Đối với các thám tử làm tại phòng điều tra án mạng Boston thì chuyến viếng thăm phòng thí nghiệm tội phạm chỉ mất một đoạn đường trong hành lang thoáng mát, không thấy ánh mặt trời, tới dãy nhà phía nam của Schroeder Plaza mà thôi. Rizzoli đã đi qua cái hành lang ấy hàng ngàn lần và ánh nhìn của cô thường hướng về những ô cửa sổ trông ra khu Roxbury đầy rắc rối đó - nơi những cửa hàng luôn phải chèn chặt bên trong và dùng khóa chắc bên ngoài. Nơi những chiếc xe ô tô đang đỗ sẽ luôn phải trang bị sẵn gậy gộc để đề phòng. Nhưng hôm nay tâm trí cô chỉ theo đuổi đúng một vấn đề vì thế cô không hề liếc nhìn phía bên mà đi thẳng xuống phòng S269 - phòng thí nghiệm về tóc, các loại sợi và các chứng cứ còn lại tại hiện trường.
Trong căn phòng không có cửa sổ, đầy các loại kính và những màu sắc quang phổ khác nhau đó, chuyên gia trong lĩnh vực tội phạm - Erin Volchko là người có quyền hành tối thượng. Thoát khỏi ánh nắng mặt trời và khung cảnh phía ngoài cô sẽ tập trung hơn vào thế giới phía dưới các ống kính. Lúc Rizzoli bước vào phòng, Erin xoay người để đối diện với cô.
“Tôi đã đặt nó dưới kính hiển vi cho cô rồi đây. Cô lại xem đi.”
Rizzoli ngồi xuống, nhìn vào mắt kính. Cô thấy một sợi tóc được trải dài trên mặt phẳng phía dưới.
“Đây là sợi tóc nâu dài tôi đã lấy ra từ đoạn băng dính dùng để trói mắt cá chân bác sĩ Yeager. Có duy nhất một sợi như thế dính ở đó. Những sợi khác đều ngắn, bị kéo ra khỏi tay chân nạn nhân, có thêm một trong số những sợi tóc trên đầu nạn nhân được lấy ra từ dải băng dán miệng anh ta. Nhưng sợi tóc này là sợi tóc lạc loài. Nó cũng là một câu đố cho chúng ta. Nó không khớp với tóc của nạn nhân, cũng không khớp với những sợi tóc mà ta lấy được từ lược của người vợ.”
Rizzoli xăm soi sợi tóc.
“Nó có chắc là của người chứ?”
“Là của con người.”
“Vậy tại sao nó lại không thể là tóc của đối tượng mà chúng ta đang săn tìm?”
“Hãy xem kĩ nó rồi cho tôi biết cô nhìn thấy gì.”
Rizzoli dừng lại một chút, nhớ lại những điều mình đã học được từ việc giám định pháp y về tóc. Cô biết Erin có lý do để bắt cô phải làm mọi thứ có trình tự, hệ thống như thế. Cô có thể nghe thấy sự thích thú bật lên trong giọng nói của mình.
“Sợi tóc này bị cong. Góc cong khoảng 0.1 hoặc 0.2. Anh nói độ dài của nó chừng 21 xăng ti mét.”
“Đó là độ dài phù hợp với tóc của phụ nữ. Hơi dài so với đàn ông,” Erin bảo.
“Có phải độ dài sợi tóc làm anh quan tâm?”
“Không. Độ dài sợi tóc không nói cho chúng ta biết về giống được.”
“Vậy tôi nên tập trung vào điều gì?”
“Đoạn đầu của tóc. Phần chân tóc ấy. Cô có nhận thấy điều gì lạ không?”
“Phần chân tóc có vẻ thô, xước. Giống như răng lược.”
“Đó chính xác là từ mà tôi định dùng. Chúng tôi gọi đó là phần chân răng lược. Nó là phần tập trung của rễ tóc. Bằng cách khám nghiệm chân tóc, chúng tôi có thể nói được sợi tóc đang phát triển ở giai đoạn nào. Cô muốn đoán không?”
Rizzoli tập trung nhìn phần chân như hình củ hành với lớp bọc mỏng như tơ.
“Có cái gì đó trong suốt bám vào chân nó.”
“Biểu mô.”
“Điều đó có nghĩa là nó đang trong quá trình phát triển.”
“Đúng thế. Chân tóc tự thân nó cũng lớn thêm một chút vậy nên sợi tóc này đang ở trong quá trình phát triển của giai đoạn sau. Nó vừa mới kết thúc giai đoạn phát triển tích cực. Phần mô ấy có thể cho chúng ta biết ADN.”
Rizzoli ngước nhìn Erin.
“Tôi không thấy chuyện đó thì có liên quan gì đến thây ma cả?”
“Tôi không nói với nghĩa đen,” Erin cười nhẹ.
“Ý anh là sao?”
“Cô nhìn kĩ sợi tóc lần nữa đi. Hãy xem từ phần gốc trở nên.”
Rizzoli lại nhìn vào kính hiển vi lần nữa, tập trung vào mảnh tối hơn của sợi tóc.
“Màu của nó không đồng đều.”
“Tiếp đi.”
“Có một dải đen trên sợi tóc, cách chân tóc một đoạn. Đó là gì vậy?”
“Đó được gọi là phần ngoại biên, là nơi có ống tiết chất bã. Sự tiết các chất bã bao gồm các enzyme làm vỡ mô trong quá trình tiêu hóa. Nó làm cho chỗ đó phồng lên và hình thành dải màu tối gần chân tóc. Đó là thứ tôi muốn cô nhìn thấy. Dải ngoại biên. Nó khẳng định rằng sợi tóc này không thể là từ đối tượng truy lùng của cô. Nó có thể rơi ra từ quần áo của hắn ta. Nhưng chắc chắn không phải từ đầu hắn.”
“Tại sao không?”
“Dải ngoại biên cùng phần cuối chân tóc như răng lược là những thay đổi chỉ xuất hiện sau khi chết.”
Rizzoli ngẩng đầu lên nhìn Erin.
“Sau khi chết ư?”
“Đúng thế. Sợi tóc đó là từ một da đầu đang phân hủy. Những sự thay đổi trên sợi tóc ấy có thể thấy rõ là điển hình của quá trình phân hủy. Trừ khi tên giết người đó đội mồ sống dậy, không thì sợi tóc kia không tài nào là của hắn được.”
Rizzoli phải mất một lúc mới cất được giọng.
“Vậy người ta phải chết bao lâu để có thể thấy sự thay đổi trên tóc?”
“Thật không may là những thay đổi của dải ngoại biên không giúp ta khẳng định được khoảng thời gian sau khi chết là bao lâu. Nó có thể được dứt ra khỏi da đầu đang phân hủy bất cứ lúc nào trong khoảng từ tám tiếng đến vài tuần sau khi chết. Tóc từ những xác ướp cách đây hàng năm trời cũng có thể trông giống như thế.”
“Vậy nếu như ta dứt một sợi tóc ra khỏi đầu ai đó khi họ vẫn đang sống thì sao? Để sợi tóc đó một lát thì có xuất hiện những thay đổi đó không?”
“Không. Những sự thay đổi do phân hủy chỉ xuất hiện khi tóc vẫn còn trên da đầu của người chết. Chúng chắc chắn là bị dứt ra sau khi người đó chết.”
Erin nhìn ánh mắt sửng sốt của Rizzoli rồi nói tiếp, “Con mồi của cô đã có mối liên hệ gì đó với một cái xác. Sợi tóc của người chết đã dính vào quần áo của hắn ta sau đó thì dính vào dải băng dính trong khi hắn trói bác sĩ Yeager.”
“Hắn ta đã có một nạn nhân khác,” Rizzoli nói nhẹ.
“Đó cũng là một khả năng. Nhưng tôi có một ý khác.”
Erin đi tới ngăn tủ rồi quay lại với chiếc khay nhỏ có đoạn băng dính trên đó.
“Đây là đoạn băng đã được lột khỏi cổ tay của bác sĩ Yeager. Tôi muốn cho cô xem nó dưới tia UV. Cô ấn công tắc trên tường giúp tôi được chứ?”
Rizzoli nhấn công tắc. Trong bóng tối đột ngột, ngọn đèn UV của Erin phát ra tia sáng xanh kỳ quái. Đó là nguồn sáng yếu hơn ánh sáng phát ra từ chiếc kính chống phạm mà Mick đã dùng trong nhà của Yeager. Nhưng lúc ánh sáng ấy quét qua đoạn băng dính, nó làm hiện lên những thứ mà nếu chỉ nhìn bình thường ta sẽ không nhận ra được. Một đoạn băng dính hung thủ để lại hiện trường có thể là một đầu mối quý giá để giúp các thám tử điều tra, phá án. Những sợi lông, sợi bông, dấu vân, kể cả ADN của hung thủ cũng có thể để lại trong các mô da hoặc bị dính vào đó. Dưới tia UV Rizzoli có thể nhìn thấy một chút bụi bẩn và vài sợi lông ngắn. Ngoài ra bên mép của đoạn băng dính còn thấy một thứ gì trông như nhúm sợi bông rất đẹp.
“Cô có thấy những sợi bông bên mép của đoạn băng không? Nó chạy dọc theo chiều dài của đoạn băng dính được lột ra khỏi tay của ông bác sĩ, cả ở đoạn băng trói cổ chân anh ta cũng có. Trông chúng giống như sản phẩm của một xưởng sản xuất nào đó.”
“Nhưng chúng không phải như thế?”
“Không, không phải thế. Nếu cô đặt một cuộn băng dính nằm trên một bề mặt nào đó, nó sẽ dính theo những thứ mà nó được đặt lên. Chúng ta đi đến đâu cũng mang theo những vết tích của môi trường mà chúng ta đã ở trước đó. Sau đó chúng ta lại để lại các dấu tích đó ở những nơi chúng ta tới. Đối tượng của cô cũng thế,” Erin nói rồi bật công tắc đèn lên làm Rizzoli lóa mắt trước ánh sáng đột ngột.
“Đó là loại sợi gì?”
“Tôi cho cô xem giờ đây.”
Erin nói rồi di chuyển bản kính có chứa sợi tóc và thay vào đó bằng một bản kính khác.
“Hãy nhìn qua kính, sau đó tôi sẽ giải thích những thứ mà cô đang thấy.”
Rizzoli cúi mắt nhìn vào kính và thấy có một sợi bông tối màu, uốn cong thành hình chữ c.
“Cái này được lấy ra từ gờ của đoạn băng dính,” Erin bảo. “Tôi đã dùng lực của không khí nóng để tách các lớp của đoạn băng. Những sợi bông màu xanh sẫm như thế này chạy dọc suốt chiều dài của nó. Giờ tôi sẽ cho cô thấy phần giao nhau như thế nào.” Erin nói rồi với tay lấy file tài liệu, từ đó cô lấy ra một bức ảnh.
“Đây là hình ảnh của nó dưới kính hiển vi. Cô nhìn xem sợi bông có hình dạng delta như thế nào. Trông giống như một hình tam giác nhỏ. Nó được sản xuất như thế này để giảm thiểu độ bám bụi. Hình dạng delta là hình dạng đặc trưng của những sợi bông dùng cho thảm.”
“Vậy đây là vật liệu bông nhân tạo?”
“Đúng thế.”
“Vậy còn việc song chiết?”
Rizzoli hiểu rằng khi ánh sáng chiếu qua một sợi tổng hợp, nó thường xuất hiện thành hai đường khác nhau như kiểu ánh sáng chiếu qua đồ bằng pha lê vậy. Việc khúc xạ gấp đôi đó được gọi là song chiết. Mỗi loại bông lại có các đặc điểm về chỉ số khác nhau và nó có thể được hiển thị qua một kính hiển vi phân cực.
“Đây là loại sợi xanh rất đặc biệt,” Erin bảo. “Nó có chỉ số song chiết là 0.063.”
“Nó có phải được dùng cho thứ gì đó đặc biệt không?”
“Loại sợi nylon 6.6 thường được dùng cho các tấm thảm vì nó có tác dụng chống bám bẩn, có tính đàn hồi cao và rất bền. Nói theo cách riêng thì cấu tạo và quang phổ hồng ngoại của loại sợi này khớp với loại sản phẩm Dupont có tên gọi là Antron, được sử dụng trong sản xuất thảm.”
“Nó có màu xanh đen đúng không? Đó không phải là màu nhiều người chọn cho ngôi nhà của họ. Nó giống loại thảm dành cho ôtô hơn.”
“Thực ra thì loại màu đặc trưng này,” màu xanh loại 802 đã từ lâu là một lựa chọn chuẩn mực dành cho các loại xe sang trọng của Mỹ như Cadillac và Lincoln.
Ngay lập tức Rizzoli hiểu ra được loại sợi này từ đâu ra. Cô nói, “Cadillac dùng làm xe tang.”
“Lincoln cũng thế,” Erin mỉm cười tán thành.
Cả hai người cùng đang nghĩ về một thứ. Kẻ giết người làm việc với những xác chết
Rizzoli xem xét tất cả những người có thể có mối liên hệ với người chết. Cảnh sát và các nhân viên pháp y được gọi đến hiện trường. Nhà nghiên cứu bệnh học và trợ lý của anh ta cũng có thể. Người ướp xác và người tổ chức lễ tang, rồi người phục chế - người sẽ làm nhiệm vụ gội đầu, trang điểm cho người chết để những người thân yêu của họ có thể đến nhìn mặt lần cuối mà không kinh hãi. Xác chết này cũng được chuyển qua rất nhiều các nhân viên bảo vệ và sợi tóc đó có thể bám vào bất cứ người nào để tay lên người chết ấy.
Cô nhìn Erin, bảo, “Người phụ nữ bị mất tích, Gail Yeager…”
“Có chuyện gì về cô ấy?”
“Mẹ cô ấy mất hồi tháng trước.”
Joey Valentine đang làm cho xác chết trông như người đang còn sống.
Rizzoli và Korsak đứng trong căn phòng đầy ánh sáng của nhà tang lễ trong nhà thờ Whitney. Họ đứng quan sát trong khi Joey làm việc với bộ đồ trang điểm Graftobian của anh ta. Phía trong hộp đồ là những chiếc bình nhỏ đựng phấn màu kem, phấn hồng, son môi. Trông nó cũng giống như những bộ đồ trang điểm của các diễn viên kịch. Chỉ khác là phấn màu kem và màu hồng ấy dùng để tạo sức sống cho làn da xạm tro của các xác chết. Giọng ca mượt mà của Elvis Presley đang vang vang trong ca khúc Love me tender khi Joey đang xát phấn nền lên hai bàn tay của xác chết để che các vết tiêm do truyền dịch và những vết cứa vào động mạch.
“Đây là bản nhạc yêu thích của bà Ober,” anh ta vừa nói vừa liếc nhìn lên ba bức hình đính ở khung để trên chiếc bàn gần đó. Rizzoli đoán chắc đó là ảnh của bà Ober dù người đàn bà trong những bức hình đó chỉ hơi giống cái xác xám xịt đang được Joey chăm chút.
“Người con trai nói bà ấy là một tín đồ của Elvis,” Joey nói tiếp. “Đã từng tới Graceland ba lần. Anh ta đã mang cái đài đến cho tôi để tôi có thể vừa mở nó vừa trang điểm cho bà ấy. Các vị biết đấy tôi luôn cố gắng để mở những bản nhạc hay bài hát yêu thích cho họ. Điều đó cũng giúp tôi có các cảm nhận về họ. Chúng ta có thể biết khá nhiều về một người chỉ cần nghe loại nhạc mà họ thích.”
“Vậy một fan hâm mộ của Elvis thì có thể như thế nào?” Korsak hỏi.
“Anh biết đấy. Son môi màu sáng. Tóc xù. Không có gì giống với những người nghe loại nhạc khác, ví dụ những người nghe Shostakovich chẳng hạn”
“Thế bà Hallowell thì nghe loại nhạc nào?”
“Tôi không nhớ lắm.”
“Anh mới trang điểm cho bà ấy hồi tháng trước mà.”
“Đúng vậy, nhưng không phải lúc nào tôi cũng nhớ được các chi tiết cụ thể,” Joey lúc này đã làm xong việc quét phấn cho bàn tay người chết. Anh ta di chuyển về đầu bàn và đang đứng gật gật đầu theo điệu nhạc của bài You Ain’t Nothing but a Hound Dog.
Trong chiếc quần Jeans đen và chiếc áo theo kiểu của bác sĩ trông anh ta giống như một nghệ sĩ trẻ tuổi đang đứng ngắm tấm vải căng trống trơn để chuẩn bị vẽ. Nhưng tấm vải vẽ của anh ta lúc này là lớp da thịt lạnh ngắt và dụng cụ của anh ta là đám cọ dùng để trang điểm và lọ đựng phấn hồng.
“Tôi nghĩ phấn hồng sẽ dùng loại màu hồng nhẹ có pha màu đồng,” anh ta nói rồi với tay lấy lọ đựng phấn có màu thích hợp. Với dụng cụ dùng để trộn phấn, anh ta bắt đầu pha trộn các màu với nhau.
“A, màu này có vẻ phù hợp cho một người phụ nữ hâm mộ Elvis đây.” Nói rồi anh ta bắt đầu quét phấn lên má của xác chết, từ đó quét tới tận chân tóc phía trên trán, nơi có phần tóc bạc lộ ra vì chưa nhuộm lại.
Một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất thế kỷ 20.
“Có thể anh vẫn còn nhớ những điều đã nói với con gái của bà Hallowell,” Rizzoli bảo. Cô rút ra bức ảnh của Gail Yeager và cho Joey nhìn thấy.
“Cái này thì cô nên hỏi ông Whitney. Ông ấy sắp xếp hết mọi chuyện ở đây. Tôi chỉ là trợ lý của ông ấy…”
“Nhưng anh và bà Yeager chắc đã thảo luận về chuyện trang điểm cho người chết để chuẩn bị đám tang. Vì anh là người chuẩn bị những thứ đó.”
Ánh mắt của Joey dán vào tấm hình của Gail Yeager.
“Tôi nghĩ cô ấy là một người phụ nữ rất tốt,” anh ta nói nhẹ.
“Gì cơ?” Rizzoli nhìn anh ta với câu hỏi trong mắt.
“Nghe này. Tôi có theo dõi các bản tin. Thực sự cô không nghĩ cô Gail Yeager vẫn còn sống đúng không?” Joey hỏi rồi quay nhìn Korsak đang đi loanh quanh xem xét căn phòng trang điểm và ngó vào mấy ngăn tủ.
“Ừm,…ngài thám tử? Anh đang tìm gì vậy?”
“Không có gì. Tôi chỉ băn khoăn không biết các anh có thể cất những thứ gì trong nhà xác thôi,” anh nói khi với tới một trong các ngăn tủ. “Này, đây có phải đồ dùng để uốn xoăn tóc không?”
“Đúng thế. Chúng tôi gội đầu và uốn tóc, cả cắt da móng tay nữa. Làm tất cả mọi thứ miễn làm sao các khách hàng của chúng tôi trông tuyệt vời nhất.”
“Tôi có nghe là anh khá giỏi trong chuyện đó.”
“Người ta vẫn luôn hài lòng với công việc của tôi.”
“Mấy xác chết đó tự mình nói cho anh biết hả?” Korsak cười bảo.
“Không. Ý tôi là gia đình họ kìa. Gia đình của họ thấy hài lòng.”
Korsak đặt cái máy uốn tóc xuống.
“Anh đã làm việc cho ông Whitney được bao lâu rồi, bảy năm rồi phải không?”
“Cũng tầm đó.”
“Thế chắc chắn là ngay khi anh học hết phổ thông.”
“Tôi bắt đầu bằng việc rửa những chiếc xe tang của ông ấy, dọn dẹp phòng trang điểm, rồi trả lời các cuộc điện thoại gọi chở xác vào ban đêm. Sau đó thì ông Whitney để tôi giúp ông việc ướp các chất thơm cho xác. Sau một thời gian thì tôi làm gần như tất cả mọi thứ ở đây.”
“Vậy chắc anh phải có bằng dành cho nhân viên ướp xác chứ?”
Joey ngập ngừng rồi trả lời, “Không. Tôi chưa lúc nào có thời gian để xin nó. Tôi chỉ đang giúp ông Whitney thôi.”
“Thế sao anh không xin cấp? Nó cũng sẽ giúp anh trong việc thăng tiến mà.”
“Tôi hài lòng với công việc ở đây.”
Joey lúc này đã hướng sự chú ý tới bà Ober - lúc này đã thấy có sắc hồng trên gương mặt. Anh ta với lấy chiếc chổi quét lông mày và bắt đầu phết màu nâu lên cặp lông mày xám của cái xác. Bàn tay anh ta thao tác thật uyển chuyển, duyên dáng. Ở cái tuổi mà hầu hết các thanh niên trẻ đang lao vào cuộc sống để thử sức thì Joey Valentine lại chọn cách dùng thời gian suốt ngày với những xác chết. Anh ta đã chăm nom những người chết này từ các bệnh viện hoặc các nhà dưỡng lão cho đến căn phòng sáng sủa, sạch sẽ này. Anh ta đã tắm cho họ, lau khô cho họ, gội đầu cho họ, bôi kem, quét phấn để mang đến sức sống cho họ. Lúc anh ta quét phấn màu lên má bà Ober, anh ta lẩm nhẩm, “Đẹp rồi. Đúng thế. Rất đẹp. Trông bà sẽ rất tuyệt cho mà xem…”
“Joey này. Vậy là cậu đã làm ở đây được bảy năm đúng không?”
“Tôi chưa nói với anh điều đó à?”
“Và cậu chưa bao giờ thấy cần phải đi xin bất cứ một giấy tờ xác nhận hay giấy chứng nhận nghề nghiệp nào?”
“Tại sao anh lại cứ phải hỏi câu đó thế?”
“Bởi vì cậu biết là mình sẽ không được cấp bằng, đúng không?”
Joey đứng yên, bất động. Tay anh ta vẫn đặt trên thỏi son môi và không nói gì cả.
“Ông già Whitney ấy có biết về hồ sơ phạm tội đó không?” Korsak hỏi.
Cuối cùng thì Joey cũng ngẩng mặt lên, “Anh sẽ không kể cho ông ấy chứ, đúng không?”
“Có lẽ tôi nên kể cho ông ấy nghe. Cho ông ta xem anh đã làm cho cô gái tội nghiệp ấy sợ hãi đến mức nào.”
“Lúc đó tôi mới 18. Đó chỉ là một nhầm lẫn…”
“Một nhầm lẫn ư? Cậu chỉ đột nhập nhầm vào một ngôi nhà, cậu theo dõi nhầm một cô gái sao?”
“Chúng tôi học cùng trường cấp ba với nhau! Không phải là tôi không biết cô ấy.”
“Vậy là cậu chỉ đột nhập vào những ngôi nhà nào mà cậu biết các cô gái sống trong đó hả? Cậu còn làm gì khác nữa mà chưa bị bắt gặp?”
“Tôi nói với anh rồi. Đó chỉ là một sự nhầm lẫn.”
“Vậy cậu đã từng đột nhập vào nhà một người, phải không? Rồi đi vào phòng ngủ của họ và chỉ để lấy trộm một cái áo nịt ngực hay đôi quần lót hả?”
“Ôi, Chúa ơi!” Joey nhìn chăm chăm xuống thỏi son đã để rơi trên sàn nhà. Trông anh ta như thể sắp ốm đến nơi.
“Cậu biết đấy, những anh chàng Tom chuyên đột nhập ấy sẽ có động lực để làm những điều khác, những điều tồi tệ.” Korsak bảo.
Joey đi tới chỗ cái đài để tắt. Trong im lặng cậu ta đứng quay lưng lại với họ, nhìn chằm chằm ra phía ngoài cửa sổ, nhìn về phía nghĩa trang bên kia đường.
“Anh đang cố làm rối tung cuộc sống của tôi lên,” cậu ta nói.
“Không đâu Joey. Chúng tôi chỉ cố để có cuộc nói chuyện thẳng thắn thôi.”
“Ông Whitney không biết chuyện đó.”
“Và ông ấy cũng không cần phải biết.”
“Trừ phi?”
“Tối chủ nhật tuần trước cậu đã ở đâu?”
“Ở nhà.”
“Một mình?”
Joey thở dài.
“Nghe này. Tôi biết tất cả chuyện này là vì cái gì. Tôi biết điều mà quý vị đang cố gắng làm. Nhưng tôi đã nói với quý vị rồi. Tôi hầu như không biết gì về cô Yeager cả. Tất cả những điều tôi đã làm là chăm lo cho mẹ của cô ấy. Tôi đã làm tốt công việc của mình, các vị cũng biết rồi đấy. Mọi người đều đã nói với tôi như thế. Trông bà ấy đã đầy sức sống.”
“Cậu không phiền nếu chúng tôi ngó qua xe của cậu chứ?”
“Tại sao?”
“Chỉ để kiểm tra một chút thôi.”
“Có. Tôi có thấy phiền. Nhưng kiểu gì thì quý vị cũng làm điều đó đúng không?”
“Chỉ khi cậu cho phép thôi. Cậu biết đấy, hợp tác là cùng có lợi mà.”
Joey vẫn tiếp tục nhìn ra ngoài cửa sổ.
“Hôm nay ngoài đó có một đám tang,” cậu ta nói nhẹ. “Anh nhìn thấy mấy cái xe Limousine ngoài kia chứ? Từ hồi nhỏ lúc nào tôi cũng thích xem đám ma. Chúng thật đẹp. Thật trang nghiêm! Đó là một thứ mà con người còn có thể làm đúng đắn được. Một thứ mà họ chưa phá hủy. Không giống ở những đám cưới - nơi người ta làm những trò điên rồ như nhảy xuống từ máy bay chẳng hạn. Hay lại còn thề nguyền trên truyền hình quốc gia nữa. Ở đám tang ít ra thì chúng ta vẫn còn bày tỏ được lòng kính trọng dành cho…”
“Xe của cậu, Joey.”
Cuối cùng thì Joey cũng quay người rồi đi đến một trong số các ngăn kéo. Với tay vào bên trong anh ta lôi ra một chùm chìa khóa rồi đưa cho Korsak.
“Nó là chiếc Honda màu nâu.”
Rizzoli và Korsak đứng trong bãi đậu xe quan sát tấm thảm màu xám được trải trong chiếc xe của Joey Valentine.
“Chết tiệt,” Korsak nói khi sập mạnh cánh cửa. “Mình không có được gì từ gã này cả.”
“Anh cũng chưa có được bất cứ thứ gì về cậu ta mà.”
“Cô có nhìn thấy giày của hắn không? Trông nó có vẻ cỡ 11. Và chiếc xe đưa tang có tấm thảm màu xanh hải quân.”
“Nhưng có đến hàng nghìn chiếc xe như thế. Nó không thể khẳng định được cậu ta chính là người anh đang tìm.”
“Ừm. Chắc chắn cũng không phải là ông già Whitney.”
Ông chủ của Joey là Leon Whitney đã 66 tuổi.
“Nghe này! Chúng ta cũng đã có ADN của đối tượng truy đuổi rồi. Tất cả những thứ chúng ta cần làm là lấy cho được ADN của Joey,” Korsak bảo.
“Anh nghĩ cậu ta sẽ tè vào cốc cho anh hả?”
“Nếu cậu ta muốn giữ việc của mình thì tôi nghĩ cậu ta sẽ phải quỳ xuống mà van xin tôi như một con chó ấy chứ.”
Rizzoli nhìn ngang qua con đường đang bốc hơi vì nắng nóng. Cô liếc nhìn nghĩa địa nơi có một đám tang và đoàn người đưa tang đang ra về. Một khi người chết đã được chôn cất thì cuộc sống sẽ lại tiếp diễn - cô nghĩ. Bất kể có thảm kịch gì đi chăng nữa thì cuộc sống cũng sẽ luôn tiếp diễn. Và mình cũng nên như vậy.
“Tôi không thể tốn thêm thời gian ở đây nữa,” cô nói.
“Gì cơ?”
“Tôi còn có công việc của tôi. Thêm nữa, tôi không nghĩ rằng vụ của Yeager có bất cứ liên quan gì tới Warren Hoyt.”
“Đó không phải là điều cô đã nghĩ cách đây ba ngày sao.”
“Đúng thế. Tôi đã nhầm.” Cô nói rồi đi qua bãi xe đến xe của mình, mở cửa xe và hạ kính cửa sổ xuống. Những làn hơi nóng từ trong xe phả ra.
“Liệu có phải tôi làm cô phát chán hay có chuyện gì khác?”
“Không.”
“Vậy tại sao cô lại rút khỏi vụ này?”
Rizzoli ngồi vào sau tay lái. Qua lớp quần áo cô vẫn cảm thấy chiếc ghế nóng bỏng.
“Tôi đã dùng cả năm trước để vượt qua vụ Bác sĩ phẫu thuật. Giờ tôi phải thoát khỏi hắn ta. Tôi phải ngừng việc lúc nào cũng nghĩ đến có bàn tay của hắn trong tất cả mọi thứ tôi trải qua.”
“Cô biết đấy, đôi khi những cảm giác trong người lại là những thứ tốt nhất cô nên giữ.”
“Đôi khi đó là tất cả những thứ mà ta có. Chỉ là một cảm giác nào đó, không phải một điều rõ ràng. Bản năng của một cảnh sát chẳng có gì đáng tin cậy cả. Mà bản năng là cái quái gì chứ? Đã bao nhiêu lần các cuộc truy đuổi đã khiến người ta phải chết oan rồi?”
Cô nổ máy và nói thêm.
“Khốn nạn là chuyện đó lại xảy ra một cách thường xuyên.”
“Vậy không phải là vì tôi mà cô ra khỏi vụ này?”
“Không,” cô nói rồi đóng sầm cửa lại.
“Cô chắc chứ?”
Cô liếc nhìn qua cửa kính xe đang mở. Anh ta vẫn đứng đấy, nheo mắt vì nắng. Cặp mắt của anh ta giờ chỉ thấy một đường nhỏ bên dưới cặp lông mày rậm rạp. Trên cánh tay, lông tay lấp loáng mồ hôi. Đôi vai anh ta hơi rụt lại và hông đẩy về phía trước khiến cô nghĩ đến một con tinh tinh. Không, không phải vì anh ta mà cô rút khỏi vụ này. Nhưng cô không thể nhìn anh ta mà không có cảm giác nhạt nhẽo.
“Chỉ là vì tôi không thể tốn thời gian vào vụ này thêm nữa mà thôi. Anh biết nó như thế nào mà.”
Quay trở lại bàn làm việc, Rizzoli cố tập trung vào những công việc giấy tờ đang chờ cô. Phía trên cùng là file tư liệu về Airplane Man - người đàn ông mà người ta vẫn chưa nhận dạng được, xác anh ta vẫn còn nằm trong phòng giám định pháp y chưa có người tới nhận. Cô đã thờ ơ với nạn nhân này quá lâu rồi. Nhưng cứ mỗi khi cô mở tập tài liệu và nhìn những bức ảnh khám nghiệm tử thi là y như rằng cô lại nghĩ đến gia đình Yeager và người đàn ông có dính tóc xác chết trên quần áo. Cô xem lại lịch trình cất cánh và hạ cánh của máy bay lên thẳng tại sân bay Logan. Nhưng lại là hình ảnh gương mặt của Gail Yeager xuất hiện trong đầu cô. Gương mặt đang mỉm cười trong bức ảnh trên bàn trang điểm. Cô nhớ lại những bức ảnh phụ nữ được đính trên tường của phòng hội thảo một năm trước trong khi đang điều tra về vụ Bác sĩ phẫu thuật. Những người phụ nữ ấy cũng đang mỉm cười, gương mặt của họ được chụp vào những giây phút khi họ vẫn còn đang sống với cơ thể lành lặn, khi cuộc sống lấp lánh hy vọng trong ánh mắt họ. Cô không thể nghĩ về Gail Yeager mà lại không nghĩ tới những người chết trước đó mà cô đã biết.
Cô băn khoăn liệu Gail bây giờ đã là một trong số họ hay chưa.
Di động của cô rung lên như một cơn sốc điện từ dưới bụng. Một lời cảnh báo về một phát hiện mà sẽ làm chấn động cả ngày hôm đó của cô. Cô nhấc máy.
Một lát sau đã thấy cô vội vàng ra khỏi tòa nhà.