Liệu ai có thể nói cho tôi
Cuộc sống của tôi sẽ đi đến đâu?
Vẫn loay hoay một mình trong cơn bão?
Hay chăng trở thành sóng nước trong đầm sen?
Hoặc vẫn chỉ là cây bạch đàn trắng xanh xao đông cứng
Trong giá lạnh một buổi sáng mùa xuân?
Cuộc sống của tôi - Rilke
- Tôi sẽ kể câu chuyện về Christopher.
Tôi chỉnh lại gọng kính và nhìn quanh lớp học. Những ánh mắt lấp lánh đang nhất loạt nhìn tôi. Trong giờ giảng, tôi thường dành ra mười lăm phút để nói chuyện với các học sinh. Tôi tháo kính đặt lên bàn. Những ánh mắt lấp lánh hơi mờ đi. Hình dáng những học sinh ngồi ở hàng ghế cuối chỉ hiện lên mờ mờ. Christopher? Câu hỏi đầy băn khoăn lan đi giữa các học sinh, giống như chúng tôi, bao gồm cả tôi và anh, đã từng thế trước mặt giáo sư Yun. Tôi nhìn những sinh viên đang có vẻ ngạc nhiên, mỉm cười một mình. Khi thấy những người trẻ tuổi vô cùng đáng yêu này, tôi có một cảm giác chân thực rằng mình đã có tuổi. Có tuổi không phải một điều xấu. Cảm giác ghen tị âm thầm với những người trẻ đang trải qua tuổi thanh xuân dần tan biến. Họ dụi dụi mắt liền thấy bốn bề phát sáng, còn ta cũng dần nguôi ngoai cảm giác mất mát từng cuộn trào như sóng nước, chỉ mong họ không phải chịu bất cứ ràng buộc nào, tự do tự tại bước về phía trước. Đây cũng là biểu hiện khi ta có tuổi.
- Có em nào từng nghe đến cái tên Christopher hay không?
Tôi nhặt chiếc kính đặt trên bàn, đeo lại lên mắt. Những ánh mắt lấp lánh của các học sinh lại tràn vào mắt tôi.
Sau tám năm, anh mới lại gọi điện thoại đến, báo tin về giáo sư Yun. Nhưng trong suốt ba ngày, tôi đã không đến bệnh viện. Ngày hôm đó sau khi nghe điện thoại, cả buổi sáng cứ thế trôi qua, sau đó khi tôi dọn dẹp xong bàn làm việc và định xuất phát đến bệnh viện thì Thác Đổ gọi điện thoại đến. Sau khi tốt nghiệp, Thác Đổ đã đi học kiến trúc ở trường đại học Pennsylvania, rồi trở về điều hành một công ty thiết kế kiến trúc chỉ cách khu tôi ở chỉ một con đường hầm. Có vẻ như Thác Đổ cũng nghe tin về giáo sư Yun từ ai đó và gọi điện thoại cho tôi để báo tin. Tiếng chuông điện thoại từ những người bạn thân quen liên quan đến giáo sư Yun, lâu lắm rồi mới lại vang lên từ khắp nơi như thế. Sau khi nghe tin giáo sư Yun từ Thác Đổ, tôi càng cảm nhận rõ rệt hơn về hiện thực. Thác Đổ nói sẽ lái xe đến trước nhà tôi rồi cùng nhau đến bệnh viện, nhưng tôi nói giờ đang định đến bệnh viện thì lại có khách nên sẽ đến sau. Thác Đổ hỏi lại, Có khách à? và nói, Vậy hẹn gặp nhau ở bệnh viện. Tôi đặt ống nghe xuống, cứ ngồi trên chiếc ghế trước bàn làm việc như thế đến đêm. Tôi bày lộn xộn những ghi chép của tổ chức dân sự về những vụ binh lính chết còn nhiều nghi vấn đã thu thập trong một thời gian dài, định để gửi cho chị gái Dan lên bàn, cẩn thận đọc lại. Đọc những ghi chép này thật vất vả. Bao con người bị dồn đến cái chết một cách bí ẩn như thế, làm sao có thể đón nhận sự thật này đây. Tôi đã đứng cả ngày sau đó trước máy phô tô để in riêng phần ghi chép ấy gửi cho chị gái Dan. Gia đình Dan vẫn chưa vượt qua được cú sốc và vết thương lòng từ cái chết của cậu, họ không muốn nhắc đến chuyện đó. Tôi muốn thuyết phục họ hãy viết đơn yêu cầu điều tra lại tai nạn khi ấy.
Dù biết cứ cố gắng trì hoãn thời gian đến bệnh viện gặp giáo sư Yun thế này cũng chẳng thay đổi được điều gì, nhưng tôi vẫn làm vậy. Như để cố quên đi sự thật rằng giáo sư Yun đang nằm trong bệnh viện, tôi lật từng trang giấy trắng rồi tự đặt câu hỏi, Lúc. Ấy. Mày. Đang. Làm. Gì? Tôi cô gạt đi cảm giác dằn vặt vì không đến bệnh viện, tìm đủ mọi cách để trì hoãn thời gian. Tựa hồ giây phút tôi đến bệnh viện, cũng là lúc tôi phải đón nhận sự thật về sự ra đi của giáo sư Yun. Ngoài cửa sổ, tuyết tiếp tục rơi. Giống như ngày nọ, khi tôi vượt qua cơn bão tuyết, định đến gặp giáo sư Yun rồi lại quay về, giờ đây tôi cũng đang mong sao cho giáo sư Yun có thể quay về từ cái chết. Tôi đã trải qua hai ngày chiến đấu với tâm trạng mâu thuẫn như thế. Đến ngày thứ ba, cảm giác căng thẳng đến nghẹt thở ấy dường như nhẹ bớt, thay vào đó là một sự yên tâm đến kỳ lạ. Tôi thực sự muốn vĩnh viễn không phải nghe tin lâm chung của giáo sư Yun, nhưng vào buổi tối ngày thứ tư, anh lại gọi điện đến, triệt để bóp vụn mong ước của tôi. Giây phút tiếng chuông điện thoại vang lên, tôi đã biết ở đầu dây bên kia là anh. Và cả điều anh sẽ nói.
- Có lẽ thầy không qua nổi ngày hôm nay.
Giáo sư Yun, người đã nói với chúng tôi rằng, Sống là dự báo trước việc biến đổi sang một trạng thái khác, và đó cũng chính là hy vọng của chúng ta. Thời khắc huy hoàng từ khi sinh ra đến khi chết đi, dù là con người hay sự vật nhỏ bé, mọi thực thể tồn tại đều có thời khắc như thế. Chúng ta gọi đó là tuổi thanh xuân. Lần thứ hai sau tám năm, anh gọi điện thoại tới nói rằng giáo sư có lẽ không qua nổi hôm nay. Khi nói câu này, khi anh gọi tôi trước sau vẫn không nói được lời nào, Yun à, giọng nói anh vẫn hay nói câu, Chúng. Ta. Đừng. Quên. Ngày. Hôm. Nay. Nhé, giọng nói anh tôi đã hoàn toàn quên lãng từ lâu, giờ như một đàn cá hồi ngược dòng lên thác nước, đánh thức khoảng thời gian thực tại của tôi.
Tôi đến bệnh viện, vào thang máy, xuống khu phòng bệnh nơi giáo sư Yun nằm, và đi về phía phòng bệnh của ông. Có thể nghe rất rõ tiếng bước chân tôi gõ lọc cọc trong hành lang. Hễ chú ý đến âm thanh này, tôi liền không nghe thấy âm thanh nào khác nữa, ngoài tiếng giày của mình mỗi lúc một vang vọng lấp kín lỗ tai. Không chịu đựng nổi, tôi đành phải đứng lại. Đầu bên kia hành lang có một ai đó đang đứng dựa lưng vào tường. Dường như nhìn thấy tôi nên người đó đứng thẳng dậy. Là anh. Dù ở khoảng cách khá xa nhưng tôi vẫn nhanh chóng nhận ra anh. Tôi bước tiếp một bước rồi đứng lại nhìn anh thẫn thờ. Anh cũng đang đứng nhìn về phía tôi. Tôi vừa bước tiếp thì anh cũng bắt đầu đi về phía tôi. Chúng tôi bước từng bước thật chậm rồi đứng đối diện nhau trên hành lang.
- Em đến rồi đấy à.
Anh mặc âu phục rất chỉnh tề. Ánh mắt anh dừng lại giây lát trên khuôn mặt tôi. Tôi cũng nhìn chằm chằm vào mắt anh. Đôi lông mày của anh khẽ rướn lên như cánh chim bay. Giây phút ấy, những cảm xúc khi lần đầu tiên gặp anh bỗng chực ùa về, làm tôi phải lập tức dựng thẳng lưng, hướng ánh nhìn về chiếc áo sơ mi trắng cùng cà vạt trên bộ âu phục màu xanh tím than. Hình ảnh anh mà tôi hay thấy trên báo hay tạp chí luôn là đang đeo chiếc máy ảnh. Có lúc tôi còn đọc bài phỏng vấn có ảnh anh đang quỳ gối hướng về phía vật thể chụp ảnh. Bên cạnh anh là một chiếc ba lô cỡ nhỏ chừng bằng đứa bé con. Đó là bài báo viết về quá trình tác nghiệp của anh khi cùng một nghệ sĩ sắp đặt đi xe lửa đến miền Đông nước Mỹ. Nhà báo viết rằng anh ta đã định thử nhấc chiếc ba lô của anh lên nhưng vì nặng quá không nhấc nổi nên đành để lại bên cạnh. Anh đã vừa mang trên mình chiếc ba lô nặng như thế, vừa chạy như bay đến tận nơi cao nhất để có thể chụp được hình ảnh đoàn tàu đang tiến đến. Mỗi lần như vậy đầu gối lại bị thương, vết thương khô cứng lại như vết bẩn. Anh dần trở thành một nhiếp ảnh gia lúc nào cũng quỳ gối chĩa ống kính vào vật thể. Tôi tình cờ biết chuyện anh trở thành nhiếp ảnh gia chứ không phải nhà văn, qua những tờ báo hay tạp chí đặt dài kỳ. Lúc đầu khi nhìn thấy anh, tâm trạng tôi rất phức tạp, nhưng tôi đã quen dần với việc đó. Đó là hình ảnh của anh đi lang thang khắp nơi. Thế nên hình ảnh anh mặc âu phục trước mặt tôi lúc này thật lạ lẫm.
- Mình đi thôi.
Anh đi trước một bước. Rẽ vào góc hành lang, đã thấy đầy những khuôn mặt quen thuộc. Mọi người tụ tập thành từng nhóm hai, ba người, cũng có người đứng im lặng một mình, nhìn xuống mũi giày và chìm trong suy nghĩ. Có những người chào tôi bằng ánh mắt, cũng có những người giơ tay vỗ nhẹ vào vai tôi. Một người trong số đó nói như trách móc, Jeong Yun, sao giờ cậu mới tới? Vừa nãy gặp tôi, anh chỉ nói, Em đến rồi à, Mình đi thôi... rồi cứ thế bước phía trước như người dẫn đường đưa tôi đến chỗ giáo sư Yun. Giờ đứng trước phòng bệnh, anh quay đầu lại, rút hai tay đút trong túi áo ra và đặt lên vai tôi.
- Em sẵn sàng chưa.
Anh nói sẽ chờ ở trước cửa phòng bệnh, rồi lại nói, À không, mình cùng vào đi, và đi theo tôi vào bên trong. Vừa vào trong phòng bệnh, tôi đã hiểu ngay vì sao anh lại đi theo tôi. Tôi vô thức nắm chặt lấy tay anh. Giáo sư Yun được đặt gọn trong một chiếc lồng kính trong suốt. Chỉ có khuôn mặt và cánh tay là lặng lẽ chìa ra bên ngoài lồng kính. Vì giáo sư đang ở trạng thái không thể hô hấp một cách tự nhiên nên trên mũi và cổ ông có gắn một số thiết bị trợ giúp thở ôxy. Cơ thể giáo sư sưng phù lên, nên khó có thể hình dung ra dáng vẻ da bọc xương thường ngày của ông. Tôi nhìn cơ thể phù nề và cánh tay ông đang buông thõng bên ngoài lồng kính. Dưới cánh tay đang im lìm buông thõng đầy vết kim đâm như không còn chỗ nào tiêm được nữa, là bàn tay gầy guộc. Đó là bàn tay gầy guộc của giáo sư Yun mà tôi vốn biết. Những ngón tay hao gầy xơ xác nhưng có lẽ do ánh điện nên làn da sáng rõ như da em bé. Không thể gầy guộc hơn được nữa, nhìn như cành cây khô vậy. Tôi định đưa tay chạm vào bàn tay giáo sư Yun thì liền bị anh nắm chặt.
- Em muốn nói gì thì nói đi.
Anh vừa nhìn vào khuôn mặt của giáo sư Yun, vừa nói.
- Giáo sư nghe được đấy.
Giáo sư có thể nghe được lời chúng tôi nói trong tình trạng thế kia sao? Thấy tôi đứng lặng yên, anh đi tới bên cạnh giáo sư Yun rồi nói, Thầy ơi, Jeong Yun đến rồi ạ. Trong lồng kính, cơ thể giáo sư Yun nằm yên lặng không có lấy một cử động. Thậm chí tôi còn không tin nổi ông đang thở. Cả đôi mắt vốn tinh tường mà tình cảm của ông giờ đây cũng đang nhắm nghiền im lìm. Ai đó thận trọng mở cửa và ra hiệu với người hộ lý đang ở bên cạnh giáo sư Yun. Người hộ lý đi ra ngoài, trong bầu không khí tĩnh lặng của phòng bệnh, chỉ còn lại ba người - anh, tôi và giáo sư Yun. Tôi đưa tay nắm lấy bàn tay giáo sư Yun. Làn da trượt đi không chút sức lực nhưng tôi vẫn cảm nhận được luồng hơi ấm.
- Em thử mở lòng bàn tay ra xem.
Anh nói khẽ.
Trong lòng bàn tay tôi, dường như những ngón tay của giáo sư Yun đang động đậy. Tôi mở lòng bàn tay ra theo lời anh nói. Giáo sư Yun khẽ cử động các ngón tay. Tôi đặt lòng bàn tay mình dưới những ngón tay gầy guộc của ông. Những ngón tay khẽ cử động trên lòng bàn tay tôi. Tất... Cả... Mọi... Thứ... Đều... Tôi mở to mắt nhìn những ngón tay ông đang trở thành chiếc bút viết. Dòng chữ giáo sư Yun viết trên lòng bàn tay tôi là: Tất. Cả. Mọi. Thứ. Đều. Có. Kết. Thúc.
Có rất nhiều người đến bệnh viện rồi ở lại, không về nhà. Tôi cũng nhập hội với họ. Buổi tối, tôi lên taxi ghé qua nhà, chuẩn bị thức ăn và nước uống cho Emily rồi lại quay lại bệnh viện. Còn anh dù chỉ một giây cũng không rời khu vực phòng bệnh. Tôi đứng bên cạnh anh rồi lại nhập cùng nhóm bạn đang túm năm tụm ba trong nhà ăn hay quán cà phê xung quanh phòng bệnh. Tay nhét vào túi áo khoác, tôi thầm mong mọi người cứ tiếp tục kể chuyện, đừng dừng lại. Tôi cũng không rửa tay nữa. Vì sợ rằng chữ viết của giáo sư Yun trên tay tôi sẽ trôi đi mất. Những đồ ăn gọi đến nguội ngắt, tôi uống rượu với cái bụng rỗng. Ba ngày sau đó, giáo sư Yun rời khỏi thế gian. Cả ngày, trời âm u và vào buổi tối, cuối cùng thì cơn bão tuyết ào đến. Bông tuyết đọng lại trên mũ hay vai áo của những người đến thăm bệnh. Tôi cùng Thác Đổ đang đứng bên ngoài phòng bệnh thì nhận được tin giáo sư Yun qua đời. Tôi rảo bước thật nhanh trên hành lang trước phòng bệnh. Tôi đi thang máy tới tầng một, ra sau hông tòa nhà bệnh viện. Đầu gối cứ muốn khuỵu xuống. Tôi tựa lưng ở một nơi khuất nẻo, cúi đầu nhìn xuống mũi giày mình. Trong suốt ba năm từ khi mang bệnh, giáo sư Yun đã không cho chúng tôi đến bên cạnh, về sau có lẽ dự cảm được sự ra đi của mình nên giáo sư đã gọi điện thoại cho chị gái và nhờ bà đưa đến bệnh viện. Sau khi nhập viện, ông vẫn muốn ở một mình, cho đến khi quá kiệt sức không thể nào lên tiếng được nữa, ông mới đồng ý thông báo cho chúng tôi về tình hình của mình. Dù đang trong trạng thái hôn mê, nhưng cũng như đã viết dòng chữ Tất. Cả. Mọi. Thứ. Đều. Có. Kết. Thúc, lên tay tôi, ông viết chữ lên lòng bàn tay của tất cả những người đến thăm. Trên lòng bàn tay của người đến trước tôi, ông viết dòng chữ Tôi. Đã. Sinh. Ra. Nên. Cũng. Sẽ. Mất. Đi, trên lòng bàn tay của Thác Đổ là dòng chữ Ở. Đó. Có. Những. Vì. Sao, trên bàn tay người học trò đã tìm đến nhà ông nhưng không dám vào, bèn lên đồi cao nhìn xuống thì là Chẳng. Phải. Hoa. Nở. Rồi. Sẽ. Tàn. Hay. Sao, và trên tay anh: Những. Vì. Sao. Ở. Nơi. Đó. Tôi băn khoăn nếu như Mi Ru và Dan có ở đây, thì ông sẽ viết dòng chữ gì. Dòng chữ cuối cùng giáo sư Yun viết trên lòng bàn tay một ai đó là: Hãy. Hỏa. Táng. Ta. Rồi. Chôn. Dưới. Gốc. Cây.
Từ sau khi rời trường học năm ấy, giáo sư Yun không quay lại phòng nghiên cứu lần nào nữa. Hình như ông làm thơ nhưng vì không công bố nên chúng tôi cũng không đọc được. Ông đã sống trong ngôi nhà ở quê, vừa chăm sóc những cái cây trên núi, vừa trồng cây và thu hoạch rồi phân phát cho chúng tôi. Ông chỉ nói "dưới gốc cây" chứ không nói rõ cây nào hay cây gì nên sau khi ông rời bỏ thế gian, thật không ngờ tới, câu chuyện chúng tôi nói nhiều nhất lại chính là chuyện về những cái cây. Cây sồi đen ở Uljin được nhắc tới, rồi cả cây bạch tùng ở phường Hyoja. Thác Đổ nói bây giờ không còn cây bạch tùng ấy nữa. Một cơn bão năm nọ đã quật đổ nó chỉ còn lại gốc. Những người ở phường Hyoja đã cố hết sức để cứu sống nó nhưng cũng chỉ vô ích. Cây bạch tùng mất đi và người ta đã trồng một cây thông khác ở vị trí đó. Trong thời gian tổ chức tang lễ, mỗi người trong chúng tôi lần lượt nêu tên những cái cây đã thấy trong thời gian vừa qua, nào là cây thông, cây sồi, cây anh đào rừng, cây thông đỏ, cây ngô đồng... Nghe nói ở một ngôi làng nhỏ gần biển Nam, có một cây kháo lớn lén giữa đồng cỏ nhìn ra biển. Cách đây đến hơn năm trăm năm, có một ngư dân trong làng đã bắt được một con cá lớn đến mức chưa ai từng thấy con cá nào lớn hơn thế. Ông ta thấy trong bụng con cá có một hạt giống, và dù không biết đó hạt gì, nhưng ông vẫn đem trồng ở mảnh đất gần đó, khi mùa xuân đến, cái hạt nảy mầm rồi lớn lên thành cây kháo xanh tươi. Nói chuyện về cây cối thì có trường hợp thậm chí cùng là một loài cây nhưng tùy vào nơi sinh trưởng mà tên gọi lại khác nhau. Cây kháo anh nhắc đến, Thác Đổ gọi là mộc lan Nhật Bản, còn mang cả sách ra để đối chiếu nữa. Cây kháo là loài cây có nhiều ở thành phố phía Nam nơi anh lớn lên. Có vẻ những người chưa từng nhìn thấy cây kháo, đã lấy cái tên mộc lan Nhật Bản đặt cho cây kháo gây nên tình trạng nhầm lẫn này. Trong chốc lát, chúng tôi dường như quên rằng đang ở đám tang của giáo sư Yun, cứ nói mãi câu chuyện về cây. Khi cây sồi đen ở Uljin được nhắc đến, thì một ai đó lại nhắc đến cây sồi đen ở Andong. Có người nói rằng trên cây sồi đen ở Andong, nếu chim cú mèo bay đến và cất tiếng kêu thi năm đó sẽ được mùa, người khác lại nói cây sồi đen ở Uljin chính là do một vị tướng quân triều đại Goryo sau khi bại trận, đi ngang qua đã cắm dao ở đó, và từ đó mọc lên cây sồi đen ấy. Nơi tổ chức tang lễ cho giáo sư Yun giống như một giờ học với rất nhiều ý kiến qua lại về cây vậy. Cây nham lê, rồi cây mía, cây thủy tùng, cây linh sam, những câu chuyện cứ kéo dài mãi không dứt. Trong khi ấy, tôi nghĩ đến cây bách nhật hồng ở mộ mẹ. Vòm cây to lớn phủ kín cả mộ mẹ, và khi những cánh hoa màu đỏ tươi đua nở thì ngôi mộ của mẹ dù nhìn từ một nơi rất xa cũng thật nổi bật.
Giáo sư Yun được chôn cất dưới gốc cây thông trên ngọn núi gần ngôi nhà ông đã sống những ngày cuối đời. Có rất nhiều ý kiến qua lại nhưng cuối cùng nơi ấy đã được chọn. Giáo sư Yun được chôn cất dưới gốc cây thông già hơn hai trăm tuổi. Không biết liệu đó có phải một trong số những cây thông già mà vào đêm mùa đông năm ấy, giáo sư Yun đã cùng anh và tôi giũ sạch tuyết phủ trên những cành cây cho đến khi tưởng chừng ngã gục vì kiệt sức hay không. Lúc đó đương đêm nên không nhìn rõ nhưng nhìn ra xung quanh có thể thấy xa xa là dòng sông đang đổ ra biển. Ở phía sau là những cây son thù du mọc um tùm như một bức bình phong. Chúng tôi chôn chiếc bình đựng tro cốt xuống dưới gốc cây thông già rồi rắc từng nắm đất lên trên. Khi đến lượt tôi, tôi cũng nắm trong tay một nắm đất. Trong khi nắm nắm đất lạnh lẽo trong lòng bàn tay, tất cả mọi lời nói dường như đều lắng xuống, chỉ còn lại một câu nói duy nhất. Tạm biệt thầy, thầy đi nhé. Sau khi tang lễ kết thúc, chúng tôi ngồi ở quán rượu đến tận sáng hôm sau, cứ thế uống rượu một cách vô vị, rồi thử ghép những câu giáo sư Yun đã để lại trên lòng bàn tay từng người. Mỗi người một ý kiến, cho rằng câu này phải đặt ở trước, hay câu kia phải đặt ra sau nên câu chuyện cứ kéo dài mãi, có ai đó còn gục mặt xuống bàn ngủ. Những câu giáo sư Yun để lại đã được sắp xếp thành: Những Christopher của tôi, cảm ơn các em đã bên tôi. Các em đừng buồn. Tất cả mọi thứ đều có kết thúc. Cả tuổi trẻ, nỗi đau, lòng nhiệt huyết, sụ hư vô, hay cả chiến tranh và bạo lực nữa. Chẳng phải hoa nở rồi sẽ tàn hay sao. Tôi đã sinh ra nên cũng sẽ mất đi. Hãy ngước nhìn lên bầu trời. Trên đó có những vì sao. Những vì sao dù khi chúng ta ngắm nhìn, hay lãng quên, thậm chí cả khi chúng ta chết đi thì chúng vẫn tỏa sáng ở nơi đó. Mỗi người hãy trở thành một ánh sao trong thế gian này.
Tôi kể xong câu chuyện về Christopher, trong số các học sinh, có một người giơ tay. Vì thời gian ngắn ngủi nên tôi không nghĩ sẽ có phần trả lời câu hỏi. Sau khi kết thúc câu chuyện, tôi đang chuẩn bị ra khỏi lớp học thì thấy có một học sinh giơ tay, tôi liền đeo lại gọng kính vừa bỏ ra, nhìn về phía cậu học sinh đó và gật đầu.
- Em đã nghe câu chuyện rất hay, thưa cô. Nếu vậy liệu rằng chúng ta là Christopher? Hay là đứa trẻ được ông ấy cõng trên lưng ạ?
Cách đây rất lâu, sau khi kể xong câu chuyện Christopher, giáo sư Yun cũng đã nói, Vậy tôi sẽ hỏi thêm một câu nữa. Mỗi người các em ở đây là Christopher? Hay là đứa trẻ được ông ấy cõng trên lưng? Đó là câu hỏi giáo sư Yun đã đưa ra cho chúng tôi, và giờ đến cậu học sinh này đặt ra cho tôi. Những chuyện từ rất xưa giờ đây được tái hiện lại như thể diễn ra ngay trước mắt, làm tôi hoài nghi cảm giác rằng thời gian đang trôi theo một đường thẳng. Ngồi bên cạnh cậu học sinh vừa đặt câu hỏi là Yu Seon, con gái của chị họ tôi. Ngày Chủ nhật, tôi gặp chị họ cùng ăn trưa, đang vươn đũa định gắp lấy một chiếc lá vừng thì Yu Seon hỏi, Đài phát thanh ở trường thông báo rằng dì sẽ đến với tư cách là khách mời. Thật vậy hả dì? Chị họ nói, Nếu đã lên phát thanh thông báo thì đương nhiên là thật rồi. Yu Seon nghiêng nghiêng đầu, cô bé giống chị y như đúc. Ánh mắt cô bé dường như tỏ vẻ không tin người dì mình hay cùng đi tắm xông hơi, người dì vốn ghét phòng khám nha khoa để đến nỗi để cô y tá suốt ngày phải gọi điện thoại nhắc nhở vì thất hẹn với nha sĩ, người dì khi ăn quýt nếu trên đĩa chỉ còn lại một quả duy nhất sẽ nhanh chóng nhón lấy, giờ đây lại đến trường học với tư cách khách mời. Cô bé liên tục lẩm bẩm, Lạ quá, lạ quá, bình thường chỉ có người nổi tiếng mới đến thôi chứ. Cháu không thích đâu, dì ơi! Dì hay quên lắm... Hay cháu không đến lớp có được không? Làm tôi cứ tưởng cô bé không đến thật. Nhìn Yu Seon đang mở to đôi mắt sáng ngời, ngồi cạnh cậu học sinh vừa đặt câu hỏi, tôi cũng thấy không tự nhiên. Tôi chỉ là người dì hay thay quần áo và chải tóc cho Yu Seon mà thôi. Yu Seon trong mắt tôi là đứa cháu hay nói sẽ cắt móng chân cho Emily, rồi có khi ngã oạch xuống sàn nhà, giờ đây lại ngồi giữa những học sinh kia trông thật người lớn. Nhìn cô bé đang cười với cậu học sinh kia, có vẻ hai đứa là bạn chơi với nhau.
Tôi ngồi thẳng lưng trên ghế để trả lời.
Đêm hôm ấy, chúng tôi giũ sạch tuyết phủ đầy trên những cành cây cho đến tận khi ngã quỵ vì kiệt sức, ai ngờ giữa đêm trời lại đổ tuyết. Ngày hôm sau, chúng tôi một lần nữa nhìn về những cây thông trên núi phủ ngập tuyết, rồi đi bộ ra bến bắt xe buýt, anh nói sẽ dọn đồ đến căn phòng trên tầng thượng mà tôi đang sống. Tôi đã thu dọn lại đồ đạc trong phòng, để chừa chỗ cho anh. Đến ngày hẹn, anh không hề xuất hiện. Cả những cuộc điện thoại mà anh đi lang thang trong thành phố này, ngã vật ra đâu đó rồi gọi cho tôi cũng chấm dứt. Không thể đợi được anh liên lạc, tôi liền tìm đến tòa soạn nơi anh đang làm thêm. Anh chạy ra ngoài ngay. Trông chẳng có vẻ gì là người đã lỡ hẹn rồi cũng không gọi điện thoại. Văn phòng tòa soạn nằm trong một tòa nhà mười tầng ở một khu đất vẫn chưa được khai thác phía bên kia sông Hàn. Giờ nghĩ lại chẳng qua cũng chỉ mười tầng thôi mà, nhưng vào thời đó, xung quanh chỉ duy nhất tòa nhà ấy có mười tầng. Ở gần đó có một lăng mộ thông mọc rậm rạp. Nơi tôi gọi điện thoại là bốt điện thoại công cộng nằm ngay cổng vào lăng. Tôi đặt ống nghe xuống và đi vào trong thì anh liền xuất hiện, nhanh đến mức tôi không xác định nổi mình đặt ống nghe xuống và đi vào trong trước, hay anh xuất hiện và gọi tên tôi trước. Anh ôm chặt lấy tôi, không hề có chút ngại ngùng nào. Chúng tôi đi quanh quẩn đến ba vòng trong lăng. Tôi không nói gì cả nhưng anh lại hứa. Anh hứa sau ba ngày nữa sẽ dọn đồ đến. Sau ba ngày, anh vẫn không đến. Tôi đến chỗ anh, anh lại nhào ra và ôm chặt lấy tôi. Khoảng thời gian anh ôm tôi dần dần dài hơn. Cứ như thế đến khoảng bốn lần anh hẹn rồi lại lỡ. Cái đêm anh không giữ lời hẹn cuối của mình, anh đã tìm đến căn phòng của tôi. Khi ấy anh không ôm tôi, mà chỉ im lặng nhìn xuống nền sân thượng. Rồi chúng tôi cùng nhìn về phía tháp Namsan đang tỏa sáng lung linh. Hình như tôi đã hỏi rằng anh đang lo sợ điều gì. Và anh trả lời đầy bất ngờ.
- Nếu ở cạnh nhau thì cả anh và em đều đau khổ. Đều rất bi đát.
Tôi hiểu được câu nói đều đau khổ, nhưng không hiểu nổi tại sao lại rất bi đát. Tưởng rằng mình đã nghe nhầm, nên tôi hỏi lại anh, Anh vừa nói gì.
- Nếu bắt đầu như thế này thì vì anh mà em sẽ chẳng thể đi đâu, cũng chẳng thể làm gì.
- …
- Anh sẽ cô lập em với mọi người, khiến em biến thành một hòn đảo hẻo lánh. Anh sẽ ngăn cách em với cuộc đời. Anh sẽ làm mọi người chỉ có thể hiểu về em thông qua anh mà thôi. Anh không muốn em bị ràng buộc. Nếu như anh cứ không để em rời xa anh thì cuối cùng, cả hai chúng ta đều sẽ rất bi thảm.
- Vậy tại sao anh lại hứa với em?
- Vì anh cũng muốn như vậy.
Tôi run lên vì lạnh, chỉ nhìn chăm chăm vào ánh sáng từ ngọn tháp. Khi ấy dù muốn hiểu những lời anh nói, tôi vẫn không tài nào hiểu được.
Mỗi khi nhắc đến một khoảng thời gian nào đó bằng cách nói "cách đây đã lâu rồi", là y như rằng tôi lại có cảm giác như đang đi đến một nơi nào đó. Phải đến khi một khoảng thời gian rất lâu trôi qua, đến mức có thể nói, Cách đây đã lâu lắm rồi, tôi mới hiểu ra một số điều, biết đâu chính những điều đó đã đưa chúng tôi đến với nhau.
Cách đây đã lâu lắm rồi, khi ấy, anh vốn là người tôi đã nghĩ rằng mình hiểu hơn ai hết, bỗng trở nên thật xa lạ. Như thể trên tầng thượng chỉ có mình tôi mà không có anh vậy. Nghĩ đến chuyện mình không thể nắm bắt được những suy nghĩ của anh, tôi bất giác cắn môi. Tôi thấy thật không đáng khi đã nhất định muốn sống cùng anh. Mặc cho anh gọi tên, tôi cũng không đáp lời. Mặc cho anh đưa tay ra, tôi cũng không nắm lấy. Hóa ra giờ đây đối với anh, việc ở bên tôi trở thành bi đát đáng sợ như vậy hay sao? Trái tim tôi tan vỡ thành những mánh băng.
Hình như định nói thêm câu gì nên anh xoay người tôi lại. Tôi đang đứng nhìn chăm chăm vào ngọn tháp, không muốn nghe thêm lời nào từ anh nữa. Tôi để mặc anh đứng một mình trên sân thượng lạnh lẽo và đầy gió, đi vào phòng. Khi ấy, không biết ai đã đúng, ai đã sai. Ở trong phòng, chốc chốc tôi lại nghe anh gọi tên tôi và gõ cửa. Tôi đã cố gắng để không nghe thấy tiếng anh gọi tên tôi. Tôi đã cố gắng không tiến về phía anh, chỉ ngồi lì trước bàn học. Tôi úp sấp tập thơ anh mang tới từ hiệu sách chúng tôi đã vô tình ghé vào khi bị đuổi trong một cuộc biểu tình trong thành phố. Rồi tôi lại lần giở tập thơ đó ra, cố gắng chống chọi với tiếng gõ cửa của anh. Tôi đọc từng dòng, từng dòng thơ nhiều lần đến mức thuộc lòng. Tôi còn lấy giọng đọc to để không bị lấn át bởi tiếng gõ cửa bên ngoài của anh. Không biết anh bỏ đi từ khi nào. Tôi nằm gục trên bàn ngủ còn tập thơ thì rơi xuống sàn.
Còn anh?
Tôi vội vàng mở cửa chạy ra ngoài, thấy tuyết rơi đầy trên sân thượng.
Anh đã đi mất rồi.
Tôi khuỵu đầu gối xuống, không thấy anh đâu. Tôi nhìn quanh bốn phía. Dường như trong lúc tuyết rơi, anh vẫn đứng suốt bên ngoài cửa. Dấu chân đi loanh quanh trước cửa của anh in hằn trên tuyết. Tôi nhấc chân khỏi dấu chân anh, đứng nhìn mặt tuyết in đầy những dấu chân in. Những dấu chân đi lại trên sân thượng rồi đi xuống cầu thang. Tôi cũng bước theo những dấu chân ấy. Ở lối vào dẫn lên căn phòng trên tầng thượng của tôi cũng xuất hiện rất nhiều dấu chân anh. Xem ra anh đã quanh quẩn ở đây rất lâu, tuyết bị chân giẫm đến mức cứng lại và nhẵn bóng. Dấu chân anh còn kéo dài đến tận ngọn đồi phía dưới. Dấu chân anh hướng về ngôi nhà cách đây đã lâu lắm, anh từng sống cùng Mi Ru và chị gái cô, ngôi nhà mà Mi Ru, Dan, anh và tôi đã cùng ở bên nhau trong mấy ngày. Gần đến ngôi nhà rồi, dấu chân anh lại dừng lại, loay hoay ở một chỗ. Có lẽ anh đã đứng đó và nhìn vào trong, hoặc chìm trong suy nghĩ rằng giờ đây nơi này đã có người khác đến sinh sống. Từ nơi đó, dấu chân anh bắt đầu quay lại. Tôi đứng ở nơi có nhiều dấu chân anh xoay đi xoay lại, ngắm nhìn ngôi nhà trong ánh sớm ban mai rồi cũng quay về. Nếu cứ đi mãi theo dấu chân anh in trên tuyết, có lẽ tôi sẽ gặp được anh, nhưng tôi đã không thể làm theo cách đó. Lúc đầu khi tôi lần theo dấu chân anh đến đây, chỉ có dấu chân anh in trên tuyết nhưng giờ có lẽ cả những người khác cũng đã bước đi trên con đường buổi sớm này nên có những dấu chân khác lẫn vào dấu chân anh, rồi tiếp đó xe dọn vệ sinh đi qua, nên chỉ còn lại dấu bánh xe đè cả lên tất cả các dấu chân. Tôi nhìn hồi lâu vào dấu bánh xe đã xóa mất dấu chân anh rồi quay trở về căn phòng trên tầng thượng của mình. Tôi gói ghém ba lô đơn giản rồi leo lên chuyến tàu về quê với bố. Tôi đã sống bên bố trong suốt mùa đông năm ấy.
Nhưng đó không phải là lần ly biệt cuối cùng của chúng tôi.
Dưới quê nơi bố ở, suốt một tuần tuyết cứ rơi mãi. Một ngày, anh từ thành phố tìm đến. Đi xuyên qua con đường tuyết khủng khiếp ấy, ngón chân anh tê cóng, má phồng rộp bọng nước. Anh làm cái gì thế? Anh im lặng nghe lời tôi trách móc. Anh làm thế này vậy sao lại không thể ở bên nhau được cơ chứ? Anh không trả lời. Anh ở trong căn nhà dưới quê với bố và tôi ba ngày rồi đi. Giống như khi ở ngôi nhà của giáo sư Yun, anh leo lên ngọn núi phía sau làng, giũ sạch tuyết phú đầy trên cành cây thông, chơi cờ tướng, rồi còn theo bố tôi ra thăm mộ mẹ nữa. Tôi lo anh sẽ cuốc bộ đến tận thành phố, nên đã mua sẵn vé tàu và tiễn anh đến tận nhà ga. Chúng tôi đến ga tàu sớm, ngồi lặng im trong phòng chờ. Rồi trước cửa soát vé, anh gọi tên tôi. Tôi nhìn theo thì anh nói, khi tôi quay trở lại thành phố hãy cùng nhau làm những việc đã định làm mà không thể làm ở Namsan. Tôi hỏi, Việc gì? Anh liền thầm thì như nói một mình, Ôm một trăm người không quen biết...
Mùa đông năm ấy trôi qua và vào một ngày khi mùa xuân đến, anh đứng trước nhà thờ Myeongdong, trên tay cầm một tấm biển ghi: "Tôi sẽ ôm bạn". Tôi không ngờ anh còn chuẩn bị cả biển hiệu như vậy. Chúng tôi quyết định sẽ gặp nhau ở trước nhà thờ nhưng tôi đột nhiên không dám xuất hiện trước mặt anh. Trước tiên, tôi và anh quyết định sẽ ôm một trăm người không quen biết. Sau khi thử ôm một trăm người, chúng tôi sẽ suy nghĩ lại xem nên làm thế nào. Địa điểm đầu tiên chúng tôi hẹn ôm một trăm người là nhà thờ Myeongdong. Đó là nơi tôi từng lui tới nhiều lần để tìm anh. Tôi không xuất hiện trước anh, mà chỉ đứng nhìn từ xa. Đến tận bây giờ tôi cũng không giải thích nổi tại sao khi ấy tôi không đến bén anh mà chỉ đứng nhìn từ xa như vậy. Lần đầu tiên nhìn thấy tấm biển có ghi: "Tôi sẽ ôm bạn", tôi không biết phải giải thích sự phản kháng lạ lùng lan tỏa trong lòng mình thế nào. Những người đi ngang qua liếc nhìn anh đứng đó trong giây lát rồi đi. Có cả những người dừng chân quan sát anh một cách lộ liễu. Anh không những chẳng ôm ai lạ, mà còn đứng đó một cách ngần ngại. Có một người nước ngoài tiến đến ôm anh. Nhưng trong khi người nước ngoài đó ôm chặt lấy anh, thì bàn tay anh lại lúng túng buông thõng xuống. Anh quyết đứng đó trong vòng ba bốn giờ đồng hồ. Không còn ai tiến đến anh mà cũng không có ai để anh tiến đến nữa. Tuy thế nhưng anh không có vẻ gì là đang đợi tôi cả. Tôi nhìn anh buông tấm biển ghi "Tôi sẽ ôm bạn" xuống như kẻ bại trận, rồi quay lưng đi.
Tôi mong muốn da diết rằng có ai đó nói với tôi, rồi một ngày, chúng tôi sẽ có thể đón nhận những việc xảy đến với mình một cách nhẹ nhàng, không đau khổ.
Ngay cả sau khi anh và tôi thất bại trong việc ôm một trăm người không quen biết, chúng tôi vẫn chưa chia tay. Cho đến tám năm trước, chúng tôi đã liên tiếp hứa với nhau một điều gì đó. Giống như những người nếu không hứa thì không được vậy. Rất nhiều lời hứa chẳng thể nào thực hiện, cũng chẳng thể nhớ nổi. Rồi những lời hứa khác lại chồng chất trên những lời hứa không thực hiện được ấy.
Chúng tôi vừa hứa hẹn, vừa trì hoãn thời gian chia ly.
Sau khi biết chuyện về Mi Ru, mỗi sáng tinh mơ anh đều gọi điện thoại cho tôi, không biết mình đang ở đâu. Thời gian này, hành động ấy lại bắt đầu lặp lại, nên mỗi sáng sớm tôi đều nhận điện thoại của anh. Mỗi lần như thế, tôi lại hỏi anh, Anh đang ở đâu thế? Chỉ có một lần, anh nói bằng giọng rất rõ ràng, nhắc đến một vùng quê trồng rất nhiều táo. Tôi ra bến xe ngoại thành, đợi chuyến xe đầu tiên để chạy đến chỗ anh. Chúng tôi mượn xe đạp rồi chạy trên con đường gồ ghề bên cạnh vườn táo, đưa tay hái những trái táo còn đọng sương mai và cùng nhau ăn. Chúng tôi cắn những trái táo tươi ngon, cùng nhai rau ráu rồi cười vang. Khi ấy chúng tôi như những người sẽ mãi cùng nhau tiến về phía trước vậy. Nhưng quãng thời gian đó thật ngắn ngủi. Không lâu sau đó, anh lại không giải thích được nơi mình đang gọi điện thoại. Tôi cố gắng đi tìm anh. Có khi tôi tìm thấy anh, nhưng cũng có khi tôi không tìm thấy. Có lần tôi vất vả lắm mới tìm thấy anh, tôi nói với anh rằng, Bốn giờ sáng còn cố gọi điện thoại đi đâu đó, anh có phải gián điệp không, làm anh phì cười. Cả lần không phải anh mà là một người lạ gọi điện thoại đến cho tôi vào lúc sáng tinh mơ. Họ nói rằng có ai đó đã nhảy qua hàng rào vào ngủ trong sân nhà họ. Nhìn có vẻ không phải là người xấu nên họ đã lay dậy và hỏi số điện thoại rồi gọi cho tôi. Nếu không đến đưa về thì họ không có cách nào khác ngoài báo cảnh sát. Tôi hỏi ở đâu thì nghe họ chỉ dẫn đến ngôi nhà mà Mi Ru đã muốn chúng tôi sống cùng nhau. Khi tôi chạy xuyên qua cơn gió lạnh buổi sáng sớm tới đưa anh về, anh nhìn tôi và gọi, Mi Ru à... Dù không nhớ rõ nhưng có lẽ tôi cũng đã có lần nhìn anh và gọi, Dan à. Có lẽ từ buổi sáng hôm ấy, chúng tôi đã không hứa với nhau nữa chàng? Và cũng từ lúc đó, chúng tôi đã thôi không nói rằng mình sẽ đến chỗ người kia nữa?
Cách đây mấy hôm, khi ngồi trên xe buýt tới nhà ga trên đường đi thăm bố đang ở khu điều dưỡng, tôi đã nhìn thấy anh trong tờ báo một người bên cạnh mở đọc. Đó là bài báo về buổi triển lãm ảnh của anh. Tôi không thể rời mắt khỏi tờ báo nên người ngồi cạnh đã đưa nó cho tôi. Tôi mở tờ báo ra và thì thầm, Emily này! Ảnh đẹp quá! như thể Emily đang ngồi bên cạnh vậy. Chủ đề của triển lãm ảnh là "Những người trẻ ôm nhau". Có tấm ảnh những người trẻ ôm nhau trên đường phố Arbat Moskva, và cả ảnh của vô số những người trẻ ôm nhau ở khắp nơi trên thế giới. Bài báo viết rằng để chụp một nghìn bức ảnh như vậy, anh đã đi lang thang khắp nơi trên thế giới trong vòng ba tháng. Có vẻ như ngay sau khi tổ chức tang lễ cho giáo sư Yun xong, anh liền lên đường ngay. Trả lời câu hỏi của phóng viên rằng tại sao lại là bức ảnh về những người trẻ ôm nhau, anh nói vì đôi khi anh hay khổ sở trước cảm giác bộc phát muốn tự hủy hoại bản thân nhưng hình ảnh những người trẻ ôm nhau đã giúp anh chiến thắng điều đó. Trên thế giới, những người ít cười nhất chính là người Moskva, nhưng nhìn những người trẻ ôm nhau trên đường phố Arbat, thì họ cũng đang mỉm cười. Anh còn kể rằng, anh cũng đã ôm một trăm người trẻ tuổi không quen biết trên đường phố Arbat ấy.
Đúng thế chăng?
Đôi khi, tôi cũng có ý nghĩ mình chuẩn bị sụp đổ như gặp phải trận bom vậy. Đã có lúc để chiến thắng được nỗi bất an kỳ lạ như thể mọi cảm giác bị tê liệt, tôi phải cố đẩy lùi lo lắng, bước đi liêu xiêu về phía bàn làm việc và ngồi ở đó. Nhìn vào khuôn mặt anh, nói rằng đã ôm một trăm người trẻ tuổi không hề quen biết, đột nhiên một nỗi buồn dâng lên trong tôi, tôi cứ thế thẫn thờ nhìn ra thành phố lướt qua cửa sổ xe vào lúc giữa trưa. Ngồi trong xe buýt, tôi thất thần chìm vào hình ảnh chúng tôi, những người mang trong mình giấc mơ về “một lúc nào đó" cùng nỗi cô độc, xông pha trong thành phố này.
Giờ học hôm ấy, còn có một học sinh khác giơ tay. Cậu học sinh ấy hỏi tôi, đối chiếu lại quãng thời gian hai mươi tuổi của mình, tôi muốn nói gì với các em, giờ cũng đang ở độ tuổi ấy. Tôi nhìn lướt qua đôi mắt Yu Seon đang ngồi giữa các học sinh rồi dừng lại ở cậu học sinh vừa đặt câu hỏi. Có lẽ do xấu hổ, cậu ta có vẻ hơi run. Tôi bất giác nói rằng, Tôi mong sao các em có được một người mà khi ở bên nhau, mỗi phút giây đều muốn nói rằng Đừng. Quên. Ngày. Hôm. Nay. Nhé. Các học sinh ồ lên cười. Tôi cũng cười theo. Và... các em học sinh cứ tưởng rằng tôi đã nói hết, nhưng thấy tôi vẫn tiếp tục thì lại chăm chú lắng tai nghe.... Mong sao các em thường xuyên có thể nói, Em. Đến. Đó. Nhé.
Ngày hôm sau, tôi được biết rằng Emily có một khối u ở bụng, nhưng vì nó đã quá già yếu đến mức ngay cả di chuyển một chút thôi cũng khó nhọc, nên khó mà tiến hành phẫu thuật được. Vào buổi sớm tinh mơ, tiếng chuông điện thoại loáng thoáng làm tôi tỉnh giấc. Tôi vừa định thần lại thì tiếng chuông điện thoại nãy giờ vẫn chỉ mơ hồ liền vang vọng như thể xuyên thủng tai tôi vậy. Tôi đưa tay với lấy ống nghe đặt lên tai thì giọng nói xa lạ của một người trẻ tuổi vang lên, Cho hỏi đó có phải nhà của Jeong Min không? Tôi nói rằng không phải thì người đó liền vừa khóc nức nở, vừa nói, Xin hãy chuyển máy cho Jeong Min. Tôi không cúp máy mà chỉ đặt ống nghe xuống. Một lúc sau tôi ghé vào ống nghe thì thấy cô gái ấy vẫn tiếp tục khóc. Dường như cô không hề quan tâm đến việc tôi có đang nghe hay không. Có lẽ cô cần một khoảng thời gian để khóc. Sau khi khóc, dường như tâm trạng của cô gái đã bình tĩnh hơn một chút. Emily khoanh mình nằm ngủ ở chiếc bàn bên cạnh đã tỉnh giấc, liền leo lên nằm bẹp trên bụng tôi. Giờ đây, việc gầm gào đối với Emily cũng đầy khó khăn. Khi tôi hỏi liệu Emily có thể chịu được cuộc phẫu thuật hay không, bác sĩ thú y nói rằng thực ra Emily đã sống lâu một cách đáng ngạc nhiên và hỏi lại tôi rằng liệu có nhất định phải phẫu thuật hay không. Tôi đã ôm Emily vào lòng và quay trở về nhà. Không biết là cô gái đã khóc xong hay điện thoại tự động ngắt mà đầu dây bên kia nghe tiếng tút tút. Cho đến tận lúc ấy, tôi vẫn mân mê cái gáy của Emily, rồi đặt ống nghe về chỗ cũ. Sau khi bị tỉnh giấc như thế, tôi không ngủ lại được nên ngồi trước bàn làm việc rồi mở ngăn kéo trên cùng ra. Tôi lôi ra lần lượt cuốn từ điển chữ Hán, phong thư, tài liệu in, rồi nhìn chằm chằm vào chiếc hộp có đựng cuốn sổ được anh đặt tên là Cuốn sổ màu nâu ở dưới cùng. Tôi lấy chiếc hộp và mở cuốn sổ tay ra xem.
Tại sao hồi đó mình lại không làm thế kia chứ? Ôi, khi ấy sao mình lại như vậy! Cảm giác tự trách chốc lại dồn đến trong lòng. Vào một lúc nào đó chẳng hề liên quan, tôi đột nhiên hiểu ra nỗi lòng mình khi ấy. Nhưng cũng có những việc mà dù thời gian trôi qua bao lâu đi chăng nữa, vẫn không thể nào lý giải nổi.
Không biết đến bao giờ tôi mới có thể nói với anh, rằng tôi đã từng đến Basel, hay Peru. Cái ngày tôi đứng trước bức tranh "Đảo tử thần" của Arnold Böcklin ở bảo tàng mỹ thuật Basel và gọi tên cô, Mi Ru à, dường như có tiếng cô trả lời, Sao cơ? nên tôi đã nhìn khắp bốn phía.
Trên vùng cao nguyên Nazca hoang vắng nằm dưới chân núi dãy Andes, có những hình vẽ rất khó lý giải, không thể nhìn thấy ở tầm mắt thường, mà phải nhìn từ trên cao xuống. Nghe nói đó là những hình vẽ của người dân da đỏ Nazca cách đây một nghìn năm trăm năm. Khi ấy cuộc sống còn hoang sơ, con người ta còn chưa biết sử dụng sức động vật. Hàng trăm đường kẻ kéo dài đằng đẵng, được bắt đầu từ những hòn đá cuội. Hình một chú chim to lớn như có thể bao phủ cả cao nguyên bằng đôi cánh sải dài, cùng những hình vừa đẹp vừa lạ về nhiều loài động vật mà tôi không sao hiểu nổi, được khắc trên cao nguyên như một ám hiệu ghi lại bằng tay. Nghe nói những bức tranh khắc tay từ cách đây một nghìn năm trăm năm ấy sở dĩ còn lưu lại được đến ngày nay là vì cao nguyên Nazca nằm ở vĩ độ thích hợp để rừng rậm nhiệt đới sinh trưởng, và trong suốt một vạn năm, ở đây luôn trong tình trạng khô hạn, không hề có mưa. Suốt một vạn năm không hề có mưa... Tôi lẩm bẩm một mình. Một vạn năm là khoảng thời gian tôi không sao tưởng tượng nổi. Vùng đất đã không có lấy một giọt mưa trong một vạn năm liệu có thể miêu tả đơn giản bằng một từ khô hạn được không. Từ trên mặt đất không thể nhìn được toàn thể bức tranh. Phải lên cao ít nhất ba trăm mét mới có thể thấy toàn cảnh. Nhóm chúng tôi đã đi trực thăng để có thể nhìn xuống những hình vẽ ấy. Hình zíc zắc, hình ngôi sao, hình thực vật với kích cỡ khó nắm bắt, và cả những hình tròn, hình tam giác, tứ giác, hình thang... trải dài không có kết thúc. Những hình vẽ bí ẩn như thể một câu đố này không chỉ bao phủ vùng cao nguyên Nazca rộng lớn và hoang vắng. Những đường kẻ không thể nhìn thấy được từ mặt đất liên kết một cách đầy tinh xảo với các vực sâu, đảo nhỏ, sông ngòi, và các khúc quanh của dãy núi Andes nằm cách xa cao nguyên. Hàng trăm đường kẻ dài được tạo ra bằng cách cào bỏ những hòn đá cuội. Đỉnh của tam giác lớn bị cắt, nhìn rõ ràng như một chú chim đang bay về hướng Nam. Đó là thời kỳ con người còn chưa biết sử dụng sức động vật, nhưng họ đã làm được những việc thật vĩ đại bằng đôi bàn tay mình. Trước khi khinh khí cầu được phát minh để giúp bay lên không trung nhìn xuống, liệu họ làm thế nào để lại những hình vẽ khổng lồ không thể nhìn thấy khi ở trên mặt đất này nhỉ? Cách đây một nghìn năm trăm năm, tại sao, bằng cách nào? Mang theo câu hỏi đầy phân vân ấy, tôi nhìn xuống những hình vẽ dưới mặt đất. Một hình ảnh đập vào mắt tôi. Đó là hình khắc một chú nhện khoảng tầm năm mươi mét.
Thật không ngờ tôi lại có cơ hội nhìn một chú nhện được khắc trên vùng đất hoang cách đây một nghìn năm trăm năm. Tôi nghĩ đến Dan, dù sợ nhện là thế nhưng vẫn dẫn tôi đến tận mộ mẹ. Trước hình vẽ chú nhện ở cao nguyên Nazca, dãy núi Andes mà phải mất tám tiếng đồng hồ bay đến Los Angeles rồi lại chuyển máy bay, bay thêm hơn hai mươi mấy tiếng nữa mới đến được, những ký ức về Dan sống lại thật rõ nét. Dường như giây phút đó, trái tim lạnh buốt u tối của tôi bỗng nhiên nứt ra, và được chiếu sáng bởi những ánh sao tựa hồ chỉ xuất hiện lúc sớm mai. Một cảm giác thật hiền hòa. Tôi vừa nhìn xuống cao nguyên Nazca, vừa khẽ gọi, Dan à. Khuôn mặt Dan chồng lên hình vẽ chú nhện được khắc trên vùng đất hoang cách đây một nghìn năm trăm. Đừng. Sợ. Nhé. Tôi nói một mình. Mình. Sẽ. Không. Quên. Cậu. Đâu. Khi đó tôi đã nghĩ rằng, mình không chỉ có một mình. Những điều tôi nhìn thấy, những điều tôi cảm nhận, cũng là những điều Dan và Mi Ru có thể cảm thấy.
Trong khi tôi lần giở từng trang cuốn sổ tay của anh, ánh sáng của buổi sớm mai thấm đẫm trên bàn làm việc. Emily cuối cùng cũng cố gắng nhổm dậy, leo lên bàn làm việc một cách khó nhọc, hướng mặt về phía tôi và cuộn tròn người. Đừng lo, Emily... Tôi mân mê cái gáy của Emily, và lẩm bẩm dù không rõ muốn nó đừng lo điều gì. Emily nhìn tôi chằm chằm rồi nằm duỗi dài ra trên bàn. Quãng thời gian tôi niêm phong cuốn sổ này không mở ra có lẽ cũng gần bằng quãng thời gian tám năm tôi không gặp anh. Bóc tờ giấy niêm phong, đọc lại những lời viết trong cuốn sổ, mỗi câu chữ như đều đem đến một lý giải mới. Cho đến khi niêm phong cuốn sổ, tôi đã đọc đi đọc lại nó không biết bao nhiêu lần, đến mức nghĩ rằng mình đã thuộc lòng, vậy mà giờ đây lại như thể đọc lần đầu vậy. Sau khi đọc đến trang cuối cùng, tôi tháo tấm bìa màu đen bao quanh cuốn sổ ra. Giây phút ấy, những ký ức như sống lại. Ở đó có kẹp tập thơ mỏng của Francis Jammes mà tôi và anh đã cùng đọc trong hiệu sách trên đường trong một ngày biểu tình nào đó, những bức thư mà Dan gửi cho tôi, cả thư trả lời tôi viết muộn màng nên chẳng thể gửi đi được nữa. Tất cả vẫn ở đó y như cũ. Tôi lấy tập thơ ra, nhét những lá thư vào giữa cuốn sổ, rồi lại ngồi mông lung mơ màng. Không biết cuốn sổ tay của Mi Ru mà tôi đã mang đến đặt ở giữa những cuốn sách của các tác giả qua đời trước tuổi ba mươi ba, giờ đang ở đâu. Không biết giờ đây có ai đang đọc tập thơ Emily Dickinson mà Dan đã mang vào doanh trại. Biết đâu nó cũng không còn là thứ hiện hữu trên thế gian này nữa. Tôi đang định bọc bìa lại cho cuốn sổ của anh thì bất chợt nhìn vào mặt sau của cuốn sổ. Hình như ở đó có viết một câu gì đó. Tôi dựng thẳng lưng dậy. Trên đó viết, Một. Lúc. Nào. Đó. Tôi. Muốn. Cùng. Già. Đi. Với. Jeong. Yun. Đó là nét chữ của anh. Hóa ra câu nói này đã được niêm phong ở đây sao. Tôi định bọc lại bìa cho cuốn sổ, nhưng rồi cứ thế đặt xuống và ngồi thẫn thờ cho đến khi buổi sớm trôi qua, ánh bình minh trải dài trên bàn làm việc. Emily lặng lẽ mở mắt nhìn tôi. Dù đã rất già yếu nhưng đôi mắt nó vẫn xanh ngắt. Đã bảo là đừng lo lắng mà, Emily... Tôi vừa thì thầm, vừa bom đầy mực vào chiếc bút máy, đặt bút viết tiếp vào cuốn sổ tay của anh mà tám năm rồi tôi mới tìm lại được: Em. Sẽ. Đến. Đó.