Bài Học Hillary

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11
Kỷ Luật Của Lòng Biết Ơn

❊ ❊ ❊

HỌ ĐƯỢC GỌI LÀ “The Chix” – một nhóm chừng mười phụ nữ được Hillary coi là những người bạn thân nhất, tin cậy nhất của mình. Mỗi tuần họ gặp gỡ Đệ nhất Phu nhân để tặng cho bà một nụ nười, một lời đùa vui, một cái ôm và nếu cần thì một bờ vai để tựa vào đó mà khóc. Nhóm gồm có người xếp lịch làm việc, người viết diễn văn, chánh văn phòng của Hillary và thư ký phụ trách xã hội của Nhà Trắng, cũng như một người bạn thâm giao (Susan Thomases), một cố vấn về truyền thông được tin cậy (Mandy Grunwald) và một nhà hoạt động chính trị lão thành của Đảng Dân chủ (Ann Lewis). Biệt danh “The Chix” là do Evelyn Lieberman nghĩ ra; vào lúc đó bà là phó chánh văn phòng Nhà Trắng. Nơi gặp gỡ thường xuyên của họ là Phòng Bản đồ trên lầu một của khu tư dinh gia đình tổng thống trong Nhà Trắng. Trong căn phòng lịch sử này, Tổng thống Franklin Delano Rooservelt đã từng gặp gỡ các tướng lĩnh hàng đầu của quân đội để hoạch định các chiến dịch ném bom trong Thế chiến thứ Hai. Hillary say mê căn phòng này và ra sức cải tạo nó, bà cho đặt phía trên lò sưởi một tấm bản đồ châu Âu đóng khung trang trọng, thể hiện những vị trí của quân đội Đồng minh mà Tổng thống FD. Roosevelt đã tham vấn trong năm 1945.

Vào cuối tháng 11 năm 1994, chắc chắn đây là nơi thích hợp để nhóm The Chix giúp bà Hillary hoạch định việc quay lại chính trường. Trong bối cảnh Đảng Cộng hòa đang chuẩn bị nắm lấy cả hai viện Quốc hội – một phần vì sự thất bại trong nỗ lực cải cách hệ thống y tế của bà – và tổng thống thì vẫn còn đang choáng váng với kết quả bầu cử, lúc này, trong Nhà Trắng, Đệ nhất Phu nhân cần sự giúp đỡ và lời khuyên của nhóm hơn bất cứ lúc nào.

Khi Hillary bước vào phòng, nhóm The Chix gần như đã hội tụ đầy đủ chung quanh chiếc bàn vuông. Nhìn thấy những gương mặt đang mong đợi của họ, trong lòng Hillary chợt trào dâng một niềm xúc động. Bằng giọng thổn thức, bà xin lỗi vì đã để cho mọi người buồn. Rồi cố kìm nước mắt, bà hứa với các bạn rằng điều đó sẽ không xảy ra lần nữa. Lý do thật đơn giản: bà sẽ từ bỏ phần công việc của mình trong công cuộc hoạch định chính sách công, bà nói với họ như vậy. Cuộc thử nghiệm đồng-tổng thống (copresidency) đã thất bại.

Nhiều năm sau, bà kể lại: “Tôi bảo họ rằng tôi đang xem xét việc rút lui khỏi các công việc chính sách, và các hoạt động chính trị tích cực, chủ yếu vì tôi không muốn làm một trở lực cho chính quyền của chồng tôi.” Tối hôm ấy, trường Đại học George Washington có kế hoạch tổ chức một diễn đàn thảo luận về các Đệ nhất Phu nhân. Hillary bảo các bạn rằng bà định hủy bỏ sự xuất hiện của mình tại sự kiện đó.

Chuyện vai trò chính sách của Hillary đã bị giảm nhẹ không phải là điều gì bí mật, nhưng vẫn là một chuyện rất quan trọng – và do vậy là chưa từng có trước đây – đối với một Đệ nhất Phu nhân. Đám phụ nữ ngồi yên lặng, sững sờ. Rồi từng người một nói với Hillary rằng bà không thể từ bỏ hoặc bước xuống. Thông điệp của họ là: “Quá nhiều người khác, nhất là giới phụ nữ, đang trông cậy” vào bà – không chỉ để tiến lên mà còn để thành công.

Bà Lissa Muscatine, người viết diễn văn cho Hillary và sau này là ghostwriter[1] cho cuốn tự truyện Living History của Hillary, nói với Đệ nhất Phu nhân: “Những người trẻ nhìn vào bà để tìm sự dẫn dắt cho cuộc đời của chính họ. Bà là mẫu mực cho họ. Nếu như bà từ bỏ sự dấn thân tích cực thì bà sẽ gửi cho họ thông điệp gì đây?”.

Vì bạn bè thúc giục, tối hôm đó Hillary đã tham dự diễn đàn thảo luận tại khách sạn Mayflower ở trung tâm thủ đô Washington. Phản ứng nhiệt tình của khán giả đã mang tới cho bà chút hưng phấn mà bà đang rất cần. Sau đó, lần đầu tiên kể từ khi nước cờ cải cách y tế kết thúc, Hillary lại cảm thấy sẵn sàng leo trở lại đấu trường. Bà nhớ lại những lời khích lệ của thần tượng của bà là bà Eleanor Roosevelt: “Nếu cảm thấy chán nản, tôi sẽ đi làm việc.” Đó là việc mà Hillary đã làm. Dù sao đi nữa, ông Bill cũng cần có bà.

THEO NHƯ BÀ HILLARY CÒN NHỚ, công việc của bà là làm thay cho chồng. Niềm tin của bà vào sự phán đoán của chính mình bị lung lay dữ dội; bà “không chắc” mình còn hữu ích cho chồng đến mức nào. Nhưng bà biết rằng niềm tin của chính Bill Clinton cũng đang lung lay. Và thế là một lần nữa, Hillary lại tìm tới một con người trong khoa chính trị; một người mà bà biết là có được trí thông minh, tính khí và bản lĩnh để giúp Bill “trở lại là Bill”.

Con người ấy là Dick Morris; và ông ta đã ngồi đó trong Phòng Hiệp ước của Nhà Trắng, sẵn sàng cho một cuộc gặp bí mật với tổng thống và bà Hillary tháng 12 năm ấy. Hillary đã từng là “mối liên kết” chính giữa chồng bà và ông Morris, một chiến lược gia chính trị rất thích thú vai trò là người bí mật nhưng tối cần thiết của tổng thống. Thậm chí ông ta còn có một bí danh là “Charlie”. Trong nhóm người thân cận với gia đình Clinton, không ai được biết việc ông ta đang ngồi đó.

Không lạ gì chuyện Hillary có xu hướng tranh thủ sự cộng tác của ông Morris để giúp Bill. Từ năm 1992 đến cuối năm 1994, hầu như tháng nào bà và Morris cũng trò chuyện qua điện thoại một đôi lần. Morris nhớ lại: “Tôi đã cố đưa cho bà ấy những lời khuyên về công việc của chính bà ấy, về phong cách chính trị của bà ấy; đề xuất những bước đi dần dần trong vấn đề cải cách y tế và thúc đẩy sự quan tâm nhiều hơn tới những biện pháp hạn chế chi phí. Đa phần là tôi đề xuất ý tưởng tới tổng thống thông qua Đệ nhất Phu nhân.”

Chưa kịp yên chỗ trong Phòng Hiệp ước, Morris đã nhìn thẳng vào mắt Bill và nói: “Thế là ông muốn tôi làm cho ông những gì tôi đã làm vào những năm 1980, 1982?”

“Đúng,” Bill đáp. “Tôi muốn ông quay lại và làm cho tôi những việc mà ông đã làm hồi còn ở Arkansas. Tôi cần những ý tưởng mới và một chiến lược mới. Ở đây tôi không có được những thứ tôi cần và tôi muốn ông tham gia. Tôi đã mất niềm tin vào đội ngũ hiện thời của tôi.”

Với nụ cười nửa miệng, Hillary bảo Bill, “Anh biết đấy, anh phải thôi đi, đừng có yêu cầu chúng tôi thỉnh thoảng lại phải ra tay cứu anh.”

Lời nhận xét nửa đùa nửa thật đó đã buộc tổng thống phải đưa tay lên:

“Tôi thề. Đây là lần cuối!” Bill nói.

Sau đó không lâu, Morris bí mật gặp riêng Bill Clinton trong Phòng Bầu dục. Morris mang theo một loạt các kết quả thăm dò dư luận gây sửng sốt, dùng để đo lường sự ủng hộ của dân chúng đối với tổng thống. Khoảng một phần ba số người được hỏi tin rằng ông Clinton là “phi đạo đức”, một phần ba khác thấy ông “yếu kém”. Morris tin rằng Bill có đủ sức thay đổi quan niệm “yếu kém” này, nhưng việc đó đòi hỏi một hành động dũng cảm. Rồi Morris đề cập tới một chủ đề mà hầu như không ai dám đem ra bàn với ông Bill: sự yếu kém của ông Bill, theo Morris, chính là Hillary.

“Bà ấy càng có vẻ mạnh mẽ thì tất yếu ông sẽ bị coi là yếu đuối,” Morris nói với tổng thống.

Bill tái mặt khi nghe lời nhận xét mà có lần Tổng thống Nixon từng nêu ra, rồi ông nhanh chóng đổi đề tài. Nhưng chỉ một lát sau Morris đã lại quay trở về chủ đề này. Ông ta nói, “Cứ nghĩ xem, ông và tôi biết rõ thực tế cuộc hôn nhân của ông. Sức mạnh của ông bà bổ sung cho nhau. Nhưng người ngoài không thấy điều đó. Họ nghĩ, không biết ông cầm cương hay bà ấy cầm cương.” Morris thúc giục Bill đưa cho Hillary xem các dữ kiện thăm dò ý kiến, thảo luận với bà về tình trạng tiến thoái lưỡng nan của họ và cố gắng tìm ra một giải pháp. (Một người bạn cho biết, hầu như chắc chắn Bill đã bác bỏ lời khuyên của Morris.)

Không hề hay biết về những kết luận của Morris, Hillary cứ yên chí rằng tổng thống đã được giao phó vào đôi bàn tay tin cậy. Một vài người bạn của bà nói rằng việc Morris quay lại tham gia tập thể những người thân cận là cách thức để bà Hillary tách mình ra khỏi công việc hàng ngày của việc lập chính sách và cái vòng xoáy của khu vực Cánh Tây. Bà cần có thời gian và khoảng cách để tập trung vào chính mình, nhu cầu của mình và mục tiêu của mình. Một người bạn cho biết, “Tôi thực sự tin rằng bà ấy cần có một thời gian dài để quen với cách thức bà ấy bị tấn công tàn nhẫn trong vụ cải cách y tế – việc đó sẽ in dấu vĩnh viễn trong trí nhớ của bà. Và nó cho bà một lý do để càng thêm hờ hững với việc sử dụng quyền lực ở Nhà Trắng. Sau đó thì bà rất ít khi xuất hiện ở đó,” người bạn này nói.

Lễ Giáng sinh mang tới cho Hillary hai món quà trùng nhau; mỗi món đều gây ấn tượng mạnh cho Đệ nhất Phu nhân. Một thành viên trong nhóm cầu nguyện của Hillary – gồm những phụ nữ sẵn sàng chia sẻ với bà, trong đó có một số phụ nữ thuộc Đảng Cộng hòa, và một người bạn từ Arkansas cùng gửi tặng cho bà cuốn sách có nhan đề Ngày về của đứa con đi hoang của một tu sĩ người Hà Lan có tên là Henri Nouwen. Hillary xúc động trước khám phá của Nouwen về một ngụ ngôn mà Chúa Jesus kể về một gia đình có hai con trai; người em đã rời cha và anh mình, dấn thân vào một cuộc đời gió bụi. Cuối cùng khi trở về nhà, anh ôm lấy cha nhưng bị người anh có tinh thần trách nhiệm hơn ghét bỏ. Hillary nhớ lại rằng, có “một câu đơn giản trong cuốn sách của Nouwen đã có sức lay động như một sự mặc khải: kỷ luật của lòng biết ơn.”

Bà đã từng cảm thấy buồn cho bản thân mình – tất cả những nỗi bực dọc suốt hai năm qua đã bảo chứng cho cảm xúc ấy – và kết quả là bà nhận ra rằng, có được lòng biết ơn đối với tất cả những điều tốt lành trong cuộc đời quả là không dễ dàng. Nhiều năm sau bà nhớ lại: “Tôi có rất nhiều điều phải cảm tạ, ngay cả giữa những cuộc bầu cử thất bại, những nỗ lực cải cách hệ thống y tế bị đổ vỡ, những cuộc tấn công có tính phe phái và của cơ quan công tố, cũng như cái chết của những người tôi yêu mến. Tôi phải tự khép mình vào kỷ luật để luôn nhớ rằng mình đã có phước biết bao.”

Ông Bill cũng đưa ra lời khuyên về cách thức để bà Hillary thoát ra được khỏi cơn kinh sợ. “Khi em đương đầu với một tình huống như thế này, vấn đề không chỉ là liệu từ đó em có đứng dậy lại được hay không, về mặt chính trị cũng như về vẻ bên ngoài. Anh muốn nói rằng, về nội tâm, tình huống này cũng có tác động đối với em. Hoặc là nó làm em co lại và hẹp hòi đi, hoặc là nó làm cho em lớn hơn, tốt hơn lên và em trưởng thành lên từ đó.”

Vào một ngày u ám không lâu sau cuộc bầu cử giữa kỳ, Hillary ghé qua văn phòng của mình và dừng lại trước tấm ảnh bà Eleanor Roosevelt được đóng khung đặt trên bàn. Bà giật mình vì nhận ra những cảm xúc rõ ràng là trái ngược nhau giữa sự bình tĩnh và tính kiên quyết đều in dấu trên gương mặt bà Eleanor. Bà nhớ lại cái triết lý “chấp nhận mọi tình huống” của bà Eleanor. “Phụ nữ giống như một túi trà. Bạn sẽ không bao giờ biết trà đậm hay nhạt nếu chưa nhúng túi trà vào nước sôi,” bà Eleanor từng nói như vậy.

Hillary quyết định, “Đã đến lúc phải trò chuyện với Eleanor lần nữa.”

Từ khi bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống của ông Bill, bà Hillary đã “cảm thấy gần gũi” với bà Eleanor, thường có những cuộc chuyện trò tưởng tượng với người nữ anh hùng của mình, như một cách lấy cảm hứng và định hướng từ cuộc đời con người ấy. Hillary đã đọc ngấu nghiến hàng loạt sách viết về Eleanor, tìm thấy sức mạnh trong tấm gương dũng cảm của bà. Mỗi khi phải đương đầu với một quyết định khó khăn, Hillary thường tự hỏi mình: “Nếu là bà Eleanor, bà ấy sẽ làm gì? Bà ấy sẽ xử lý chuyện này như thế nào?”

Ngày 26 tháng 1 năm 1995, Hillary có bài phát biểu quan trọng trong lễ đặt tên trường Đại học Eleanor Roosevelt tại thành phố San Diego, một sự kiện bà đã chờ đợi nhiều tháng trời. Đệ nhất Phu nhân đã dạt dào cảm xúc khi nói về lòng dũng cảm của người nữ anh hùng, nhưng bài diễn văn này cũng bộc lộ khá nhiều suy nghĩ của chính bà trong những ngày đen tối đó. Chủ đề của bài phát biểu là nói về việc có những lựa chọn đúng và tầm quan trọng của việc chống lại nỗi cám dỗ để những kẻ xấu bụng, những kẻ hay phê phán – và thậm chí những kẻ thù – được phép biến bạn thành một thứ khiến bạn phải cảm thấy xấu hổ.

Bà nói: “Eleanor Roosevelt cũng hiểu rằng mỗi người trong chúng ta mỗi ngày đều phải lựa chọn mình sẽ là loại người nào, mình muốn trở thành loại người nào. Tôi muốn nói rằng mỗi ngày các bạn đều có cơ hội để thể hiện lòng dũng cảm. Bạn có một chọn lựa. Bạn có thể quyết định trở thành một người cố gắng đem mọi người lại gần với nhau, hoặc bạn có thể trở thành con mồi cho những kẻ chỉ muốn chia rẽ chúng ta. Bạn có thể trở thành một người đứng lên chống lại mọi thiên kiến và cố chấp; hoặc bạn có thể đi cùng với đám đông, kể chuyện tiếu lâm và chỉ tay năm ngón. Bạn có thể trở thành một người tin tưởng rằng nghĩa vụ của một công dân là tự giáo dục bản thân và học hỏi những gì đang diễn ra để có thể đưa ra một quyết định có hiểu biết; hoặc bạn có thể nằm trong số những người tin rằng cứ tỏ ra tiêu cực là khôn ngoan, tỏ ra hoài nghi là đúng mốt và thực sự không việc gì mình có thể làm được cả.”

Bạn bè của Hillary đều biết rằng bài diễn văn này là một diễn văn mang đậm tính cách cá nhân. Hillary đã hình dung rằng mình có một lựa chọn phải quyết định – thực ra thì không chỉ có một lựa chọn.

LỰA CHỌN ĐẦU TIÊN là về căn bản bà phải chấm dứt việc tham dự các cuộc họp vào tối thứ tư hàng tuần tổ chức trên lầu trong khu dinh thự riêng cùng với tổng thống, ông Dick Morris và các chiến lược gia chính trị khác. Trên thực tế, từ tháng 1 năm 1995 đến khi Morris bị trục xuất khỏi nhóm của Bill Clinton tháng 8 năm 1996, (sau khi vụ hẹn hò của ông với một cô gái điếm ở khách sạn Jefferson ở Washington bị bại lộ), Hillary chỉ tham dự một vài buổi họp. Một quan chức hành pháp ở Washington nói rằng, ông ta nhớ ra bà Hillary chỉ tham dự một cuộc họp gây quỹ rất quan trọng vào cuối mùa xuân năm 1995; sự xuất hiện của bà được nhiều người chú ý vì bà đã vắng mặt nhiều tháng rồi. Quyết định này hoàn toàn không có gì mù mờ; mọi người đã được thông báo rõ ràng rằng bà đã rút lui.

Khi có người còn chưa hiểu ra thông điệp của bà thì Hillary đã chuẩn bị đi xa khỏi Nhà Trắng hàng ngàn dặm. Bà quyết định đã đến lúc phải đi ra khỏi thủ đô Washington và khám phá thế giới. Đối với một số người ở Cánh Tây, dường như Hillary đang đào thoát.

Vào ngày 25 tháng 3 năm 1995, mười bảy tiếng đồng hồ sau khi cất cánh từ căn cứ không quân Andrews ở ngoại ô Washington, chiếc máy bay quân sự của Hillary tiến vào không phận thủ đô Islamabad của Pakistan, trong chuyến công du dài đầu tiên của bà ở nước ngoài mà không có ông chồng tổng thống đi kèm. Trong đoàn tùy tùng đông đảo của bà có cả cô bé Chelsea.

Về một vài phương diện, Hillary đang đi đúng con đường của một Đệ nhất Phu nhân ít tham vọng hơn là bà Jacqueline Kennedy, bằng cách công du đến năm quốc gia ở Nam Á. Bà Jackie đã viếng thăm Ấn Độ và Pakistan vào tháng 3 năm 1962 và hành trình của Hillary buộc người ta phải nhớ lại cuộc du hành trước đó hơn ba mươi năm. Nhưng chuyến công du của Hillary còn là chuyến du hành cá nhân; bà cần tìm lại phương hướng của mình, và bà đang quay về với mảnh đất quen thuộc của bà – mảnh đất nữ quyền. Có lẽ, như lời một người bạn, chuyến công du nước ngoài này là bước đi đầu tiên, có chủ định tiến tới sự phục sinh về chính trị của chính bà.

Ngày đầu tiên của Hillary ở Islamabad, thủ tướng dân cử Benazir Bhutto đã khoản đãi bà bằng một bữa cơm trưa chào mừng bà. Bà Bhutto là người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử Pakistan đã lên đến đỉnh cao quyền lực. Nhiều phụ nữ Pakistan thành đạt khác được mời dự bữa cơm; trong đó có một phó thanh tra cảnh sát và một nữ phi công. Trong một đất nước Hồi giáo, hiếm khi phụ nữ gặt hái được những thành công lớn lao như vậy, bà Hillary thấy khôi hài khi Nam Á cũng đang khao khát sự lãnh đạo của phái yếu. Bà quan sát thấy “Pakistan, Ấn Độ, Bangladesh, và Sri Lanka lại được cai trị bởi những phụ nữ được dân chúng bầu lên làm tổng thống hoặc thủ tướng, trong một khu vực mà phụ nữ bị coi thường tới mức một số bé sơ sinh là con gái thì bị bỏ rơi, thậm chí giết bỏ”.

Thủ tướng Bhutto tuyên bố rằng, “Những phụ nữ đảm nhận những vấn đề khó khăn và khai phá những vùng đất mới thường là những người phải nhận lấy sự vong ơn.” Những nhận xét này đã cộng hưởng với Hillary. (Bà Bhutto cũng có ông chồng có vấn đề với pháp luật; cuối cùng ông này đã phải ngồi tù ở Pakistan vì tội tham nhũng). Một thập niên sau này, khi ông Bill suy ngẫm về khả năng bà vợ sẽ ra ứng cử tổng thống, ông sẽ phải nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của bà Bhutto như một tấm gương về hậu quả chính trị của quyền lực gia đình.

Ngày hôm sau, Hillary viếng thăm tòa đại sứ Hoa kỳ tại thủ đô Islamabad để an ủi các nhân viên đang đau buồn vì hai đồng nghiệp của họ bị sát hại chỉ hai tuần trước đó ở Karachi. Vụ ám sát rõ ràng là một cuộc trả thù việc Pakistan mới cho phép dẫn độ sang Mỹ kẻ chủ mưu vụ khủng bố Trung tâm Thương mại Thế giới năm 1993. Vài ngày trước cuộc công du của bà Hillary, một số nhân vật trong Quốc hội đã yêu cầu nước Mỹ phải làm nhiều hơn để hạn chế các trường giáo lý ở Pakistan đang đào tạo các kẻ khủng bố. Nhưng cuộc viếng thăm của bà Hillary không nhằm mục đích chính trị hay chủ nghĩa khủng bố.

Từ Islamabad, Hillary bay tới Lahore, thủ phủ bang Punjab. Ở đó bà tập trung chú ý vào nỗi thống khổ của người phụ nữ. Ngồi dưới bóng cây bên ngoài Lahore, bà lắng nghe một người phụ nữ có 10 đứa con – 5 con trai và 5 con gái – cho biết những đứa con gái ít có cơ hội được đến trường hơn những đứa con trai như thế nào. “Tôi biết các con gái tôi cũng có trái tim và bộ óc và tôi muốn chúng cũng có cơ hội giống như các anh em trai của mình,” người đàn bà nói. Tại trường đại học về Khoa học Quản trị Lahore, Hillary lên tiếng cổ vũ khán giả qua lời tuyên bố, “Nếu phụ nữ không phát triển, thế giới sẽ không phát triển được.” Bà cũng kể câu chuyện về một người đàn ông cố gắng tìm lại bản sắc của mình. Câu chuyện này có một ý nghĩa phổ quát. “Tất cả chúng ta đều đang đấu tranh tìm kiếm phương hướng của mình,” bà nói. Những lời này có ý nghĩa với người đàn ông trong câu chuyện cũng ngang như đối với bà.

Từ Pakistan, Hillary du hành sang Ấn Độ, nơi bà có bài phát biểu về quyền của phụ nữ tại Quỹ Rajiv Gandhi. Cũng giống như ông ngoại và thân mẫu là Indira Gandhi, ông Rajiv Gandhi là một Thủ tướng. Bà Indira Gandhi, cũng như bà Benazir Bhutto, đã là một nữ nguyên thủ quốc gia mang theo di sản của gia đình, lại thêm một tấm gương mà ông Bill Clinton sẽ cần phải học tập nhiều năm sau này khi ông giúp bà Hillary tranh cử vào chức vụ tổng thống.

Ở New Delhi, Hillary xúc động sâu sắc bởi một bài thơ mà một nữ sinh viên trẻ trường Đại học nữ Shri Ram viết ra. Bà kết thúc bài diễn văn của mình bằng những dòng thơ đó:

Có nhiều phụ nữ

Ở nhiều quốc gia

Nói cùng ngôn ngữ

Lặng im... (34)

Mấy câu thơ cũng gây xúc động cho các phóng viên tháp tùng Đệ nhất Phu nhân – thêm một dấu hiệu về mức độ ấm lại trong quan hệ giữa Hillary và báo chí, ít nhất là với những nhà báo cùng đi với bà trong chuyến du hành châu Á. “Sự chuyển hóa xảy ra trong mối quan hệ của tôi với báo chí là một điều ngạc nhiên thú vị của chuyến đi,” Hillary nhớ lại. Mối quan hệ đó được cải thiện một phần nhờ vào việc, theo luật của chuyến du hành này, những phát biểu, nhận xét “vo” của Hillary sẽ không được ghi chép lại, không được tường thuật trên báo chí, và điều đó đã khuyến khích bà nói chuyện nhiều hơn, thăm thú nhiều hơn.

THÁNG 9 NĂM 1995, Hillary công du tới Trung Quốc để tham dự Hội nghị Thế giới thường niên về Phụ nữ của Liên Hiệp Quốc lần thứ tư. Bà chỉ là chủ tịch danh dự của đoàn đại biểu Hoa Kỳ, nhưng vai trò của bà bỗng trở nên hết sức tích cực. Bà hy vọng sẽ “đẩy vấn đề đi xa hết mức có thể vì quyền phụ nữ,” và bài diễn văn của bà, đọc tại Đại sảnh đường Nhân dân Bắc Kinh, là một lời kêu gọi hùng hồn cho nữ quyền phải ngang bằng với nhân quyền, “một lần và mãi mãi”. Bộ trưởng Bộ Y tế và Dịch vụ Con người của Mỹ, bà Donna Shalala – một thành viên trong nội các, người ngồi vào chiếc ghế của Mỹ tại Hội nghị ở Bắc Kinh, nghĩ rằng Hillary đã “nắm bắt được khoảnh khắc ấy trong một câu nói độc nhất.” Nỗi tự hoài nghi của Hillary sau những biến cố ngu xuẩn năm 1994 dường như đã biến mất hoàn toàn vào lúc bà hoàn tất bài diễn văn dài hai mươi mốt phút.

Nhưng những mục tiêu lý tưởng của Hillary đã bị làm yếu đi bởi lập trường chính trị thực dụng của bà. Bà đã không nêu tên nước chủ nhà hoặc bất kỳ nước nào trong bài diễn văn của mình, cho dù bà biết rất rõ những cố gắng của Trung Quốc trong việc bịt mồm bịt miệng các đối thủ, kể cả việc cưỡng bức các tổ chức phi chính phủ phải dọn ra xa, cách địa điểm hội nghị bốn mươi dặm. Ngay cả khi Chính phủ Trung Quốc xóa bỏ bài diễn văn của bà trên hệ thống truyền hình nội bộ trong Đại sảnh đường Bắc Kinh, bà cũng không nói điều gì khiến họ có thể bực mình.

Sau này Hillary nói với đài CNN rằng, trong thực tế bà muốn đề cập tới những vi phạm nhân quyền của Trung Quốc. Nhưng ông Bill, vì mong muốn cải thiện quan hệ với Bắc Kinh, đã nhấn mạnh rằng, “không hề có nỗ lực ám chỉ đến một quốc gia cụ thể nào.” Và cho dù sau đó bà có nói gì chăng nữa, trong bài diễn văn chắc chắn là bà đã không nhắc tới một cái tên nào.

Sau này Hillary viết lại rằng bài diễn văn Bắc Kinh “là một tuyên ngôn cho phụ nữ khắp thế giới.” Thật vậy, thông điệp của bà, tuy không được truyền hình ngay tại Đại lễ đường Bắc Kinh nhưng lại được chiếu khắp thế giới. Bài diễn văn của bà đã nâng bà lên, như bà Donna Shalala nhận định, “từ một Đệ nhất Phu nhân thực sự hàng đầu lên thành một phu nhân kiệt xuất.” Thậm chí có thể cùng đẳng cấp với bà Eleanor Roosevelt, mặc dù Hillary luôn luôn từ chối sự tôn vinh như vậy. Bà nói: “Tôi không muốn so sánh như vậy vì tôi không nghĩ rằng sẽ có người nào giống như bà ấy”. Nhưng sự miễn cưỡng này thì khác với sự từ chối.

BỀ NGOÀI, bà Hillary có vẻ ít hoạt động hơn, thậm chí có vẻ như bà bị kiềm chế bởi thất bại của dự án cải tổ y tế. Bà không tham dự các phiên họp nội các nữa, và rất ít dự các cuộc họp về chính sách của Nhà Trắng. Bà Donna Shalala nói, giờ đây Hillary “cực kỳ thận trọng, không hề ngồi vào chiếc bàn hoạch định chính sách.” Nhưng cho dù đã chấp nhận một hình ảnh mờ nhạt hơn, Hillary vẫn là “một người ủng hộ rõ ràng, mạnh mẽ” như lời Shalala. Ông Robert Reich, cựu Bộ trưởng Bộ Lao động và là người bạn lâu năm của gia đình Clinton, nói rằng “không thể nào đánh giá thấp ảnh hưởng của bà ấy.” Reich nhớ lại những lần ông gửi thông điệp cho tổng thống thông qua bà Hillary, mà ông gọi là “cánh cửa sau rất đơn giản.”

Chính thức mà nói, việc thu hẹp ảnh hưởng của bà Hillary ở khu Cánh Tây được đẩy mạnh sau vụ từ chức của ông Thomas “Mack” McLarty, chánh văn phòng Nhà Trắng. Ông McLarty là bạn thiếu thời của ông Bill khi còn ở Arkansas và là người thân tín của Hillary. Người thay thế ông ta là Leon Panetta, nguyên là giám đốc về ngân sách và một chính trị gia ở Washington.

Dưới thời ông McLarty, Hillary còn có quyền lực hơn cả ông Al Gore, theo truyền thống là nhân vật số hai. Nhưng sau khi ông Panetta nhậm chức, Đệ nhất Phu nhân bị hạ xuống một cấp so với phó tổng thống Al Gore. Đệ nhất Phu nhân và Phó tổng thống đã từng là những đối thủ liên tục cạnh tranh nhau giành lấy sự chú ý của tổng thống, và nay thì cuộc cạnh tranh đó càng thêm quyết liệt. Một phụ tá của Clinton nhớ lại rằng có lần Hillary bảo chồng hãy bỏ qua những lời khuyên của Gore. Hillary bảo ông Bill: “Hãy nhớ lấy, ông ấy không phải là tổng thống... chính anh mới là tổng thống.” Với lợi thế gần gũi, Hillary là người đưa ra lời nói sau cùng, nhưng ông Gore cũng có những nguồn lực và đồng minh riêng của mình.

Trong hàng loạt vấn đề, Đệ nhất Phu nhân tiếp tục gây ảnh hưởng mạnh mẽ nhưng thầm lặng. Panetta nhớ lại: “Đối với những vấn đề ngân sách, khi bà ấy cảm thấy một chương trình nào đó không được tài trợ đầy đủ thì bà ấy sẽ nói ra, trong một cuộc họp cán bộ thu hẹp ở Phòng Bầu dục.” Thật vậy, trên đồi Capitol[2] người ta vẫn coi Hillary là người cần phải tiếp xúc trong những vấn đề về ngân sách. “Khi tôi muốn biết con số những trẻ em được cải thiện về chăm sóc sức khỏe theo ngân sách của Nhà Trắng, tôi không gọi điện cho Văn phòng quản lý và ngân sách, tôi cũng không gọi điện cho chánh văn phòng. Tôi gọi cho Đệ nhất Phu nhân,” ông Christopher Dodd, Nghị sĩ Đảng Dân chủ từ bang Connecticut, nói. Và sau khi chương trình cải cách y tế bị thất bại, Hillary đã “quay trở lại với nó thông qua những vấn đề khác, chẳng hạn như vấn đề sức khỏe của các cựu chiến binh từ vùng Vịnh trở về, vấn đề sức khỏe của phụ nữ,” ông Panetta nhớ lại. Theo một cựu phụ tá hàng đầu của bà, trong chương trình chăm sóc sức khỏe trẻ em trị giá hàng tỷ đôla, Hillary “rất tích cực” trong việc vận động Quốc hội và tiếp tục theo dõi vấn đề này sau khi nó đã được ban hành thành luật để bảo đảm rằng phải được đưa vào thực hiện một cách đúng đắn.

Đối với công chúng, Hillary tô vẽ những năm tháng Đệ nhất Phu nhân của mình như những năm tháng phụ thuộc hoàn toàn vào tổng thống. “Tôi ủng hộ chương trình làm việc của ông ấy,” bà viết trong cuốn hồi ký của mình. “Và tôi làm việc cật lực để biến tầm nhìn của ông ấy thành hành động.” Trong nhiều trường hợp, điều đó là đúng sự thật nhưng không phải bao giờ cũng đúng. Thật vậy, khi đức ông chồng ngày càng phải cong lưng đối phó với những dữ kiện thăm dò dư luận và sự bất bình của Đảng Cộng hòa, thì chính bà Hillary lại cố gắng giữ vững lập trường. Trong vấn đề quyền công dân, có lẽ là vấn đề mang dấu ấn của ông Bill rõ nhất, bà Hillary đã làm việc cật lực để ngăn ông không rút lui quá xa khi đối mặt với sự phản đối của phe Cộng hòa hoặc với một số thiên kiến của Dick Morris. Các cuộc thăm dò cho thấy đa số người dân Mỹ phản đối một hành động quả quyết. Nhưng ông Panetta cố gắng khuyên bảo tổng thống rằng “đó không chỉ là thăm dò dư luận.” Bà Hillary cũng thúc giục đức ông chồng tiếp tục chiến đấu cho một hành động quả quyết. “Về vấn đề này anh không thể lùi được,” bà nói với ông Bill. Theo ông Panetta, trong vấn đề quyền công dân, Hillary là “tiếng nói của lương tâm – phát ngôn của bà là tiếng nói của điều phải; tiếng nói của bà là tiếng nói mạnh mẽ.”

Sự đón tiếp mà bà Hillary nhận được ở nước ngoài đã góp phần đánh thức niềm tự tin của bà cũng như sự cam kết dấn thân của bà cho những vấn đề cốt lõi – kể cả sự tự nguyện giữ vững một lập trường mang tính nguyên tắc đối lập với hai chuyên gia về thăm dò dư luận gần gũi nhất với bà là đức ông chồng và ông Dick Morris. Tiếng nói của bà ngày càng được lắng nghe ở cả bên ngoài thủ đô Washington. Một lần nữa, khuôn mẫu cho bà chính là bà Eleanor Roosevelt. Năm 1941, bà Eleanor đã từng được giao một vị trí cao cấp là Phòng vệ Dân sự để rồi chỉ một năm sau bà từ chức sau khi phải nhận quá nhiều những cuộc tấn công đầy khinh thị của những nhà phê bình. Sau đó, bà Eleanor đã tự làm mới mình, vận dụng một cách tiếp cận mềm dẻo hơn với những vấn đề mà bà quan tâm, chẳng hạn những vấn đề phụ nữ, người sắc tộc thiểu số, người nhập cư... thông qua những cuộc trả lời phỏng vấn trên đài phát thanh và trên những cột báo thường xuyên. Việc bà Hillary tiếp thu “cung cách của bà Eleanor Roosevelt” là một sự kiện không lọt khỏi mắt các chiến lược gia của cả hai đảng. Bà bắt đầu viết cuốn sách Cần một ngôi làng (It takes a Village), và giữ một cột báo thường xuyên. Cả cuốn sách và cột báo đã là những công việc được sử dụng một cách dứt khoát, không né tránh, và được thiết kế để gây dị ứng trong mọi phương diện. Chắc chắn rằng bà Hillary đã coi cuốn sách viết về thiếu nhi của mình là một nỗ lực chống lại lời tuyên bố mang đậm chất Dickens của Newt Gingrich, chủ tịch Hạ viện thuộc Đảng Cộng hòa, và các đồng minh của ông ta, đặc biệt là “các học giả phản động, các nhân vật truyền hình và phát thanh”. Nhưng đó chính là chính trị với ý nghĩa cực kỳ mềm dẻo.

Sự nhún nhường nơi công cộng không tương thích với cuộc sống riêng tư. Chung quanh thời điểm xuất bản cuốn sách, Panetta trước tiên nhận ra rằng bà Hillary đã bị kích động biết bao trước dòng thác tấn công đều đặn mà cánh hữu tiến hành chống lại bà và ông Bill. Trong một chuyến đi ngắn bằng máy bay trực thăng từ sân cỏ Nhà Trắng ra căn cứ không quân Andrews, trong một ý định khơi gợi cuộc trò chuyện, Panetta bất cẩn nhắc tới chuyện gì đó về một người nào đó ở Arkansas và bà Hillary lập tức nổi nóng.

Panetta nhớ lại bà đã nói: “Tôi bảo cho anh biết, bọn cánh hữu cứ đuổi theo chúng tôi từ hồi còn ở Arkansas. Chúng không để chúng tôi yên. Bọn chúng thật vô liêm sỉ.” Sau đó Hillary bỗng giận dỗi suốt chặng đường “cho đến khi chúng tôi hạ cánh xuống Andrews,” ông Panetta nhớ lại.

Nhưng bà Hillary cũng tìm ra những cách thức xoa dịu đám người ủng hộ ông Gingrich trong những vấn đề như cải cách hệ thống phúc lợi. Trên con đường đó, bà đã gây ra một sự rạn nứt vĩnh viễn với người đồng minh lâu đời nhất của bà trong sự nghiệp thúc đẩy quyền trẻ em. Năm 1996, trong lúc bà Hillary đang quảng bá cuốn sách của mình, thì Gingrich đã buộc tổng thống phải đương đầu với khả năng phải phủ quyết lần thứ ba một dự luật về phúc lợi đã được Quốc hội thông qua. Biện pháp có tính chất đột phá nổi lên trong dự luật mà Quốc hội do Đảng Cộng hòa kiểm soát đưa ra là, đưa những người được hưởng phúc lợi ra khỏi danh sách tài trợ của Chính phủ và chuyển họ cho các doanh nghiệp bằng cách ấn định thời gian được hưởng phúc lợi. Lúc đầu ông Bill đã đề nghị cải cách hệ thống phúc lợi xã hội, nhưng những khía cạnh mà Gingrich và đồng minh của ông ta đề xuất đã làm thay đổi căn bản bản dự luật theo cách mà tổng thống cảm thấy lúng túng. Một trong những nhân vật phản đối chủ chốt đối với dự luật này là Marian Wright Edelman, sáng lập viên của Quỹ Bảo vệ Trẻ em, người phụ nữ mà Hillary tin cẩn, và trong thập niên 1970 đã gây cảm hứng cho bà để bắt đầu sự nghiệp ủng hộ trẻ em kéo dài suốt cuộc đời.

Tuy vậy hai mươi lăm năm sau, Hillary đã không còn là một luật sư đầy lý tưởng. Cũng giống như đức ông chồng, bà đã là một chính trị gia thực dụng đầy toan tính. Các luật gia như Edelman, theo kết luận của Hillary, là “không bị ràng buộc vào sự thỏa hiệp.” Bà đối lập sự từ chối uốn mình của họ với sự thỏa hiệp mà bà và đức ông chồng thường xuyên tìm kiếm.

Về mặt công khai, Hillary từ chối thỏa hiệp những nguyên tắc hoặc giá trị khi bà tán thành sự ủng hộ của ông chồng đối với dự luật cải cách phúc lợi và sự việc này diễn ra khi ông đang chuẩn bị đối mặt với cuộc tái tranh cử tổng thống. Bà nói, bà tin tưởng rằng dự luật mà Quốc hội thông qua lần thứ ba đã tiến đủ xa trong việc bảo đảm các quyền lợi về y tế, chăm sóc trẻ em và khẩu phần thực phẩm để xứng đáng nhận được sự ủng hộ của bà và của ông Bill. (Những người khác, cả những người tự do và những người bảo thủ, đều lưu ý rằng bản dự luật thứ ba này hầu như giống nguyên xi hai bản dự luật mà ông Bill đã phủ quyết trước đó.) Bà viết rằng, “Các chiến lược và chiến thuật phải đủ linh hoạt để có thể tạo được tiến bộ, đặc biệt là trong những điều kiện chính trị khó khăn mà chúng ta phải đối mặt.” Trong một cuộc thảo luận riêng tư về cải cách phúc lợi vài tháng trước khi dự luật được thông qua, Hillary đã nói với một phụ tá Nhà Trắng: “Chúng ta phải làm những gì chúng ta phải làm, và tôi hy vọng các bạn của tôi sẽ hiểu điều đó.” Mặc dù chưa phải là một chính trị gia hoạt động công khai, nhưng lời giải thích này của Hillary hé mở cho thấy bà sẽ hành xử ra sao khi trở thành một chính trị gia thực thụ – đi vào con đường lợi thế bầu cử ngắn hạn khi cần thiết mà không bộc lộ nỗi ân hận nào.

Nhiều năm sau, luật về cải cách phúc lợi được nhiều người coi là một thành công, nhiều người khác lại coi đó là một sự bỏ rơi những người thật sự có nhu cầu vì chạy theo những quan điểm chính trị nóng bỏng. Trong cuốn sách của mình, Living History, Hillary tìm được không gian để bày tỏ lòng biết ơn hơn bốn trăm người bạn, đồng nghiệp và người ủng hộ. Marian Wright Edelman không có trong số đó.

❀ ❀ ❀

[1] Người chuẩn bị tài liệu và chấp bút một cuốn sách để người khác đứng tên tác giả - ND

[2] Trụ sở Quốc hội Mỹ - ND

ịch: Dương Thủy Huỳnh Hoa —★— Bài Học Hillary ebook©MotSAch TVE-4u©Trần Ngọc Anh —★— Nhà xuất bản: NXB Tri thức
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Don Van Natta, Jeff Gerth

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.