Họ cùng ngồi trong xe của Dean, đi thẳng về hướng tây, tới thành phố Shirley, cách Boston bốn mươi lăm dặm. Dean nói rất ít trong khi lái, nhưng sự im lặng giữa hai người chỉ làm cô thấy rõ hơn mùi mồ hôi của anh cũng như bản tính trầm tĩnh của anh. Cô hiếm khi liếc nhìn anh vì sợ anh sẽ thấy sự xao động anh đã tạo nên trong mắt cô.
Thay vì nhìn anh, cô nhìn xuống bên dưới và thấy tấm thảm màu xanh đen dưới chân mình. Cô băn khoăn không biết nó có phải loại nylon 6,6, màu xanh số 802 hay không. Cô cũng không biết có bao nhiêu chiếc xe có trải thảm giống thế này. Một màu phổ biến thế này thì có vẻ như nhìn chỗ nào cũng thấy và cứ nghĩ mà xem nếu thế thì không biết có bao nhiêu gót giày đã mang theo loại nylon số 802 ấy khắp đường phố của Boston.
Máy điều hòa quá lạnh; cô liền dùng đầu gối đóng cửa thông gió rồi nhìn chăm chăm ra phía cánh đồng cỏ cao ngút bên ngoài cái quả bóng quá mát mẻ này. Sương sớm giăng mắc như khói bay trên những cánh đồng xanh. Cây cối đứng yên lặng, những chiếc lá không hề động đậy vì không có đến một cơn gió nào dù là nhẹ nhất. Rizzoli hiếm khi lái xe đến những vùng ngoại ô Massachusett. Cô là một cô gái thành phố, sinh ra và lớn lên trong thành phố nên cô không mấy hứng thú với cảnh đồng quê với quá nhiều khoảng không gian yên tĩnh và những con bọ biết cắn người. Tất nhiên hôm nay cô cũng chẳng thấy nó hấp dẫn gì cả.
Tối qua cô ngủ không ngon. Cô đã giật mình tỉnh dậy mấy lần, rồi nằm yên nghe tim mình đập thình thịch khi chú ý nghe xem có tiếng bước chân hay không. Cô chờ nghe hơi thở của một kẻ đột nhập. 5 giờ sáng cô ngồi dậy trên giường, mệt rũ. Chỉ sau hai tách cà phê cô mới thấy đủ tỉnh táo để nhấc điện thoại gọi tới bệnh viện hỏi thăm tình hình của Korsak.
Anh ấy vẫn trong phòng chăm sóc đặc biệt, vẫn phải dùng máy hô hấp nhân tạo.
Cô hạ thấp kính xuống. Một luồng không khí ấm áp tràn vào xe, thoảng theo mùi hương của cỏ và đất ẩm. Cô đang suy nghĩ đến tình huống xấu là Korsak có thể sẽ không bao giờ được tận hưởng mùi hương này hay cảm nhận gió mơn man trên mặt mình. Cô cố nhớ lại những lời cuối cùng họ trao đổi với nhau có phải những lời tốt đẹp, thân thiện hay không. Nhưng cô không tài nào nhớ nổi.
Tại lối đi số 36, Dean theo biển chỉ dẫn để tối MCI - Shirley - Souza Baranowski - khu an ninh mức 6 - nơi Warren Hoyt bị giam. Anh đậu xe trong khu dành cho khách rồi quay nhìn cô.
“Nếu lúc nào cô cảm thấy cần ra ngoài thì cứ ra nhé.”
“Sao anh lại mong tôi đi ra?”
“Vì tôi biết điều hắn đã làm với cô. Bất cứ ai ở vào địa vị của cô cũng có vấn đề khi làm vụ này.”
Cô thấy mối quan tâm thực lòng trong mắt anh còn cô thì không muốn điều đó vì nó chỉ củng cố thêm một điều là sự dũng cảm của cô dễ vỡ tan.
“Cứ tiếp tục làm, được không?” Cô nói rồi đẩy cửa bước ra. Niềm kiêu hãnh làm cô bước đi với dáng vẻ kiên định, chắc chắn. Nó đẩy cô tới bàn kiểm soát người bên ngoài, nơi cô và Dean phải trình thẻ và giao vũ khí lại. Lúc họ chờ để được thông qua, cô đứng đọc những chữ được ghi trong khu vực dành cho khách.
Những điều không cho phép đối với khách đến thăm: đi chân trần, mặc đồ tắm hay quần sooc. Không được mặc bất cứ đồ gì có in hình ảnh các băng nhóm. Không mặc bất cứ đồ gì tương tự như thứ đã được phát cho tù nhân hay đồ đồng phục cá nhân. Không được mặc quần áo có nhiều tầng, quần áo có dải rút, quần áo thụng, có nhiều túi hoặc quần áo dầy…
Bản danh sách như dài vô tận, nêu ra tất cả những điều cấm đoán từ mấy dải dây buộc tóc cho đến áo lót.
Một nhân viên trong trại cải tạo cuối cùng cũng xuất hiện - một người đàn ông to con, mặc chiếc áo mùa hè của MCL
“Mật vụ Dean và thám tử Rizzoli phải không ạ? Tôi là sỹ quan Curtis. Xin mời theo lối này.”
Curtis là người thân thiện và vui tính. Anh vui vẻ đưa họ qua lớp cửa khóa đầu tiên rồi đi tới khu vực thay đồ. Rizzoli băn khoăn không biết liệu anh ta có còn thoải mái nữa hay không nếu họ không phải là những người anh em thi hành công vụ của anh. Anh bảo họ bỏ thắt lưng, giày và áo khoác cùng đồng hồ với chìa khóa ra rồi đặt chúng lên bàn để kiểm tra. Rizzoli tháo chiếc đồng hồ Timex của mình, đặt bên cạnh chiếc Omega sáng loáng của Dean. Rồi cô cởi áo khoác ngoài giống như Dean đang làm. Có chút gì không thoải mái trong quá trình thực hiện vì khi cô tháo đai lưng của mình ra rồi kéo nó ra khỏi chiếc quần, cô có cảm giác Curtis đang nhìn chằm chằm vào mình theo cái cách một người đàn ông nhìn một người đàn bà đang cởi quần áo. Cô tháo đôi giày bệt, đặt dưới đất bên cạnh giày của Dean rồi nhìn lại Curtis. Đến lúc đó anh ta mới chịu nhìn đi chỗ khác. Tiếp theo cô lộn túi áo ra rồi đi theo Dean tới chỗ máy phát hiện kim loại.
“Này, cô may mắn đấy,” Curtis nói khi cô bước qua. “Cô vừa bỏ lỡ mất phần kiểm tra nhanh của ngày đấy. Mỗi ngày trưởng ca của chúng tôi sẽ cho một số bất kỳ cho một vị khách để kiểm tra bằng cách vỗ vào người. Cô vừa bỏ lỡ nó. Người tiếp theo sẽ được kiểm tra như thế.”
Rizzoli nói khô khốc, “Nếu được thế thì đó đúng là sự kiện nổi bật trong ngày của tôi.”
“Các vị có thể lấy lại mọi thứ và có thể đeo đồng hồ trở lại được rồi.”
“Anh nói cứ như kiểu đó là một đặc ân không bằng.”
“Chỉ có các luật sư hay các nhân viên pháp luật mới có thể đeo đồng hồ trong tình huống này thôi. Tất cả những người khác sẽ phải kiểm tra và để lại hết đồ trang sức. Tôi sẽ phải đóng dấu trên cổ tay trái của các vị, sau đó các vị có thể đi vào trong.”
“Chúng tôi có một cuộc hẹn gặp giám thị Oxton lúc 9 giờ,” Dean bảo.
“Ông ấy đến muộn nên đã bảo tôi đưa các vị đi xem buồng giam phạm nhân trước. Sau đó tôi sẽ đưa các vị tới văn phòng của Oxton. Trại cải tạo Souza-Baranowski là khu trại mới nhất của MCI với hệ thống anh ninh không dùng khóa chìa, được điều khiển bởi 42 chiếc máy tính kết nối với nhau, sỹ quan Curtis giảng giải. Anh ta vừa đi vừa chỉ cho thấy không biết bao nhiêu camera giám sát trong trại.”
“Các máy quay sẽ hoạt động liên tục hai tư trên hai tư. Phần lớn các khách đến thăm sẽ chẳng trông thấy bất kỳ bảo vệ trực tiếp nào mà chỉ nghe thấy tiếng của điện đàm nội bộ thông báo việc họ phải làm tiếp theo là gì.”
Khi họ bước qua cánh cửa thép, đi dọc hành lang, qua một loạt các cánh cổng có rào chắn, Rizzoli mới nhận thức đầy đủ rằng mỗi bước đi của cô đều được giám sát. Chỉ vài thao tác trên máy tính, các nhân viên bảo vệ sẽ có thể khóa mọi lối đi, mọi buồng giam mà không cần rời khỏi phòng điều khiển của mình.
Tại lối vào khu giam C, cô nghe giọng trong điện thoại nội bộ hướng dẫn họ giơ thẻ ra vào trước một ô cửa sổ để kiểm tra. Họ lại nói tên của mình và sĩ quan Curtis bảo: hai vị khách ở đây muốn kiểm tra buồng giam phạm nhân Hoyt.
Cánh cổng thép trượt mở sang một bên và họ bước vào phòng sinh hoạt ban ngày của khu giam C - phòng sinh hoạt chung của các phạm nhân. Nó được sơn một màu xanh ảm đạm của bệnh viện. Rizzoli nhìn thấy một chiếc TV treo tường, một chiếc ghế dài và những chiếc ghế bành cùng một bàn chơi bóng bàn - nơi có hai người đàn ông đang chọc bóng. Tất cả các đồ dùng trong phòng khác như bị bỏ rơi. Khoảng chục người đàn ông mặc quần áo tù nhân màu xanh quay lại, nhìn họ trừng trừng.
Chính xác là họ nhìn Rizzoli - người phụ nữ duy nhất trong phòng.
Hai người đàn ông đang chơi bóng bàn tạm ngưng trận đấu. Trong giây lát chỉ còn nghe âm thanh của chiếc TV đang mở ở kênh CNN. Cô cũng nhìn thẳng lại các tù nhân, tỏ ý không hề bị đe dọa dù cô có thể đoán được mỗi người - đàn ông ở đây đang thực sự nghĩ gì, tưởng tượng điều gì. Cô - không nhận thấy Dean đã lại gần mình từ lúc nào, mãi đến khi cánh tay anh cọ vào tay cô thì cô mới biết anh đang ngay cạnh mình.
Một giọng nói phát ra từ máy truyền tin nội bộ.
“Khách thăm, các vị có thể đi tới buồng C-8.”
“Lối này,” Curtis nói. “Lên một tầng nữa.”
Họ đi lên bằng cầu thang. Mỗi bước chân lại nghe tiếng giày lộp cộp đập lên bậc thang bằng kim loại. Từ gian phía trên dẫn thẳng tới các phòng giam riêng họ có thể nhìn xuống bên dưới phòng sinh hoạt chung. Curtis dẫn họ dọc theo lối đi cho tới khi đến phòng số 8.
“Đây là phòng giam tù nhân Hoyt.”
Rizzoli dừng ở ngưỡng cửa, nhìn chăm chăm vào trong gian buồng. Cô chẳng thấy có điểm gì khác để phân biệt phòng này với phòng khác - không có bất cứ tranh ảnh nào, không có đồ đạc cá nhân nào cho cô biết rằng Hoyt đã từng ở trong khoảng không gian này. Nhưng cô vẫn thấy sởn gai ốc. Mặc dù hắn đã đi nhưng sự hiện diện của hắn hằn dấu trong không khí căn phòng. Nếu sự tàn ác có thể đeo đẳng thì chắc chắn nơi này đã bị ô nhiễm mất rồi.
“Cô có thể vào trong nếu muốn,” Curtis bảo.
Cô bước vào trong phòng, có ba bức tường trống trơn, một mặt phẳng để nằm ngủ, một cái chiếu, một chậu rửa, một bồn cầu - một cái hộp ảm đạm - là thứ mà Hoyt đã phải thích thú. Hắn là một người ngăn nắp, một gã kỹ tính - kẻ đã từng làm việc trong một thế giới vô trùng của phòng thí nghiệm - một thế giới mà chỉ những vệt màu ra khỏi ống đựng máu mà hắn kiểm soát mỗi ngày. Hắn chẳng cần phải bao bọc mình với những hình ảnh ghê gớm làm gì, những thứ đang có trong não của hắn đã đủ kinh hoàng rồi.
“Buồng giam này chưa được phân lại à?”
“Chưa, thưa ngài.”
“Cũng không có tù nhân nào ở đây kể từ khi Hoyt đi chứ?”
“Đúng thế.”
Rizzoli đi tới tấm đệm rồi nhấc một góc lên. Dean thì túm lấy một góc khác rồi họ cùng lật tấm đệm để quan sát phần bên dưới. Họ không thấy bất cứ thứ gì. Họ cuộn tấm đệm lại rồi kìm kỹ xem có bất cứ mảnh vải nào không hay bất cứ chỗ nào kín đáo mà hắn có thể dùng để cất giấu đồ. Nhưng rốt cục họ chỉ thấy có vết rách nhỏ ở một góc, nó dài chừng 2,5 xăng ti mét. Rizzoli cho ngón tay vào nhưng không thấy gì bên trong.
Cô đứng thẳng người dậy, quan sát căn phòng, quan sát cái khu vực mà chính Hoyt đã từng nằm. Cô tưởng tượng đến cảnh hắn nằm trên tấm đệm đó, mắt nhìn chăm chăm lên trần nhà trống trơn trong khi hắn tưởng tượng ra những thứ có thể làm kinh hoàng bất cứ người nào. Nhưng Hoyt lại thích thú với những thứ đó. Hắn sẽ nằm đó, người ướt đẫm mồ hôi và thích thú với những tiếng hét của phụ nữ trong đầu.
Cô quay sang Curtis hỏi, “Đồ dùng của hắn đâu? Những vật dụng cá nhân ấy?”
“Trong phòng của giám thị. Giờ chúng ta sẽ tới đó.”
“Ngay khi các vị gọi điện tôi đã đem tất cả đồ dùng của phạm nhân tới đây để các vị kiểm tra,” giám thị Oxton nói khi chỉ tay về phía một chiếc hộp giấy lớn trên bàn. “Chúng tôi cũng đã kiểm tra chúng một lượt. Không tìm thấy bất cứ vật trái phép nào.”
Ông ta nhấn mạnh vào điểm cuối cùng này cứ như ông ấy sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm nếu có bất cứ chuyện gì không hay xảy ra vậy. Oxton tạo cho Rizzoli cảm giác ông là một người không chấp nhận bất cứ vi phạm nào, là người sẽ không tha thứ hay khoan dung, thậm chí còn độc ác trong lúc thi hành các quy tắc hay điều lệ. Chắc chắn ông ấy sẽ phải tìm cho ra bằng được những thứ vi phạm luật pháp, cách ly tất cả những kẻ nào gây rối và yêu cầu tắt hết đèn mỗi đêm. Chỉ cần liếc nhìn quanh cái văn phòng với những bức hình một người đàn ông có cái nhìn hung dữ trong bộ quân phục thôi cũng đủ để cô hiểu rằng đây là nơi làm việc của một người cần mọi thứ phải được kiểm soát. Nhưng cho dù với tất cả nỗ lực thế nào của ông ta đi nữa thì một phạm nhân cũng đã trốn thoát và giờ Oxton đang trong thế phòng thủ. Ông ta chỉ chào họ với cái bắt tay cứng ngắc và nụ cười hiện lên trong đôi mắt xanh của mình.
Ông mở cái thùng, lấy ra một chiếc túi Ziploc rồi đưa cho Rizzoli.
“Đây là đồ dùng trong toilet của phạm nhân, nó là những vật dụng cá nhân thông thường.”
Rizzoli thấy một bàn chải đánh răng, một chiếc lược, khăn tắm và bánh xà phòng rồi cả kem bôi da Vaseline nữa. Cô đặt vội chiếc túi xuống, lùi lại với ý nghĩ Hoyt đã từng dùng những thứ này hàng ngày. Cô còn có thể thấy vài sợi tóc màu nâu sáng còn dính trên răng lược.
Oxton tiếp tục lấy các vật khác ra khỏi thùng: đồ lót, một chồng tạp chí National Geography và vài số báo Boston Globe, còn có hai thanh kẹo Sniker, một tệp giấy vàng, mấy chiếc phong bì và ba chiếc bút bi.
“Còn đây là các thư từ của hắn,” Oxton nói rồi lấy ra một chiếc túi Ziploc khác có đựng một tập thư.
“Chúng tôi cũng đã đọc từng cái thư rồi,” Oxton bảo. “Cảnh sát bang cũng có hết tên và địa chỉ của những người gửi thư - Ông ta đưa tập thư cho Dean - Tất nhiên đây chỉ là những lá thư mà hắn ta còn giữ. Chắc cũng có thể có vài cái hắn đã ném đi.”
Dean mở chiếc túi Ziploc rồi lấy những thứ bên trong ra. Có khoảng 10 lá thư, vẫn còn để trong phong bì.
“MCI có kiểm duyệt thư của tù nhân không? Các anh có kiểm tra nó trước khi chuyển tới cho phạm nhân không?”
“Chúng tôi có quyền làm thế, phụ thuộc vào loại thư gửi đến.”
“Loại thư?”
“Nếu nó được phân loại là thư đặc quyền thì bảo vệ sẽ được phép liếc vào bên trong xem có thấy những vật phạm pháp hay không chứ không được phép đọc. Thư từ là chuyện riêng tư giữa người gửi và phạm nhân.”
“Vậy là các anh không hề biết có gì trong thư gửi cho hắn.”
“Nếu nó là thư đặc quyền.”
“Thế có gì khác nhau giữa thư đặc quyền và không đặc quyền?” Rizzoli hỏi.
Oxton trả lời câu hỏi chen ngang của cô bằng sự khó chịu hiện rõ trong mắt.
“Thư không đặc quyền là những thư từ bạn bè và gia đình hay công chúng nói chung. Ví dụ như, có một số tù nhân có bạn bè bên ngoài là những người cho rằng mình đang làm những việc từ thiện.”
“Bằng cách thư từ với những kẻ giết người? Họ có điên không vậy?”
“Rất nhiều người trong số họ là những phụ nữ độc thân và rất ngây thơ, rất dễ bị lừa gạt. Những lá thư kiểu đó là thư không đặc quyền và bảo vệ có quyền đọc chúng. Nhưng không phải lúc nào chúng tôi cũng có thời gian để đọc hết được. Chúng tôi có quá nhiều thư từ ở đây. Trong trường hợp của Hoyt thì có rất nhiều thư cần kiểm tra.”
“Thư từ ai? Tôi không biết là hắn ta có nhiều người thân đến thế,” Dean bảo.
“Hắn đã nổi tiếng suốt hồi năm ngoái. Điều đó làm thu hút sự chú ý của quần chúng. Họ muốn viết cho hắn.”
Rizzoli giật mình.
“Ý ông là hắn có các thư hâm mộ sao?”
“Đúng thế.”
“Chúa ơi! Người ta bị điên hết rồi sao.”
“Quần chúng cảm thấy thú vị khi nói chuyện với một tên giết người. Nó có thứ gì đó như kiểu có mối liên hệ với người nổi tiếng ấy. Manson, Dahmer và Gacy - bọn họ đều nhận được các thư hâm mộ cả. Những phạm nhân của chúng tôi còn nhận được lời cầu hôn từ bên ngoài. Những phụ nữ gửi tiền hoặc ảnh của mình đang mặc đồ tắm cho họ. Còn đàn ông thì viết thư cho họ vì muốn biết cảm giác giết người nó như thế nào. Thế giới này đúng là đầy rẫy những tên khốn bệnh hoạn, thật tiếc là chính French của tôi đã phải trả giá vì biết một tên giết người thực sự.”
Nhưng một trong số bọn họ không chỉ viết cho Hoyt mà hắn còn thực sự đã tham gia vào câu lạc bộ khổng lồ của hắn. Cô nhìn chăm chăm xuống tệp thư, phát điên lên vì chứng cứ cho sự nổi tiếng của tên Bác sĩ phẫu thuật. Sát nhân mà cứ như sao nhạc rock vậy. Cô nghĩ tới những vết sẹo hắn đã rạch trên tay mình còn mỗi lá thư của người hâm mộ hắn lại giống như một nhát đâm bằng dao mổ của hắn.
“Thế thư đặc quyền thì sao? Ông nói nó không được đọc hay kiểm tra. Vậy làm thế nào để phân loại được đó là thư đặc quyền?”
“Nó là những thư kín đến từ nhân viên bang hay liên bang nào đó. Ví dụ thư của một người bên tòa án chẳng hạn, hay thư của luật sư. Thư từ thủ tướng, thống đốc hay các nhân viên thi hành án.”
“Hoyt có nhận được những thư kiểu đó không?”
“Có thể có. Chúng tôi không ghi chép lại tất các thư chuyển đến.”
“Thế làm sao ông biết được cái nào là thư đặc quyền thực sự?” Rizzoli hỏi.
Oxton nhìn cô với vẻ hết kiên nhẫn.
“Tôi vừa nói với cô xong. Nếu nó là thư từ cán bộ bang hay liên bang…”
“Không. Ý tôi là làm sao ông biết được nó không phải là thư giả hoặc văn phòng phẩm bị đánh cắp. Tôi có thể viết các kế hoạch trốn thoát cho một trong các phạm nhân của ông và cho nó vào phong bì kín, rồi bảo đó là từ văn phòng của thượng nghị sỹ Conway chuyển đến.”
Ví dụ cô đưa ra không phải là ngẫu nhiên. Cô để ý Dean, thấy cằm anh co lên khi cô nhắc đến tên của Conway.
Oxton ngần ngừ.
“Điều này là không thể. Nhưng có các hình phạt…”
“Vậy là nó đã từng xảy ra.”
Ngần ngừ một lát rồi Oxton cũng gật đầu xác nhận.
“Đã có vài lần như thế. Các thông tin tội phạm được gửi giả mạo thư công việc. Chúng tôi đã cố làm thật cảnh giác nhưng vẫn có một vài thứ bị lọt qua.”
“Thế thư gửi ra thì sao? Những lá thư mà Hoyt gửi đi, các ông có kiểm tra không?”
“Không.”
“Không kiểm tra bất cứ cái nào?”
“Chúng tôi không có lý do nào để làm như vậy. Anh ta chưa bao giờ có bất cứ vấn đề gì với bạn tù cả. Lúc nào anh ta cũng rất hợp tác. Rất lịch sự và yên lặng nữa.”
“Một phạm nhân kiểu mẫu, đúng không?” Rizzoli bảo.
Oxton nhìn cô với ánh mặt lạnh băng.
“Ở đây chúng tôi có các phạm nhân mà sẽ bẻ nghiến tay cô rồi đứng cười, thám tử ạ. Chúng tôi có những gã sẽ nhè cổ bảo vệ mà xơi chỉ vì đồ ăn không hợp khẩu vị với chúng. Một tù nhân như Hoyt không nằm trong danh sách cần quan tâm cao độ của chúng tôi.”
Dean điềm tĩnh hướng cuộc nói chuyện quay lại chủ đề chính.
“Vậy chúng ta không biết hắn viết cho ai sao?”
Câu hỏi về vấn đề thực tế này có vẻ làm người quản giáo khó chịu. Oxton quay mắt khỏi Rizzoli rồi chuyển sang nhìn Dean - đàn ông nói chuyện với đàn ông.
“Không, chúng tôi không biết. Phạm nhân Hoyt có thể viết thư cho bất cứ ai.”
Trong phòng hội thảo dọc theo hành lang từ văn phòng của Oxton, Rizzoli và Dean cùng đeo găng tay rồi trải lá thư có ghi địa chỉ gửi là của Warren Hoyt lên bàn. Cô nhìn thấy rất nhiều văn phòng phẩm, vài chiếc bút màu, hoa cỏ và có một dấu ấn có chữ Chúa cứu rỗi. Điều vô lý hơn nữa là văn phòng phẩm này còn được trang trí với hình ảnh mấy con mèo con vui nhộn. Phải, chúng chỉ là thứ được gửi tới cho tên Bác sĩ phẫu thuật ấy thôi. Hắn sẽ vui mừng biết mấy khi nhận được thứ đó chứ.
Cô mở bao thư có in hình mấy con mèo con và thấy có một bức ảnh bên trong - ảnh một người phụ nữ với đôi mắt ngời hy vọng. Trong đó còn có một bức thư, được viết theo kiểu chữ con gái với những chữ cách điệu vui vẻ.
Gửi: phạm nhân Warren Hoyt
Trại cải tạo Massachusettes
Anh Hoyt thân mến,
Hôm nay em đã nhìn thấy anh trên TV, lúc người ta giải anh tới phòng xử án. Em tin mình là một người phán xét rất công bằng và khi em nhìn vào mặt anh em có thể thấy rất nhiều nỗi buồn cũng như đau đớn. Mà nỗi đau đó mới thật là nỗi đau! Trong anh vẫn có những điều tốt, em biết là có. Giá như có ai đó có thể giúp anh tìm thấy nó trong chính bản thân anh…
Rizzoli đột nhiên nhận ra cô đang vò lá thư lại trong sự bực tức. Cô những muốn lại gần người phụ nữ ngớ ngẩn đã viết những dòng chữ này để lắc mạnh người cô ta, bắt cô ta phải nhìn vào những bức ảnh khám nghiệm tử thi nạn nhân của Hoyt và xem nỗi đau đớn của các nhân viên pháp y là thế nào khi họ cuối cùng đành để cái chết thắng mình. Cô đã phải ép mình đọc phần còn lại của lá thư - đó là lời kêu gọi ngọt ngào về tính nhân văn của Hoyt và sự tốt đẹp “có trong hết thảy chúng ta’.
Cô với tay lấy bì thư tiếp theo. Không có con mèo nào in trên bì thư cả, chỉ là một bao thư màu trắng, bên trong có một lá thư viết trên giấy kẻ ly. Một lần nữa nó lại là thư của một phụ nữ, có gửi kèm theo ảnh - bức ảnh một cô gái tóc vàng da trắng.
Anh Hoyt thân mến,
Em có thể xin chữ ký của anh được không? Em đã sưu tập được rất nhiều chữ ký từ những người như anh. Em cũng đã có chữ ký của Jeffry Dahmer. Nếu anh muốn tiếp tục viết cho em thì thật tốt quá. Bạn của anh, Gloria.
Rizzoli nhìn chăm chăm vào các con chữ mà không thể tin được bất cứ người có đầu óc lành mạnh nào lại có thể viết như thế.
“Chúa ơi. Những người này đúng là điên hết cả rồi,” cô thốt lên.
“Đó là sức hút của sự nổi tiếng,” Dean bảo. “Họ không có cuộc sống của chính mình. Họ thấy mình vô danh, không đáng giá gì cả. Thế nên họ cố để gần được với những người có danh. Họ cũng muốn có phép thuật xảy ra với mình.”
“Phép thuật sao? Đó là thứ anh gọi nó đấy à?”
“Cô biết ý tôi là gì mà.”
“Không. Tôi chẳng biết gì cả. Tôi không hiểu sao có những người phụ nữ lại có thể viết thư cho những con quái vật. Họ đang tìm kiếm một cuộc tình lãng mạn sao? Một thời điểm nóng nực với một gã đàn ông sẽ xoay quanh họ rồi moi ruột họ. Điều đó làm cho cuộc sống thảm bại của họ trở nên đặc sắc hơn à?” Cô nói rồi đá ghế ra, đứng dậy, đi về phía bức tường có mấy ô cửa sổ nhỏ.
Cô đứng đó, tay ôm chặt song cửa sổ, nhìn qua khung cửa có ánh mặt trời đang rọi qua những chấn song hẹp - một khung trời màu xanh. Nhìn vào bất cứ một khung cảnh nào, thậm chí cả cái cảnh nhỏ hẹp này cũng còn hay hơn là nhìn vào những lá thư hâm mộ gửi cho Hoyt. Chắc chắn là hắn ta đã rất thích thú vì được chú ý. Hắn sẽ coi mỗi lá thư là một bằng chứng mới là hắn giữ một sức mạnh nào đó có thể ảnh hưởng đến những người đàn bà, thậm chí ngay khi hắn bị nhốt trong này, hắn vẫn có thể vận dụng tâm trí để lôi kéo họ, biến họ thành vật sở hữu của mình.
“Thật là lãng phí thời gian,” cô nói cay đắng khi nhìn một chú chim bay qua tòa nhà nơi những người đàn ông đang bị nhốt trong những cái lồng, nơi những thanh sắt chắn giữ các con quái vật. “Hắn ta không ngu ngốc. Hắn đã biết tất cả các manh mối có liên quan tới Kẻ chinh phục. Hắn đã bảo vệ cộng sự của mình. Chắc chắn hắn sẽ không để lại bất cứ thứ gì để chúng ta có thể lần theo.”
“Có lẽ nó không hữu ích,” Dean nói khi đang sột soạt với mấy tờ giấy phía sau cô. “Nhưng rõ ràng là nó cũng giúp làm sáng tỏ.”
“Đúng rồi. Cứ như kiểu tôi muốn đọc những thứ mà mấy mụ điên kia đã viết cho hắn ấy. Nó làm tôi phát ốm.”
“Đó có thể là một điểm hay?”
Cô quay nhìn anh. Ánh sáng chiếu qua song sắt lướt qua mặt anh, làm sáng rực đôi mắt xanh. Cô đã luôn cho rằng cơ thể anh ta hấp dẫn, nhưng chưa bao giờ thấy hấp dẫn như thế này, khi cô đối mặt với anh ngang qua chiếc bàn.
“Ý anh là sao?”
“Đọc thư làm cô khó chịu.”
“Nó làm tôi phát điên, điều đó không rõ sao?”
“Hắn ta cũng biết điều đó,” Dean gật gật đầu nhìn tập thư. “Hắn biết nó sẽ làm cô bực mình.”
“Anh cho rằng tất cả những lá thư này là nhằm làm đầu tôi muốn nổ tung lên?”
“Nó là một trò cân não Jane ạ. Hắn để những thứ này lại cho cô. Tập thư này là từ những người hâm mộ hắn nhất. Hắn biết thế nào cô cũng đến đây, chính cái nơi này và đọc những điều mà họ đã nói với hắn. Có lẽ hắn muốn cho cô biết rằng hắn có những người hâm mộ. Kể cả cô có phỉ nhổ, khinh bỉ hắn thì những người phụ nữ khác lại không làm thế, đó là những phụ nữ bị hắn hấp dẫn. Hắn giống như một người tình bị hắt hủi ấy. Hắn muốn cô ghen tức, muốn làm cho cô mất thăng bằng.”
“Đừng có làm tôi bực mình.”
“Hắn đã làm được điều đó, đúng không? Nhìn cô mà xem. Hắn đã túm chặt được cô khiến cô không thể ngồi yên nữa. Hắn biết làm thế nào để kéo cô đến, để làm cho đầu cô muốn nổ tung với những việc của hắn.”
“Anh đang quá đề cao hắn ta đấy.”
“Thật sao?”
Cô phẩy tay về phía những lá thư.
“Tất cả những thứ này là nhằm phục vụ cho tôi đúng không? Vậy tôi chính là trung tâm trong vũ trụ của hắn sao?”
“Chẳng phải hắn cũng là trung tâm của cô sao?” Dean nói nhỏ.
Cô chằm chằm nhìn anh, không thể đáp trả vì những lời của anh đã đánh trúng tim cô - đó là một sự thật phũ phàng, không thể chối cãi. Warren Hoyt đã là tâm điểm trong thế giới của cô. Hắn ngự trị như một chúa tể đen tối trong những cơn ác mộng của cô và thống trị cả những lúc cô tỉnh giấc. Lúc nào hắn cũng chui ra khỏi chỗ ẩn nấp, bước vào ý nghĩ của cô. Trong căn hầm đó cô đã bị hắn đánh dấu - cách đánh dấu theo kiểu một nạn nhân bị đánh dấu bởi một kẻ tấn công. Cô không thể xóa hết được vết đánh dấu quyền sở hữu của hắn. Nó đã được tạc lên tay cô, khứa vào tâm hồn cô.
Cô quay lại bàn rồi ngồi xuống, cố trấn tĩnh lại.
Phong thư tiếp theo có đề địa chỉ gửi lại là: Bác sĩ JPO’Donnell số 1634 phố Brattle, Cambridge, MA 02138. Nằm gần đại học Havard, phố Brattle là khu dân cư với những ngôi nhà đẹp và các thành phần trí thức - nơi các giáo sư đại học cùng các nhà công nghiệp đã về hưu cùng đi bộ trên những vỉa hè mát mẻ, vẫy tay chào nhau. Đó không phải là nơi người ta mong tìm thấy kẻ theo hầu một con quái vật.
Cô mở lá thư bên trong ra. Lá thư đề ngày gửi cách đây sáu tuần.
Warren thân mến,
Cám ơn anh về lá thư lần trước vì đã ký vào hai bản trả tự do. Các chi tiết anh cung cấp sẽ giúp tôi hiểu được những khó khăn anh đang phải đối mặt. Tôi có rất nhiều câu hỏi muốn hỏi anh và tôi thấy vui vì anh vẫn còn muốn gặp tôi như kế hoạch. Nếu anh không có gì phản đối tôi xin phép được quay phim trong lần phỏng vấn tới. Anh biết đấy, tất nhiên sự giúp đỡ của anh sẽ là một phần thiết yếu cho dự án của tôi.
Thân ái,
Bác sĩ O’Donnell
“JP O’Donnell là người quái nào thế?” Rizzoli hỏi.
Dean ngước nhìn lên ngạc nhiên.
“Joyce O’Donnell à?”
“Bì thư chỉ đề JP O’Donnell. Cambridge, Mass. Cô ta sẽ đến phỏng vấn Hoyt.”
Anh nhướn mày nhìn phong bì thư, “Tôi không biết là cô ấy đã tới Boston.”
“Anh biết cô ta à?”
“Cô ấy là nhà tâm thần học. Cứ coi như chúng tôi đã quen nhau tại tòa án trong lần bảo vệ luật sư yêu cô ta.”
“Đừng có nói cô ta là một nhân chứng cấp cao, bảo vệ cho những gã tồi tệ nhé.”
Anh gật đầu.
“Bất kể là khách hàng của mình đã làm gì và hắn đã giết bao nhiêu người, O’Donnell luôn vui vẻ cung cấp các bằng chứng làm giảm án.”
“Tôi đang băn khoăn không biết sao cô ta lại viết thư cho Hoyt? Cô nói rồi đọc lại lá thư. Nó được viết với thái độ rất tôn trọng, khen ngợi hắn ta về việc hợp tác của hắn. Mới thế cô đã thấy có ác cảm với bác sĩ O’Donnell rồi.”
Bì thư tiếp theo cũng là từ O’Donnell nhưng nó không có thư bên trong. Cô lôi từ trong bì thư ra ba bức ảnh - rõ ràng là chụp không chuyên nghiệp: hai tấm được chụp ngoài trời, cái thứ ba là cảnh trong nhà. Lúc đầu cô nhìn chăm chăm một lát rồi đột nhiên tóc cô dựng đứng cả lên, mắt cô đã thấy điều mà não bộ cô từ chối không chịu chấp nhận. Cô giật mình, lùi lại, mấy bức ảnh rơi khỏi tay cô như than hồng.
“Jane, sao thế?”
“Đó là tôi,” cô thì thầm.
“Gì cơ?”
“Cô ta đã theo dõi tôi, chụp ảnh tôi rồi cô ta gửi chúng cho hắn.”
Dean đứng dậy khỏi ghế, đi vòng tới phía cô rồi nhìn qua vai cô.
“Tôi không thấy có cô ở đây…”
“Nhìn này! Nhìn này!” Cô chỉ vào bức ảnh có chiếc Honda màu xanh sẫm đậu trên phố. “Đó là xe của tôi.”
“Có nhìn thấy biển số đâu.”
“Tôi có thể nhận xe của mình!”
Dean lật qua lật lại tấm ảnh. Phía sau bức ảnh ai đó đã vẽ một hình mặt cười và viết bằng mực xanh: Xe của tôi.
Sợ hãi làm tim cô đập thình thịch trong lồng ngực.
“Nhìn cái tiếp theo đi,” cô bảo anh.
Anh nhấc tấm ảnh thứ hai lên. Cái này được chụp ngoài trời, chỉ thấy một mặt của một tòa nhà. Anh không cần phải cho biết về tòa nhà này, tối qua anh đã đến đó. Anh lật bức ảnh lại và thấy dòng chữ: Nhà tôi. Bên dưới dòng chữ lại là hình một mặt cười.
Dean cầm tấm ảnh thứ ba lên, cái này được chụp trong một nhà hàng.
Nhìn liếc qua thì nó chỉ là một hình ảnh mờ nhạt với những chiếc bàn và ghế được chuẩn bị để ăn tối. Có một nữ phục vụ như đang đi ngang phòng với một khay đựng cà phê. Rizzoli phải mất mấy giây mới nhìn ra một cái bóng ngồi bên góc trái từ phía giữa nhà hàng - một người phụ nữ tóc đen, gương mặt chỉ nhìn thấy khung, cơ thể cô đang bị ngược sáng từ cửa sổ chiếu vào nên không thấy rõ. Cô chờ cho Dean nhận ra người phụ nữ đó là ai.
Anh hỏi nhỏ.
“Cô có biết cái này được chụp ở đâu không?”
“Quán cà phê Starfish.”
“Khi nào?”
“Tôi không biết…”
“Có phải đó là nơi cô thường xuyên đến không?”
“Vào các ngày chủ nhật. Tôi đến đó ăn sáng. Đó là ngày trong tuần khi tôi…” Giọng cô lạc đi, cô nhìn chăm chăm vào bức ảnh của chính mình: hai vai đang thư thái, mặt hướng về phía trước, hơi cúi xuống nhìn tờ báo đang để mở. Đó chắc là một tờ báo ngày chủ nhật. Vào ngày đó cô thường thưởng cho mình một bữa sáng ở Starfish - một bữa sáng với bánh mỳ nướng kiểu Pháp và thịt muối cùng mấy chuyện khôi hài.
Một kẻ theo dõi nữa. Cô không hề biết là có người nào đó đang quan sát mình, chụp hình mình rồi lại gửi cho một kẻ đã luôn ám ảnh cô trong những cơn ác mộng.
Dean lật tấm ảnh lại.
Phía sau tấm ảnh lại là một hình mặt cười khác và bên dưới có hình một trái tim bao bọc lấy một từ duy nhất. Tôi.