Luật ấy được bổ sung khi nào? - Giáo sư chỉ một người khác.

- Khi có vụ Rush kiện Chính phủ.

- Đúng, nhưng tại sao Chính phủ làm sai mà vẫn thắng kiện?

Giáo sư chỉ vào một người. “Dạ, tôi không biết.” Giáo sư lại chỉ sang chỗ khác xem ai trả lời câu hỏi.

- Chính phủ bào chữa được vì họ chứng minh rằng Rush đã ký một thỏa thuận trong đó nói... - Ngón tay Giáo sư chỉ sang chỗ khác.

- ...anh ta đã được hướng dẫn đầy đủ theo đúng yêu cầu của luật pháp. - Giáo sư chỉ người khác.

- ... và anh ta làm việc cho công ty quá thời hạn quy định ba năm. - Ngón tay Giáo sư tiếp tục chuyển.

- ... Chính phủ còn chứng minh đó không phải là một công ty đúng với nghĩa của nó, vì văn bản là do các nhà chính trị thảo ra.

- Đừng trách các nhà chính trị, - Abrahams nói. “Luật sư là những người thảo ra luật pháp, do đó chính họ phải có trách nhiệm. Trong việc này các nhà chính trị không có tội. Vậy khi tòa án thừa nhận rằng Chính phủ không làm cái việc lập pháp thì ai là người làm cho luật phải thay đổi?” Ông chỉ tay vào một sinh viên có dáng sợ sệt. “Đó là Demetri kiện Demetri”, anh ta đáp.

- Điều này khác với những luật trước đây như thế nào? - Ngón tay Giáo sư chỉ thẳng vào Fletcher.

- Đó là lần đầu tiên một thành viên gia đình kiện người khác trong gia đình về tội cẩu thả trong khi họ vẫn là vợ chồng và mỗi người có một nửa cổ phần trong công ty.

- Tại sao việc đó không thành? - Giáo sư vẫn nhìn Fletcher hỏi.

- Vì bà Demetri từ chối không đưa ra chứng cớ chống lại chồng.

- Ngón tay Giáo sư lại chỉ sang Jimmy. “Tại sao bà ta từ chối?”

- Vì bà ấy ngốc.

- Tại sao bà ấy ngốc? - Giáo sư hỏi tiếp.

- Vì đêm trước chồng bà ta hoặc làm tình, hoặc đánh đập, hoặc cả hai, cho nên bà ta đầu hàng. - Chung quanh có tiếng cười.

- Sinh viên Gates, anh có chứng kiến việc làm tình hay đánh đập ấy không? - Giáo sư hỏi. Chung quanh lại cười ran.

- Thưa thầy không, - Jimmy đáp. “Nhưng tôi đoán sự việc có thể xảy ra như vậy.”

- Sinh viên Gates, có thể anh nói đúng, nhưng anh không chứng minh được điều gì đã xảy ra đêm đó trong phòng ngủ, trừ phi anh cung cấp nhân chứng có thể tin cậy được. Nếu ở tòa án anh hấp tấp nói ra như vậy, phía đối lập sẽ phản bác và thẩm phán sẽ ủng hộ lời phản bác ấy, còn đoàn bồi thẩm sẽ cho anh là điên rồ. Chớ bao giờ dựa vào cái gì có khả năng xảy ra dù nó có thể xảy ra như thế nào trừ phi anh chứng minh được. Nếu không chứng minh được thì hãy ngồi im.

- Nhưng...- Fletcher lên tiếng. Nhiều sinh viên cúi xuống, có người nín thở, những sinh viên khác ngạc nhiên nhìn Fletcher.

- Tên?

- Davenport, thưa thầy.

- Anh Davenport, chắc anh nghĩ mình có thể giải thích được với chữ “nhưng” ấy, phải thế không?

- Bà Demetri được luật sư khuyên dù cho bà ta có thắng kiện đi nữa, nhưng cả hai vợ chồng không ai chiếm đa số cổ phần, thì công ty cũng hết làm ăn. Luật Kendell năm 1941 quy định thế. Bà ta công khai rao bán cổ phần với giá 100.000 đô-la, mà người mua số cổ phần ấy lại là đối thủ lớn nhất của chồng bà ta, một ông Canelli nào đó. Tôi không thể chứng minh ông Canelli có ngủ với bà Demetri hay không, nhưng tôi biết một năm sau công ty ấy phá sản, còn bà ta đã mua lại số cổ phần kia với giá 7.300 đô-la và ký kết ngay với chồng như một đối tác mới.

- Ông Canelli ấy có thể chứng minh là vợ chồng Demetri đã câu kết với nhau không? - Fletcher nghĩ bụng không hiểu Giáo sư có định cài bẫy mình không đây. “Sao anh còn ngập ngừng thế?” Giáo sư hỏi.

- Thưa Giáo sư, điều đó không có chứng cứ.

- Dù sao anh định nói gì cứ nói.

- Một năm sau, bà Demetri sinh đứa con thứ hai, và giấy khai sinh ghi rõ bố đứa bé là ông Demetri.

- Anh nói đúng, đó không phải là chứng cứ. Vậy kiện bà ta về cái gì?

- Thực ra không kiện. Công ty mới tiếp tục làm ăn phát đạt.

- Vậy việc đó đã thay đổi luật pháp như thế nào?

- Thẩm phán đã đưa việc này lên Chánh tòa án bang.

- Bang nào?

- Ohio. Kết quả là họ đã thông qua đạo luật về Đối tác Hôn nhân.

- Năm nào?

- 1949.

- Thay đổi thế nào?

- Vợ chồng không được phép mua lại cổ phần của công ty trước đó họ đã cùng là đối tác, nếu như điều đó có lợi cho riêng một người.

- Cảm ơn anh Davenport. - Giáo sư nói vừa lúc chuông đồng hồ đánh mười một tiếng. “Chữ “nhưng” của anh rất đúng.” Tiếng vỗ tay nổ ran. “Nhưng chưa hoàn toàn đúng đâu,” Giáo sư Abrahams nói thêm lúc ông rời giảng đường.

 

*

 

Nat sốt ruột ngồi chờ trên bờ tường đối diện với phòng ăn. Sau khi đã nhìn hết lượt khoảng năm trăm cô gái từ phòng ăn đi ra, anh kết luận có lẽ cô ta gầy chỉ vì không chịu ăn đó thôi. Bỗng thấy cô ta chạy vụt qua cánh cửa xoay. Nat đã nhiều lần làm thế rồi, nhưng cũng phải vất vả mới theo kịp cô ta. “Chào, tôi là Nat đây.” Cô ta nhìn lại nhưng không cười. “Hôm trước chúng ta đã gặp nhau rồi mà.” Cô ta vẫn không đáp.

- Trên đỉnh đối ấy.

- À, tôi nhớ ra rồi, - cô ta đáp.

- Nhưng cô không cho biết tên.

- Không, nhưng tôi không nói.

- Tôi có làm gì khiến cô khó chịu không?

- Không.

- Vậy xin hỏi khi đó cô nói “tiếng tăm” nghĩa là thế nào?

- Anh Cartwright, có lẽ anh sẽ ngạc nhiên nếu biết ở học xá này có nhiều cô gái không hề nghĩ rằng họ có thể hiến thân cho anh, đơn giản chỉ vì anh có Huân chương Danh Dự đâu nhé.

- Tôi chưa hề có ý nghĩ như vậy.

- Nhưng chắc anh biết rằng ở học xá có đến nửa số cô gái nói là họ đã ngủ với anh.

- Có thể họ nói như vậy, - Nat đáp. “nhưng chỉ có hai cô có thể chứng thực được thôi.”

- Nhưng ai cũng biết có nhiều cô chạy theo anh.

- Hầu hết những cô đó không tiếp tục, tôi chắc cô biết thế. - Anh cười, nhưng cô ta không phản ứng. “Tại sao tôi không thể yêu một cô nào như mọi người thường làm nhi?”

- Nhưng anh không như mọi người, - cô ta bình tĩnh đáp. “Anh là một anh hùng trong chiến tranh, lại có lương đại úy, vì thế anh tưởng ai cũng yêu anh được.”

- Ai bảo cô thế?

- Một người đã biết anh từ hồi ở trường.

- Chắc là Ralph Elliot.

- Đúng, chính là người mà anh đã đánh lừa trong việc bầu Chủ tịch Hội Sinh viên trường Taft.

- Cô bảo sao? - Nat hỏi.

- ...sau đó lấy bài luận của anh ta để xin vào trường Yale, - cô ta nói, không để anh ngắt lời.

- Chính anh ta bảo cô thế ư?

- Phải, - cô ta thủng thẳng đáp.

- Vậy có lẽ cô nên hỏi anh ta tại sao anh ta không vào Yale được.

- Anh ta giải thích rằng anh đã đổ lỗi cho anh ta, vì thế anh ta cũng mất chức luôn. - Nat đã sắp nổi xung, nhưng cô ta nói tiếp, “Bây giờ anh lại muốn làm Chủ tịch Hội Sinh viên, hình như anh có chiến lược là cứ nằm im để giành thắng lợi.”

Nat cố giữ bình tĩnh. “Một là, tôi không thích ra ứng cử chức Chủ tịch. Hai là, trong đời tôi chỉ ăn nằm với ba cô, một sinh viên tôi quen biết từ hồi ở trường, một cô thư ký hồi còn ở Việt Nam, và một đêm với một cô mà đến nay tôi phải hối tiếc. Nếu cô có thể tìm ra ai nữa, xin cô giới thiệu cho để tôi làm quen.” Cô ta đứng sững lại, lần đầu tiên nhìn chằm chằm vào Nat.

- Bất cứ ai khác cũng được, - Nat nhắc lại. “Bây giờ tôi muốn biết tên cô được không?”

- Su Ling, - cô ta khẽ nói.

- Su Ling, nếu tôi hứa không bao giờ định quyến rũ cô trước khi hỏi lấy cô làm vợ, tìm đến xin phép cha cô, đưa ra chiếc nhẫn cưới và xin tổ chức làm lễ ở nhà thờ, ít ra bây giờ cô cũng để tôi mời đi ăn tối được chứ?

- Su Ling cười. “Để tôi nghĩ xem đã,” cô ta đáp. “Tôi đang vội đi nghe bài giảng buổi chiều đây.”

- Nhưng tôi tìm cô ở đâu được? - Nat gạn hỏi.

- Đại úy Cartwright, anh đã tìm được Việt Cộng thì tìm tôi có khó gì?

 

 

 

 

17

 

- Mời mọi người đứng dậy. Đây là vụ kiện giữa Nhà nước với Bà Kirsten. Chán án Justice Abernathy chủ tọa.

Viên chánh án ngồi vào chỗ nhìn xuống bàn luật sư bào chữa. “Bà Kirsten, bà biện hộ thế nào đây?”

Fletcher đang ngồi sau bàn đứng dậy nói. “Thưa ngài, thân chủ của tôi nói bà không có tội.”

Chánh án ngẩng lên. “Ông thay mặt bị cáo?”

- Vâng, thưa ngài.

Chánh án Abernathy nhìn xuống văn bản buộc tội. “Ông Davenport, trước đây tôi chưa từng gặp ông?”

- Chưa, thưa ngài. Đây là lần đầu tôi ra tòa.

- Ông Davenport, mời ông đến gần đây.

- Vâng. - Fletcher bước ra tiến đến gần chánh án. Viên chưởng lý bước theo sau..

- Chào các ông, - chánh án Abernathy nói. “Xin hỏi ông Davenport, ông có tư cách pháp lý gì ở tòa án này không?”

- Không, thưa ngài.

- À ra thế. Thân chủ của ông có biết điều đó không?

- Có, thưa ngài. Bà ta có biết.

- Nhưng bà ta vẫn muốn ông thay mặt, mặc dù đây là một vụ trọng tội.

- Đúng vậy, thưa ngài.

Chánh án quay sang phía luật sư bang Connecticut. “Ông có phản đối việc ông Davenport thay mặt cho bà Kirsten không?”

- Hoàn toàn không, thưa ngài, thực ra Nhà nước hoan nghênh điều đó.

- Tôi cũng chắc thế, - chánh án nói. “Nhưng ông Davenport, tôi cần hỏi ông có kinh nghiệm gì về luật pháp không?”

- Không nhiều lắm, thưa ngài, - Fletcher đáp. “Tôi là sinh viên luật năm thứ hai ở trường Yale. Đây cũng là vụ đầu tiên của tôi.” Chánh án và viên chưởng lý mỉm cười.

- Xin hỏi người phụ trách học tập là ai thế? - chánh án hỏi.

- Giáo sư Karl Abrahams.

- Vậy tôi tự hào làm chủ tọa vụ đầu tiên này của ông, ông Davenport ạ, vì đó là điều chúng ta có chỗ giống nhau. Còn ông thế nào, ông Stamp?

- Không, thưa ngài. Tôi học ở Nam Carolina.

- Tuy không hợp lệ lắm, nhưng cuối cùng vẫn do bị cáo quyết định. Vậy ta cứ tiến hành ngay. - Viên chưởng lý và Fletcher trở về chỗ,

Chánh án nhìn Fletcher hỏi. “Ông Davenport, ông có xin đóng tiền bảo lãnh không?”

Fletcher đứng dậy. “Có, thưa ngài.”

- Trên cơ sở nào?

- Bà Kirsten chưa hề có tiền lệ, do đó không nguy hại đến công chúng. Bà là mẹ của hai đứa trẻ, Alan bảy tuổi, và Della năm tuổi. Hai hiện đang sống với bà ngoại ở Hartford.

Chánh án quay sang viên chưởng lý. “Nhà nước có phản đối việc cho ông Stamp được bảo lãnh không?”

- Chúng tôi phản đối, thưa ngài. Không những vì đây là vụ trọng tội, mà còn là vụ giết người có tính toán. Chúng tôi khẳng định bà Kirsten là mối nguy cho xã hội, còn định trốn tránh sự tài phán của nhà nước.

Fletcher đứng dậy. - Tôi phản đối, thưa ngài.

- Trên cơ sở nào, ông Davenport?

- Đây là một vụ trọng tội, vì vậy xử trong phạm vì bang là không phù hợp. Thưa ngài, dù sao quê bà Kirsten là ở Hartford, bà kiếm sống bằng việc trông coi bệnh viện ở St. Mary, các con bà đi học ở trường địa phương.

- Ông còn đệ trình thêm gì không, ông Davenport.

- Không, thưa ngài.

- Bác bỏ bảo lãnh, - chánh án nói và gõ một nhát búa. “Phiên tòa lui đến ngày thứ Hai, mười bảy.”

- Mọi người đứng dậy.

Chánh án Justice Abernathy nháy mắt với Fletcher khi ông rời phòng xử án.

 

*

 

Ba mươi tư phút mười giây. Nat không giấu được sung sướng chẳng những đã phá kỷ lục bản thân mà còn được xếp thứ sáu trong các cuộc thi ở trường. Như vậy anh sẽ được chọn tham dự trận đấu khai mạc với trường Đại học Boston.

Nat sắp tập xong thi Tom bước đến. “Mừng cho cậu,” Tom nói. “Tớ đoán đến cuối khóa thế nào cậu cũng bớt được một phút nữa.”

Nat nhìn vết sẹo đỏ ở bụng chân và kéo quần lên. “Tối nay cùng đi ăn nhé,” Tom nói, “và cũng liên hoan luôn, vì tớ có chuyện muốn nói với cậu trước khi quay về trường Yale.”

- Tối nay không được rồi, - Nat nói lúc họ vào phòng thay quần áo. “Tớ có hẹn.”

- Cô nào tớ quen không?

- Không, - Nat đáp. “Đây là cuộc hẹn lần đầu kể từ mấy tháng nay. Chính tớ cũng hồi hộp.”

- Đại úy Cartwright mà biết hồi hộp ư? Rồi sao nữa? - Tom bĩu môi.

- Vấn đề là ở đó, - Nat nói. “Cô ta nghĩ tớ vừa là Don Juan vừa là Al Capone.”

- Thế thì cô ta xét đoán giỏi đấy, - Tom nói. “Cậu kể về cô ta xem.”

- Không có gì đáng nói đâu. Tụi mình cùng chạy lên đỉnh đồi. Cô ta thông minh, hung dữ, khá đẹp, và nghĩ mình là một thằng hèn.” Rồi Nat kể lại cuộc nói chuyện của hai người ở ngoài phòng ăn.

- Đúng là có Ralph Elliot chen vào trước rồi, - Tom nói.

- Mặc kệ thằng Elliot. Tớ có nên mặc áo đeo ca- vát không?

- Từ hồi học ở Taft đến giờ có thấy cậu hỏi ý kiến về chuyện ấy đâu?

- Hồi đó tớ còn mượn áo và ca- vát của cậu. Vậy cậu thấy thế nào?

- Mặc quân phục đầy đủ và đeo huân chương nữa.

- Nói đứng đắn nào.

- Như vậy càng khiến cô ta hiểu rõ về cậu chứ sao?

- Đúng là tớ muốn cô ta phải tin ra đây.

- Cậu cứ làm theo ý cô ta đi.

- Làm thế nào?

- Cậu nghĩ cô ta sẽ mặc gì?

- Chịu. Tớ mới gặp cô ta lần hai. Năm ngoái cô ấy đua nhanh chóng, quần ngắn váy đầy bụng.

- Ui chà, thế thì gọi tính làm gì. Khác lần này cô ta không mặc thể thao đâu. Còn lần gặp sau thế nào?

- Cô ta mặc bình thường nhưng cũng rất thời trang.

- Vậy cứ theo cô ta, nhưng không được cố gắng tỏ ra mình chẳng có gì hợp thời trang. Với lại như cậu nói, nếu không tìm là cái sự khiêm tốn.

- Thì cậu trả lời đi đã, Nat nói.

- Theo tớ thì cứ mặc bình thường, - Tom nói. “Sơ mi, đừng mặc áo phông, quần và áo len. Cố nhiên tớ muốn làm cố vấn về trang phục lịch sự, tớ cũng có thể ngồi ăn cùng với hai người.

- Tớ không muốn cậu xuất hiện ở bất cứ chỗ nào gần đó, vì trông thấy cô ta cậu sẽ phải lòng ngay.

- Cậu thật sự quan tâm đến cô ta phải không? - Tom khẽ hỏi.

- Tớ nghĩ cô ta rất thánh thiện, nhưng có vẻ như cô ta không tin ở tớ.

- Nhưng đã nhận lời ăn tối với cậu thì cô ta không thể cho là cậu tồi.

- Đúng đấy, sự thỏa thuận này xem ra không bình thường, - Nat nói và kể lại cho Tom nghe anh đã nói những gì trước khi cô ta đồng ý gặp.

- Thế là cậu dại. Nhưng dù sao việc tớ cần nói chuyện với cậu cũng không thay đổi được. Cùng ăn sáng vậy nhé? Hay cậu thích món trứng và thịt muối xông khói với người đàn bà phươnng Đông ấy?

- Tớ sẽ ngạc nhiên nếu cô ta cũng thích thế, - Nat ranh mãnh đáp. - “Và thất vọng nữa.”

 

*

 

- Anh tính vụ đấy sẽ xử trong bao lâu? Annie hỏi.

- Nếu cãi được vô tội, hoặc nếu có chỉ là ngộ sát, thì chỉ một buổi sáng là xong, có lẽ thêm một buổi tuyển án.

- Làm thế được không? - Jimmy hỏi.

- Được, chính quyền bang có thỏa thuận với tớ.

- Thỏa thuận thế nào? - Annie lại hỏi.

- Nếu anh đồng ý đó là ngộ sát, Stamp chỉ đòi ba năm chứ không hơn. Nghĩa là nếu Anita Kirsten hạnh kiểm tốt và hứa danh dự, mười tám tháng sau bà ta có thể được tha về. Nếu không, hắn nhất định đòi đây là cấp một và phải xử tử.

- Ở bang này, chả bao giờ họ đưa một người đàn bà lên ghế điện chỉ vì bà ta giết chồng.

- Anh cũng nghĩ thế, - Fletcher nói. “Nhưng một đoàn bồi thẩm nghiệt ngã có thể đòi xử tù chín mươi chín năm. Bị cáo mới hai mươi lăm tuổi, anh phải chấp nhận ý kiến bà ta có thể đồng ý với mười tám tháng, như vậy bà ta còn có hy vọng suốt đời được sống với gia đình.”

- Đúng thế, - Jimmy nói, “Nhưng tớ tự hỏi tại sao viên chưởng lý lại đồng ý ba năm tù nếu hắn cho đây là một trọng tội? Nên nhớ người đàn bà đó là da đen, bị buộc tội giết một người da trắng, mà trong đoàn bồi thẩm ít nhất có hai người da đen. Nếu cậu biết sử dụng con bài thì tất cả là ba người da đen, do đó có thể tranh thủ đoàn bồi thẩm được chứ?”

- Hơn nữa, thân chủ của tớ lại được tiếng tốt, làm việc tử tế, không hề có tiền sự. Riêng điều đó có thể ảnh hưởng đến đoàn bồi thẩm, dù thuộc màu da nào đi nữa.

- Điều đó chưa chắc đâu, - Annie nói. “Thân chủ của anh đầu độc chồng bằng một liều cao nhựa độc, gây tê liệt, rồi bà ta còn ngồi ở cầu thang chờ cho chồng chết.”

- Nhưng hắn đã đánh vợ chửi con bao nhiêu năm rồi, - Fletcher nói.

- Cậu có chứng cứ gì về việc đó không? - Jimmy hỏi.

- Không có, nhưng hôm bà ta đồng ý cho tơ bào chữa, tớ đã chụp ảnh nhiều vết thâm tím trên người, kể cả bàn tay bà ta bị đốt cũng sẽ còn mãi suốt đời.

- Sao bà ta bị thế? - Annie hỏi.

- Cái thằng chồng hèn mạt ấy ấn tay bà ta vào lò lửa, đến lúc bà ta ngất đi hắn mới buông ra.

- Thằng cha gớm nhỉ, - Annie nói. “Vậy anh làm gì mà chẳng cãi là ngộ sát được, đòi trường hợp đó phải gảm tội chứ.”

- Anh chỉ sợ cãi không được, và bà Kirsten phải ngồi tù đến hết đời.

- Nhưng tại sao bà ta lại đòi cậu phải bào chữa? Jimmy hỏi.

- Chả có ai khác dám nhận, - Fletcher đáp. “Vả lại bà ta thấy khoản chi phí cho tớ cũng hấp dẫn.”

- Nhưng cậu phải đối phó với chưởng lý bang.

- Điều này cũng hơi khó hiểu. Tớ không biết tại sao hắn lại đại diện cho chính quyền bang trong vụ này.

- Dễ hiểu thôi. - Jimmy nói. “Phụ nữ da đen giết người da trắng ở một bang chỉ có hai chục phần trăm dân số là da đen, mà quá nửa không muốn đi bầu. Cậu không thấy sao, tháng Năm này đã có bầu cử rồi!”

- Stamp cho anh bao nhiêu thời gian trước khi anh phải cho hắn biết quyết định? - Annie hỏi.

- Thứ Hai sau ra tòa rồi.

- Anh có đủ thời gian cho một vụ xử kéo dài không?

- Không, nhưng anh không thể dùng cớ đó để thỏa hiệp.

- Vậy sau phiên thứ ba chúng ta có thể đi nghỉ chứ? - Annie cười nói.

- Có thể có cả phiên thứ tư nữa. - Fletcher vòng tay ôm vợ.

- Anh có nghĩ nên hỏi ý kiến Giáo sư Abrahams xem chúng ta nên cãi thế nào không?

Jimmy, và Fletcher ngạc nhiên nhìn cô. “Ông ấy chỉ góp ý kiến cho các Tổng thống và nguyên thủ quốc gia thôi.” Fletcher nói.

- Và thỉnh thoảng cho các Thống đốc bang nữa, - Jimmy nói thêm.

- Thế thì bây giờ đã đến lúc ông ấy nên góp ý kiến cho sinh viên luật năm thứ hai. Dù sao ông ấy cũng được trả lương cho việc đó mà.

- Anh chả biết nên bắt đầu ở đâu, - Fletcher nói.

- Hay cứ nhấc điện thoại hỏi xem ông ấy có cho gặp không? - Annie nói. “Em đoán ông ấy sẽ sẵn lòng.”

 

*

 

Nat đến Mario trước mười lăm phút. Anh chọn nhà hàng này vì ở đây giản dị, bàn trải khăn trắng đỏ, có vài lọ hoa, tường chỉ trang trí bằng mấy tấm ảnh đen trắng về Florence. Tom cũng bảo món ăn ở đây do vợ ông chủ làm, khi ăn sẽ nhớ đến chuyến đi Rome. Anh nghe lời khuyên của Tom, mặc chiếc sơ mi xanh, quân xám và áo len thủy thủ, không ca- vát, không áo ngoài. Tom thấy như thế là được.

Nat tự giới thiệu với nhà hàng Mario, chọn một chiếc bàn trong góc. Sau khi xem đi xem lại thực đơn, anh nhìn đồng hồ mà sốt ruột. Anh kiểm tra lại túi hàng chục lần xem có mang đủ tiền mặt không nếu nhà hàng không chịu nhận thẻ tín dụng. Anh nghĩ có lẽ nên đi quanh một lúc đã rồi hãy quay lại. Anh xúc động trông thấy cô. Su Ling mặc bộ đồ màu xanh rất đẹp, áo sơ mi màu kem nhạt, đi đôi giầy nhẹ. Nat đứng dậy vẫy tay. Cô mỉm cười bước đến, một nụ cười anh chưa từng gặp lần nào, hấp dẫn lạ thường.

- Xin lỗi, - anh mời cô ngồi.

- Xin lỗi về cái gì? - cô ta ngạc nhiên hỏi.

- Về quần áo của tôi. Thú thật tôi nghĩ mãi không biết nên mặc đồ gì.

- Tôi cũng thế, - Su Ling nói. “Tôi tưởng anh sẽ mặc quân phục và đeo huân chương chứ.” Cô cởi áo ngoài vắt vào lưng ghế.

Nạt bật cười. Hình như sau đó hai người cứ cười hoài cho đến lúc Nat hỏi cô muốn uống cà-phê không. “Vâng, xin cho cà-phê đen,” Su Ling đáp.

- Tôi đã kể cho cô nghe về gia đình rồi, giờ đến lượt cô, - Nat nói. “Cô cũng là con một như tôi chứ?”

- Vâng, cha tôi là chuẩn úy trong quân đội ở Triều Tiên khi gặp mẹ tôi. Hai người mới lấy nhau được mấy tháng thì cha tôi chết trong trận ở Yudan- ni.

Nat muốn vươn tay qua bàn nắm lấy tay cô. “Xin chia buồn,” anh nói.

- Cảm ơn, - cô chỉ đáp thế. “Mẹ tôi quyết định di cư sang Mỹ để được gặp ông bà nội, nhưng không sao tìm ra được.” Lần này thì anh cầm tay cô thật. “Khi ấy tôi còn nhỏ nên không biết gì hết. Mẹ tôi không chịu ngồi yên, xin được một việc làm ở công ty giặt Storrs, gần thư viện, và nhà chủ cho chúng tôi được ở căn phòng tầng trên cửa hàng.”

- Tôi biết cửa hàng ấy, - Nat nói. “Cha tôi thường đem đồ đến đó giặt. Họ làm tốt lắm, và...”

- Và chúng tôi ở đó cho đến khi mẹ tôi cai quản cửa hàng. Mẹ tôi hy sinh mọi thứ để tôi được học hành tử tế.

- Thế thì mẹ cô cũng hoàn toàn như mẹ tôi, - Nat nói, vừa lúc ấy chủ nhà hàng Mario đến đứng bên cạnh.

- Ông hài lòng chứ, ông Cartwright?

- Thức ăn ngon lắm. Cảm ơn ông Mario. - Nat đáp. “Bây giờ xin ông tính tiền cho.”

- Vâng, thưa ông Cartwright. Rất hân hạnh được ông đến nhà hàng.

- Cảm ơn ông, - Nat nói, vẻ lúng túng.

- Anh cho bao nhiêu tiền mà ông ta nói thế? - Su Ling hỏi lúc Mario đã đi ra chỗ khác.

- Mười đô-la. Tôi đến đây luôn nên ông ta quen mặt.

- Nhưng anh được lợi gì? - Su Ling lại hỏi.

- Có chứ. Phần lớn những cô bồ tôi hẹn đến đây đều thoải mái ra về.

- Anh thường đưa bồ đến đây ư?

- Không, gặp qua loa rồi đến nhà hàng McDonald, rồi vào một quán trọ bên đường. Nếu đàng hoàng thì đến quán Atnaveigh.

- Những ai hay đến đây với anh? - Su Ling hỏi.

- Khó nói, - Nat đáp. “Vì trước nay tôi chưa hẹn ai đến Mario.”

- Thế thì hân hạnh cho tôi, - Su Ling nói. Anh giúp cô khoác áo vào người. Họ cùng bước ra bên ngoài. Su Ling bỗng cầm tay anh nói: “Anh còn e thẹn lắm nhỉ?”

- Có lẽ thế, - Nat đáp, rồi hai người cùng đi về phía học xá.

- Anh chẳng giống đối thủ Ralph Elliot của anh một tí nào. - Nat không nói gì. “Anh ta vừa gặp tôi được vài phút đã hẹn hò ngay.”

- Nói đúng ra, tôi cũng muốn thế, - Nat nói. “Nhưng vừa gặp, cô đã bỏ đi ngay.”

- Lúc đó tôi đang chạy cơ mà. - cô nói. Nat quay lại mỉm cười. “Và còn muốn biết anh đã thấy những gì ở Việt Nam mà có thể trở thành anh hùng được như vậy.” Nat đang định lên tiếng thì cô nói tiếp: “Trong nửa giờ nữa trả lời.”

- Sao cô biết chuyện ấy? - Nat hỏi.

- Vì tôi đã nghiên cứu về anh, đại úy Cartwright. Trích dẫn Steinbeck, phải nói là “anh đã đi nhầm thuyền”. Hôm nay tôi nói lại câu ấy để anh tưởng tôi đã đọc nhiều. Khi nhảy lên máy bay trực thăng, anh đã không đem theo súng. Anh là thứ sĩ quan không được phép lên máy bay nhưng anh cứ nhảy lên. Mà giả thử không làm thế thì anh cũng bị đưa ra tòa án binh đấy.”

- Đúng, - Nat đáp. “Nhưng cô đừng nói cho ai biết, vì như vậy mỗi đêm tôi sẽ không được gặp ba cô gái nữa.”

Su Ling che miệng cười. “Rồi tôi đọc tiếp mới biết sau khi máy bay rơi vào rừng, anh đã tỏ ra rất dũng cảm. Phải dũng cảm lắm mới kéo được một thương binh nằm trên cáng trong khi đó một bên chân anh cũng bị thương, rồi sau anh thương binh ấy cũng qua đời do vết thương quá nặng.” Nat không nói gì. Khi hai người về đến khu nam học xá, Su Ling nói thêm: “Tôi xin lỗi về những lời nói vô tâm vừa rồi nhé.”

- Cô tìm hiểu sự thật như vậy là tốt, - anh đáp và nhìn vào đôi mắt nâu đậm. “Không mấy ai quan tâm đến điều đó đâu.”

 

 

18

 

- Thưa các vị trong đoàn bồi thẩm, phần lớn những vụ xử tội giết người thì trách nhiệm của chính quyền bang là phải chứng minh rằng bị cáo đã phạm tội. Nhưng ở đây không cần thiết phải như vậy. Tại sao? Vì bà Kirsten đã viết bản thú tội một giờ sau khi chồng bà bị giết một cách tàn bạo. Cho đến bây giờ, tám tháng sau, người đại diện pháp lý của bà ta vẫn chưa một lần nói thân chủ không phạm tội, cũng không giải thích tại sao.

- Vì vậy cần trở lại với tình tiết sự việc. Đây không phải trường hợp một tội ác tình dục trong đó người đàn bà tự vệ bằng bất cứ vũ khí nào có trong tay. Không, bà Kirsten không cần có vũ khí trong tay. Từ nhiều tuần trước đó, bà ta đã có kế hoạch giết người một cách tàn bạo và biết rằng nạn nhân chẳng có cơ hội nào chống lại.

- Bà Kirsten đã làm thế nào? Trong gần ba tháng, bà ta thu thập nhiều lọ chứa chất độc curare mua của những tay bán thuốc ở Hartford. Bị cáo nói không thể tin vào lời khai của những tay bán thuốc, và bản thân bà Kirsten cũng không xác nhận nhân chứng đã nói sự thật.

- Sau mấy tuần thu thập những lọ chứa chất độc ấy, bà Kirsten đã làm gì? Bà ta chờ đến đêm thứ Bảy, khi biết chồng đi uống rượu với các bạn, lén đổ chất độc vào sáu chai bia và thay luôn cả nắp chai. Bà ta để những chai bia lên bàn trong bếp, để nguyên đèn sáng rồi lên giường nằm. Bà ta còn để thêm cái mở chai và cốc bên cạnh. Bà ta làm mọi thứ trừ việc rót bia ra cốc.

- Thưa các vị trong đoàn bồi thẩm, đây là vụ giết người được bố trí và thực hiện rất khéo. Nếu các vị không tin, xin nghe tôi trình bày tiếp.

- Đêm đó chồng bà ta về nhà liền rơi vào bẫy. Trước hết ông ta vào bếp, có lẽ để bật đèn. Nhưng thấy trên bàn có mấy chai bia, ông Alex Kirsten muốn uống bia đã rồi đi ngủ sau. Ông ta chưa kịp uống đến chai thứ hai thì chất độc đã có hiệu lực. Ông ta kêu cứu, nhưng bà vợ bước ra khỏi phòng ngủ đi xuống nhà dưới, trong khi vẫn nghe tiếng chồng kêu la đau đớn. Bà ta có gọi xe cấp cứu không? Không, bà ta không gọi. Bà ta ngồi ở cầu thang chờ cho tiếng kêu la im hẳn để biết chắc ông ta đã chết. Lúc đó bà ta mới báo động.

- Sao có thể biết chắc sự việc đã xảy ra như vậy? Không chỉ có hàng xóm thức dậy khi nghe tiếng ông ta kêu cứu, nhưng khi có người hàng xóm chạy sang hỏi xem có thể giúp được gì, thì bà Kirsten luống cuống mà quên đem đổ bốn chai bia còn lại. - Ông ta ngừng một lát rồi nói tiếp. “Đem phân tích, chất độc trong bốn chai bia ấy đủ giết chết cả một đội bóng.”

- Thưa các vị trong đoàn bồi thẩm, điều duy nhất ông Davenport bào chữa là bà Kirsten luôn bị chồng đánh đập. Nếu đúng như vậy, sao bà ta không gọi cảnh sát? Nếu đúng như vậy, sao bà ta không về sống với mẹ đẻ bên kia thành phố? Nếu điều bà ta nói là đúng, sao bà ta không bỏ chồng? Tôi xin giải thích để các vị rõ. Một khi chồng bà ta không còn, bà ta sẽ hưởng ngôi nhà họ đang sống và hưởng lương hưu của công ty nơi ông ta làm việc, và bà ta có thể sống tương đối đầy đủ cho đến trót đời.

- Nếu là trường hợp bình thường, chính quyền bang đã không ngần ngại yêu cầu tử hình đối với một tội ác kinh khủng như vậy. Nhưng chúng tôi thấy trường hợp này không hoàn toàn thích hợp. Tuy nhiên, tôi nghĩ bổn phận của các vị là phải công bố rõ cho bất cứ kẻ nào tưởng giết người mà có thể thoát tội. Các bang khác có thể xem nhẹ tội này, nhưng bang Connecticut thì không. Chẳng lẽ chúng ta muốn mọi người biết rằng bang này không trừng phạt những vụ giết người?

Viên chưởng lý hạ giọng và nhìn sang đoàn bồi thẩm. “Nếu các vị còn chút cảm tình với bà Kirsten, mà thực ra nên như vậy, nếu các vị còn quan tâm đến con người, xin các vị hãy đặt nó vào phía gọi là công lý. Mặt khác, xin các vị hãy nhìn vào sự thật này: tàn nhẫn giết chết một người đàn ông bốn mươi hai tuổi, người mà lẽ ra hôm nay còn sống nếu như không bị một người đàn bà xấu xa giết chết bằng một tội ác được tính trước.” Ông ta quay ra chỉ thẳng vào bị cáo. “Chính quyền bang không ngần ngại yêu cầu các vị tuyên bố bà Kirsten có tội, và phải xử bà ta theo đúng luật.” Ông Stamp trở về chỗ với một nụ cười trên mặt.

- Ông Davenport, - chánh án nói. “Tôi đề nghị ta hãy nghỉ ăn trưa đã. Lúc quay lại đây, ông có thể trình bày tóm tắt.”

 

*

 

- Trông cậu có vẻ hài lòng lắm hả? - Tom nói lúc họ ngồi ăn sáng trong bếp.

- Một tối không thể nào quên.

- Như vậy có thể cho là đã chung chăn gối được chưa?

- Không, không thể “cho là” như thế được, - Nat đáp. “Chỉ mới cầm tay nàng thôi.”

- Sao?

- Tớ cầm tay nàng, - Nat nhắc lại.

- Thế thì thanh danh của cậu chẳng đi đến đâu.

- Nhưng tớ lại muốn mất thanh danh cơ, - Nat nói và rót thêm sữa vào món ăn sáng. “Còn cậu thế nào?” Nat hỏi.

- Nếu cậu muốn hỏi về đời sống tình dục của tớ thì hiện nay không có gì, mặc dù không thiếu nhưng cũng chẳng thừa. Chỉ là tớ không quan tâm đó thôi. - Nat ngước mắt nhìn bạn. “Chẳng phải Rebecca Armitage vẫn sẵn sàng đấy ư?”

- Nhưng tớ tưởng...

- Là cô ta quay lại với Elliot chứ gì?

- Đúng.

- Cũng có thể như vậy, nhưng mỗi lần gặp chỉ thấy cô ta ưng nhắc đến cậu bằng những lời lẽ ca tụng. Còn tớ nghe nói hễ gặp Elliot thì cô ta lại nói cách khác.

- Nếu là như vậy, - Nat lại nói, “sao cậu còn nghĩ cô ta bỏ cậu?”

Tom đặt chiếc bát không sang bên, lấy hai quả trứng luộc. Anh ta đập vỏ trứng, mắt nhìn vào lòng đỏ. “Nếu biết mình là con một và bố có tài sản bạc triệu, hầu hết phụ nữ sẽ nhìn bằng con mắt khác. Nhưng tớ không bao giờ chắc đó là tớ, hoặc giả họ cũng chẳng quan tâm đến tiền. Cậu phải lấy làm mừng vì không gặp trường hợp như của tớ.”

- Nếu gặp đúng người cậu sẽ biết, - Nat nói.

- Không chắc thế đâu. Cậu là một trong số ít người chả bao giờ để ý đến việc tớ có nhiều tiền. Theo tớ biết cậu cũng gần như người duy nhất tự mình bỏ tiền trả. Rất nhiều người cho rằng tớ sẵn sàng trả tiền thay cho họ. Tớ coi khinh những người đó, và như vậy cũng có nghĩa là bạn bè của tớ ngày càng ít đi.

- Tớ cũng có mấy bạn đâu, - Nat nói như để an ủi Tom. “Và tớ biết cậu sẽ thích cô ta.”

- Cái cô cậu “cầm tay” ấy ư?

- Phải, tên cô ta là Su Ling. Ngược, kiểu đó hiện đang hợp thời. Hẳn cô ta phải được cả học xá theo đuổi.

- Su Ling à? - Tom nói.

- Cậu biết cô ta ư? - Nat hỏi.

- Không, nhưng bố tớ bảo cô ta quản phòng thí nghiệm máy tính mới do công ty của bố tớ tài trợ, mà các giáo viên phụ đạo cũng chẳng ai cần phải dạy cô ta.

- Tối qua cô ta không hề nhắc gì đến chuyện máy tính, - Nat nói.

- Vậy cậu phải nhanh lên, vì bố tớ nói cả Trung tâm công nghệ Massachusett và trường Harvard đều đang muốn kéo cô ta khỏi trường đại học Connecticut. Cậu cẩn thận nhé, thân hình nhỏ bé của cô ta chứa đựng một bộ óc lớn đấy.

- Vậy mà sao tớ lại ngu ngốc thế chứ, - Nat nói. “Tớ còn đùa về Anh ngữ của cô ta, không biết rằng cô ta làm chủ một ngôn ngữ mới mà mọi người đang cần biết. Nhân đây hỏi cậu có phải vì thế mà tìm tớ không?”

- Không, tớ không hề biết bồ của cậu là một thiên tài.

- Không phải bồ đâu, - Nat nói. “Cô ta đẹp, dễ thương, có đầu óc. Cô ta cho việc câm tay nhau chỉ là ngẫu nhiên thôi.” Ngừng một lát, Nat hỏi: “Nhưng nếu cậu không định hỏi về chuyện tình dục thì hẹn tớ ăn sáng ở đây làm gì?”

Tom để món trứng sang một bên, không ăn nữa. “Trước khi quay về trường Yale, tớ muốn biết cậu có ứng cử chức Chủ tịch không.” Anh ta chờ Nat trả lời, đoán thế nào Nat cũng gạt đi và bảo anh ta chọn lầm người. Nhưng một lúc lâu không thấy Nat nói gì.

- Tối qua tớ cũng bàn chuyện ấy với Su Ling, - Nat đáp. “Cô ta bảo sẽ chẳng mấy ai bầu cho tớ, cũng chẳng mấy ai muốn bầu cho Elliot. Tớ nhớ chính xác cô ta nói đó chỉ là chọn cái nào ít xấu hơn giữa hai cái xấu.”

- Cô ta nói phải đấy, - Tom nói. “Nhưng điều đó có thể thay đổi nếu họ có cơ hội biết về cậu. Từ khi về trường, cậu sống như một người ẩn dật.”

- Tớ có rất nhiều việc phải cố đuổi cho kịp, - Nat thanh mình.

- Không cần phải thế, vì điểm trung bình của cậu đã rõ rồi, - Tom nói. “Bây giờ người ta đã chọn cậu ra ứng cử...”

- Nếu cậu ở trường Connecticut thì tớ sẽ không ngần ngại ra ứng cử, nhưng nay cậu đã ở trường Yale, thì...

 

*

 

Fletcher đứng dậy nhìn sang đoàn bồi thẩm. Anh thấy trên mặt họ như đã viết sẵn chữ “chín mươi chín năm tù”.

Nếu có thể quay ngược thời gian và chấp nhận cái án ba năm tù, anh cũng sẽ làm ngay. Bây giờ anh chỉ còn một cách là đánh tiếng bạc, làm sao cứu văn cho bà Kirsten khỏi lĩnh án chung thân. Anh đặt tay lên vai thân chủ, quay ra tìm một nụ cười động viên của Annie vốn rất tin rằng anh sẽ bào chữa được cho người đàn bà này. Nụ cười bống biến mất khi anh nhìn thấy người ngồi sau Annie hai hàng ghế. Giáo sư Karl Abrahams gật đầu như ban phước cho anh. Jimmy thường bảo kiếm được cái gật đầu của ông rất khó.

- Thưa các vị trong đoàn bồi thẩm, - Fletcher bắt đầu nói, giọng hơi run. “Các vị đã nghe những lời biện hộ rất thuyết phục của ông chưởng lý. Những lời ấy như đổ thêm chất độc lên thân chủ của tôi. Có lẽ đã đến lúc tôi cần chứng minh rằng chất độc nên đổ vào đâu. Nhưng trước hết tôi dành vài lời về các vị. Báo chí đã nói nhiều về chuyện tôi không phản đối những vị bồi thẩm da trắng. Đúng là có mười vị da trắng trong đoàn bồi thẩm. Báo chí còn nói nếu như có một đoàn bồi thẩm toàn da đen và đa số là nữ, thì bà Kirsten chắc chắn sẽ được tha bổng. Nhưng tôi không muốn như vậy. Tôi lựa chọn mỗi người trong các vị vì một lý do khác.” Các thành viên đoàn bồi thầm ngỡ ngàng.

- Ngay cả ông chưởng lý cũng không hiểu được tại sao tôi không phản đối một số vị, - Fletcher nhìn sang ông Stamp nói tiếp. “Tôi cầu mong không ai trong các vị đoán được tại sao tôi có sự chọn lựa như thế. Trong thâm tâm các vị có điều gì đó nghĩ như nhau?” Đến lúc này cả viên chưởng lý và đoàn bồi thẩm đều ngơ ngác. Fletcher quay sang chị vào bà Kirsten. “Cũng như bị cáo này, mỗi người trong các vị đều đã có gia đình từ chín năm trở lên.” Rồi Fletcher lại quay sang doản bồi thẩm, “Những người độc thân hoặc chưa lấy chồng không thể biết thông nó là cuộc sống gia đình, càng không thể biết những gì xảy ra giữa hai người trong nhà khi họ đã đóng cửa.” Fletcher chợt nhìn thấy một bà ở hàng ghế thứ hai rùng mình. Anh nhớ đã có lần giáo sư Abrahams nói trong một đoàn bồi thẩm mười hai người, rất có khả năng một người trong số họ đã từng gặp hoàn cảnh giống như bị cáo. Anh vừa nhận ra một vị như vậy ngồi ở hàng sau.

- Có ai mà không khiếp sợ khi nghĩ rằng chồng mình đã quá nửa đêm về nhà còn say khướt và thế nào cũng lôi mình ra đánh đập? Với bà Kirsten thì suốt chín năm qua cứ bảy đêm bà phải chịu đựng cảnh đó đến sáu đêm. Các vị thử nhìn người đàn bà mảnh dẻ này xem, hỏi bà ta có cách gì chống lại người đàn ông cao lớn lực lưỡng ấy được không?

Anh chú ý nhìn vào người đàn bà bồi thẩm vừa rùng mình ấy. “Hỏi có ai trong số các vị hy vọng buổi tối về nhà thấy chồng cắt bánh, cạo phó- mát hay cầm dao bếp chuẩn bị bữa ăn không, hay chỉ ngồi trong phòng ngủ chờ đánh vợ? Hỏi bà Kirsten bé nhỏ yếu ớt này có gì trong tay để tự vệ? Chiếc gối chăng? Chiếc khăn tắm chăng? Hay cái đập ruồi?” Fletcher ngừng lại. “Chắc các vị chưa thể nghĩ ra được, phải không ạ?” Anh nhìn các vị khác trong đoàn bồi thẩm. “Tại sao? Vì vợ chồng các vị không phải những người xấu. Thưa quý ông quý bà, làm sao các vị có thể hiểu được người đàn bà này phải chịu đựng những gì hết ngày này sang ngày khác?”

- Nhưng chưa thỏa mãn với việc làm nhục vợ, một đêm ông chồng ác ôn kia về nhà say khướt, lên gác nắm tóc vợ lôi xuống cầu thang, lôi vào bếp, đánh vợ liên hồi đến thâm tím cả mình mấy. - Fletcher bước đến chỗ thân chủ. “Nhưng ông ta cho thể chưa đủ, còn muốn hứng thú hơn nữa. Bị lôi vào bếp, bà Kirsten thấy ngay ông ta định làm gì. Nắp lò lửa đang cháy đỏ chờ nạn nhân.” Anh quay người nhìn sang đoàn bồi thẩm. “Các vị thử tưởng tượng bà ta nghĩ gì lúc trông thấy nắp lò đang cháy đỏ ấy? Ông ta nắm lấy tay bà như nắm miếng thịt bít- tết, ấn chặt vào miệng lò một lúc.”

Fletcher cầm bàn tay đầy sẹo của bà Kirsten giơ lên cho đoàn bồi thẩm trông thấy, rồi nói tiếp: “Và thế là bà ta ngất xỉu.”

- Thử hỏi có ai trong các vị hình dung nổi chuyện khủng khiếp ấy, nói gì đến chịu nổi. Vậy tại sao ông chưởng lý lại đòi bà ta phải chịu án tù chín mươi chín năm? Ông ấy nói việc giết người này có tính toán trước. Ông ấy còn nói phần lớn những tội ác tình dục là do phải tự vệ trong một lúc điên dại. - Fletcher quay nhìn viên chưởng lý nói: “Tất nhiên đây là có tính trước và bà ta biết mình làm gì. Nếu như ông bị tấn công bởi một người to lớn hơn gấp bội, ông có dùng đến dao, súng, hay bất cứ dụng cụ nào dù là cùn, để chống lại người đó hay không?” Fletcher lại quay ra bước gần đến đoàn bồi thẩm. “Có ai trong các vị lại ngu ngốc thế không? Có ai trong các vị gặp phải trường hợp như bà ta mà lại không tính trước được không? Khi có cuộc cãi vã ở nhà với vợ hay chồng, các vị thử nghĩ đến người đàn bà này xem. Sau khi đã qua lại những lời giận dữ, liệu các vị có đốt lò đến 350 độ F (khoảng 180 độ C) để chứng tỏ mình phải hay không?” Anh nhìn khắp lượt cả bảy người trong đoàn bồi thẩm. “Hỏi một người đàn ông như thế có đáng để các vị thương xót hay không?”

- Nếu như người đàn bà này bị buộc tội giết người, hỏi có ai trong các vị không làm như thế nếu chẳng may lấy phải một người như Alex Kirsten? Lần này anh quay sang phía năm người đàn bà. Hình như có tiếng khóc. “Vậy bây giờ chúng ta có thể nhất trí về tội ác của bà Kirsten. Bà ta đã lấy một người đàn ông xấu xa.”

Fletcher dựa tay vào lan can trước đoàn bồi thẩm. “Xin đoàn bồi thẩm thứ lỗi cho tính nông nổi tuổi trẻ của tôi. Tôi chọn bào chữa cho vụ này vì tôi sợ rằng bà Kirsten không được công lý bảo vệ. Ở cái tuổi trẻ của tôi, tôi hy vọng mười hai công dân như các vị thấy được những gì tôi thấy, và sẽ không thể nào buộc tội người đàn bà này phải ngồi tù suốt đời.

- Tôi xin kết luận bằng việc nhắc lại để các vị nghe những gì bà Kirsten nói với tôi sáng nay khi ngồi trong phòng giam. “Ông Davenport, tuy tôi chỉ mới hai mươi lăm tuổi, nhưng tôi thà ngồi tù suốt đời còn hơn sống một đêm dưới cùng một mái nhà với con người xấu xa ấy.”

- Tạ ơn Chúa, đêm nay bà ta không phải về ngôi nhà đó. Là những thành viên đoàn bồi thẩm, các vị có quyền cho người đàn bà này được trở về nhà đêm nay với những đứa con yêu quý, với hy vọng mấy mẹ con được làm lại cuộc sống, vì mười hai người tốt bụng như các vị rất hiểu sự khác nhau giữa cái tốt và cái xấu. - Fletcher hạ giọng như nói thầm. “Tối nay khi các vị về nhà với vợ chồng con cái, xin các vị nói cho họ biết hôm nay các vị đã nhân danh công lý mà làm việc. Tôi tin rằng khi các vị tuyên án Vô Tội, vợ chồng ở nhà sẽ không đốt lò nóng 350 độ, không phải vì họ không đồng ý với các vị, mà vì bà Kirsten đã phải chịu cái án chín năm rồi. Chẳng lẽ bà ta còn phải chịu thêm chín chục năm nữa?”

Fletcher về chỗ ngồi nhưng không nhìn ra phía Annie, sợ rằng Giáo sư Karl Abrahams trông thấy anh cố nén để không khóc.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.