Rizzoli mang về từ một cửa hàng ở góc phố chiếc pizza và lôi trong tủ lạnh ra ít rau diếp đã cất lâu ngày. Cô bỏ những lá úa cho đến khi thấy lớp lá bên trong có thể ăn được. Đó là món rau trộn héo và chẳng ngon chút nào, cô cũng không hề thấy thích thú chúng. Cô không có thời gian để thích chúng. Cô ăn chỉ để nạp năng lượng, dùng cho đêm dài phía trước - một đêm mà cô không hề mong chờ nó đến.
Ăn được vài miếng cô liền đẩy chúng, ra xa, nhìn chăm chăm vào những vệt cà chua lòe loẹt dính trên chiếc đĩa. Những cơn ác mộng đang đeo bám mày - cô thầm nghĩ - mày nghĩ mày đã miễn dịch, mày đủ khỏe mạnh, đủ khôn ngoan để có thể sống chung với chúng. Hơn nữa mày còn biết cách để đóng một vai nào đó nhằm giả vờ như đã tống được chúng ra khỏi đầu mày. Nhưng những gương mặt đó vẫn còn ở đây với mày. Những con mắt chết vẫn còn ở đây.
Liệu có Gail Yeager giữa những đôi mắt ấy?
Cô cúi nhìn tay mình, nhìn những vết rạch trên hai bàn tay như những vết cắt hình thập giá đã lành. Mỗi khi trở trời thì hai bàn tay cô cũng đau buốt, một hình phạt, nhắc nhở về việc Warrent Hoyt đã làm với cô một năm về trước vào cái ngày hắn đã dùng lưỡi dao sắc lẻm của mình cứa vào da thịt cô. Ngày đó cô đã nghĩ nó là ngày cuối cùng của đời mình. Những vết thương cũ giờ đang trở-đau, nhưng cô không thể đổ tại thời tiết được. Rõ ràng nó đau như thế là vì những thứ cô đã nhìn thấy ở Newton ngày hôm nay. Chiếc váy ngủ được gấp gọn gàng. Những vệt máu trên tường. Cô đã bước vào trong một căn phòng mà không khí sặc mùi tai ương và cô cũng đã cảm thấy sự hiện diện của Warrant Hoyt thấp thoáng đâu đây.
Tất nhiên không thể nào như thế được. Hoyt đang ở trong tù, đó chính xác là nơi hắn nên ở. Nhưng lúc này, cô đang ngồi đây với cảm giác ớn lạnh khi nghĩ lại những hình ảnh về căn nhà ở Newton bởi vì cô cảm thấy những thảm kịch ấy quá giống nhau.
Cô đã rất nôn nóng, muốn gọi cho Thomas More - người đồng sự của cô trong vụ của Hoyt hồi năm ngoái. Anh ấy biết chính xác từng chi tiết mà cô biết và anh ấy cũng hiểu nỗi sợ hãi dai dẳng mà Hoyt gây lên như một cái mạng nhện bao quanh họ. Nhưng từ khi Moore kết hôn, cuộc sống của anh đã tách khỏi cuộc sống của cô. Hạnh phúc mới tìm được của anh là điều đã làm họ trở nên xa lạ. Những người hạnh phúc thường hay dè dặt, ít cởi mở; họ hít thở một bầu không khí khác và là chủ thể cho một quy luật hấp dẫn khác. Dẫu rằng Moore có vẻ như không nhận ra sự thay đổi giữa họ, nhưng Rizzoli thì cảm nhận được nó rõ ràng. Cô thầm than khóc cho sự mất mát ấy, thậm chí còn thấy hổ thẹn với chính mình vì đã có đôi lúc cô thèm muốn hạnh phúc của anh. Hổ thẹn vì đã có lúc cô ghen tị với người phụ nữ đã nắm được trái tim Moore. Vài ngày trước cô có nhận được bưu thiếp gửi về từ London của anh - nơi anh và Catherine đang đi nghỉ. Đó là một tấm thiệp lưu niệm từ viện bảo tàng Yard - Scotland, với vỏn vẹn một câu chào ngắn được viết phía sau, chỉ vài từ để báo cho Rizzoli biết là họ đang rất vui vẻ trong thế giới của mình. Suy nghĩ về những từ đầy vui vẻ lạc quan đó, Rizzoli biết rằng mình không thể làm anh ấy phải phiền não về việc này; cô không thể đem cái bóng đen tối của Warrant Hoyt phủ lên cuộc sống của họ.
Cô ngồi yên lặng, lắng nghe tiếng xe cộ chạy dưới phố - cái duy nhất đáng kể trong sự yên lặng đến lạnh người trong căn hộ của cô.
Cô nhìn quanh căn phòng khách của mình, nhìn những bức tường trống trơn, chỉ treo có mỗi một bức tranh. Đó là vật trang trí duy nhất trong căn phòng nếu có ai đó gọi nó như thế. Nó là một tấm bản đồ thành phố, được treo trên tường, ngay bên trên bàn ăn. Một năm trước đây tấm bản đồ này được đánh dấu chi chít bằng những cái đinh ghim nhiều màu, nhằm đánh dấu những nơi giết người của tên bác sĩ phẫu thuật. Cô đã khát khao muốn được biết tới. Cô muốn đồng nghiệp phải nhận ra, phải công nhận rằng cô hoàn toàn bình đẳng với họ, rằng cô đã thở và sống cùng với cuộc săn đuổi. Ngay cả ở nhà cô cũng vừa ăn vừa nhìn những dấu chân của kẻ sát nhân.
Bây giờ những chiếc đinh ghim ấy đã không còn nữa, nhưng tấm bản đồ vẫn còn đó, đang chờ đợi những chiếc đinh ghim mới đánh dấu những bước di chuyển của một tên sát nhân khác. Cô băn khoăn không hiểu nó nói gì về cô, về cái sự đáng buồn của cô khi sau hai năm sống trong căn hộ này thì vật trang trí duy nhất treo trên những bức tường lại là tấm bản đồ của Boston. Cuộc săn đuổi của mày đấy, Cô thầm nghĩ.
Thế giới của mày đấy.
Những ngọn đèn trong khu dinh thự của Yeager đã tắt khi Rizzoli lái xe vào con đường dành cho xe chạy lúc 9 giờ 10 phút tối. Cô là người đến đầu tiên và vì cô không có quyền vào trong nhà nên cô ngồi yên trong xe, để cửa mở cho không khí trong lành tràn vào, đợi những người khác tới.
Ngôi nhà nằm ở một con phố cụt yên tĩnh, cả hai nhà xung quanh đều tối om.
Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho họ vì sẽ không có những ánh đèn tò mò chiếu sáng trong khi họ đang làm việc. Nhưng vào lúc này, ngồi một mình, trầm ngâm nhìn tòa nhà đầy kinh hoàng trước mặt cô lại khao khát được thấy một ánh đèn sáng và có người nào đó ở cùng. Những cánh cửa sổ bằng kính nhà Yeager đang nhìn cô chằm chằm như đôi mắt của cái xác. Bóng tối xung quanh cô muốn hình vạn trạng nhưng chẳng có cái nào đẹp đẽ cả. Cô lấy súng ra, mở chốt an toàn và đặt lên đùi. Chỉ có đến lúc ấy cô mới cảm thấy bình tĩnh hơn một chút.
Có ánh đèn pha chiếu trong kính hậu của cô. Quay đầu nhìn, cô thấy đó là chiếc xe tải nhỏ với những dụng cụ dùng cho hiện trường vụ án. Cô cho lại súng vào trong túi.
Một người đàn ông trẻ với đôi vai lực lưỡng bước ra khỏi xe, lại gần xe của cô. Lúc anh ta cúi xuống để nhìn qua cửa kính, cô thấy chiếc khuyên tai vàng của anh ta lấp lánh.
“Chào Rizzoli,” anh lên tiếng.
“Chào Mick. Cám ơn vì đã đến.”
“Một khu đẹp đấy nhỉ?”
“Hãy chờ cho đến khi anh thấy ngôi nhà đã.”
Có ánh đèn pha rọi vào góc phố cụt. Korsak đã tới.
“Mọi người đều đã ở đây. Bắt tay vào việc thôi.”
Korsak và Mick không biết nhau. Trong ánh sáng từ cái đèn chụp của chiếc xe tải, Rizzoli giới thiệu hai người, cô thấy Korsak hơi lưỡng lự khi đưa tay bắt tay Mick, vì anh nhìn thấy chiếc khuyên tai của anh ta. Cô cũng có thể thấy những nhận định trong đầu Korsak. Khuyên tai. Mảnh người. Đích thị là một tên đồng tính.
Mick bắt đầu dỡ những thiết bị xuống.
“Tôi mới mua chiếc kính chống phạm mini 400 này. Nó có đèn 400 watt, sáng gấp ba lần so với chiếc GE 300 watt cũ. Đây là chiếc đèn có cường độ lớn nhất mà chúng ta từng dùng đến. Cái này thậm chí còn sáng hơn cả đèn Xenon 500 watt,” anh nói và liếc Korsak. “Anh có thể mang mấy thứ dụng cụ chụp ảnh vào được chứ?”
Korsak chưa kịp phản ứng thì đã thấy Mick ấn vào tay mình cái giá đỡ bằng nhôm, sau đó anh ta quay về chiếc xe để lấy thêm các dụng cụ khác. Korsak đứng im như phỗng một lát, tay vẫn giữ cái giá và đeo bộ mặt với vẻ không thể tin được. Rồi anh cũng đi thẳng về phía ngôi nhà.
Lúc Rizzoli và Mick tới trước cửa ngôi nhà với một đống những giá đỡ, có cả ống kính chống phạm, dây điện, kính bảo vệ thì Korsak đã bật điện trong nhà lên và cửa đã được mở rộng. Họ kéo lớp giấy phủ giày lên rồi bước vào nhà.
Cũng giống Rizzoli hồi sáng, Mick đứng trên lối vào, ngước mắt nhìn chiếc cầu thang hoành tráng với vẻ đầy ngưỡng mộ.
“Có kính đổi màu trên mái đó, anh nên nhìn chúng khi có ánh nắng chiếu vào,” Rizzoli bảo.
Tiếng Korsak khó chịu vang lên từ phòng gia đình, “Chúng ta đến đây để làm việc hay làm gì thế?”
Mick liếc Rizzoli để trao đổi cái nhìn với suy nghĩ ‘đúng là tên khốn’, cô nhún vai. Họ cùng bước theo hành lang.
“Đây, chính là phòng này,” Korsak bảo. Anh mặc một chiếc sơmi khác với chiếc hồi hôm. Nhưng chiếc này, cũng như chiếc trước, đã đẫm mồ hôi.
Anh đứng đó, với quai hàm bạnh ra, hai chân dang rộng, như thuyền trưởng nóng tính Bligh đang đứng trên bong tàu của mình - Chúng ta sẽ tập trung vào đây - khu vực này của sàn nhà.
Những vệt máu vẫn chưa hề làm mất đi cảm giác giật mình khi nhìn thấy chúng. Mick đang lắp đặt thiết bị, cắm dây điện, sẵn sàng máy chụp để trên chiếc giá ba chân. Rizzoli thấy mình chăm chú nhìn bức tường. Dù có lau chùi thế nào cũng không thể xóa được những dấu tích thầm lặng đầy kinh hoàng đó, dấu tích của một tội ác dã man. Những dấu vết sinh hóa vẫn in hằn một cách ma quái.
Nhưng tối nay họ không đi tìm những vết máu. Họ đang kiếm tìm cái gì đó khó nhìn hơn nhiều và cái đó cần có một nguồn ánh sáng thích hợp, đủ mạnh để phơi bày chúng - thứ mà hoàn toàn vô hình trước những con mắt trần.
Rizzoli biết ánh đèn đó đơn giản chỉ là năng lượng điện từ được chuyển thành sóng. Ánh sáng có thể nhìn thấy mà mắt người có thể nhận biết được là những sóng dài tầm từ 400 đến 700 nano mét. Những sóng điện từ ngắn hơn, nằm trong khoảng tia cực tím là những sóng không thể nhìn thấy được. Nhưng khi có ánh sáng đèn UV chiếu vào số lượng chất tự nhiên khác nhau do con người tạo ra thì thỉnh thoảng nó kích thích những hạt electron trong các chất đó, tạo ra tia sáng có thể nhìn thấy được. Nó là một quá trình được gọi là huỳnh quang phát. Tia UV có thể làm hiện rõ những phần bên trong cơ thể, những vết nứt xương, những kết cấu bên trong của tóc và gỗ. Đó là lý do vì sao chúng ta lại cần ống kính chống phạm mini. Dưới ánh đèn UV, toàn bộ hiện trường vụ án với những chứng cứ mới có thể được nhìn thấy.
“Chúng ta đã sẵn sàng,” Mick bảo, “giờ có lẽ chúng ta cần làm cho căn phòng này tối hết mức có thể.” Anh nhìn Korsak, “Anh có thể bắt đầu bằng cách tắt hết các đèn ngoài hành lang không thám tử Korsak?”
“Chờ đã. Thế còn kính thì sao? Tia UV có thể hủy hoại mắt tôi, phải không?”
“Tôi sẽ dùng những sóng dài trước. Nó không có hại gì đâu.”
“Dù gì tôi cũng muốn có một cặp.”
“Nó ở trong hộp đó. Có đủ kính cho tất cả mọi người.”
“Để tôi tắt đèn hành lang,” Rizzoli bảo.
Cô bước ra khỏi phòng và nhấn nút, tắt đèn. Lúc cô quay lại, Korsak và Mick vẫn đứng xa nhau hết mức có thể, như sợ có căn bệnh nào sẽ lây qua đường giao tiếp.
“Thế giờ chúng ta sẽ tập trung vào khu vực nào?” Mick hỏi.
“Hãy bắt đầu từ cuối phòng, nơi đã tìm thấy nạn nhân,” Rizzoli nói, “sau đó sẽ dịch dần ra phía ngoài, rồi ra toàn bộ căn phòng.”
Mick liếc nhìn quanh.
“Đằng kia có một tấm thảm màu be. Cái đó có thể sẽ phát quang. Cái giường trắng kia cũng sẽ sáng lên dưới tia UV. Tôi chỉ muốn cảnh báo anh là nó sẽ hơi khó khăn để định vị bất cứ thứ gì trên cái nền như thế,” anh nói khi liếc nhìn Korsak, lúc này đã đeo kính sẵn sàng và trông anh như một gã thua cuộc trung niên nào đó đang cố gắng trông cho thật ấn tượng với vỏ bọc của cặp kính râm.
“Tắt hết đèn trong các phòng đi, để xem chúng ta có thể làm cho nó tối đến mức nào,” Mick nói tiếp.
Korsak tắt công tắc, căn phòng đột ngột trở nên tối đen. Ánh sáng yếu ớt từ những vì sao chiếu qua những khung cửa sổ rộng không rèm. Không có trăng và lớp cây cối dày đặc phía sau nhà che khuất ánh sáng từ các nhà hàng xóm.
“Cũng không tệ lắm,” Mick bảo. “Tôi có thể làm việc trong điều kiện như thế này. Còn tốt hơn chán mấy hiện trường vụ án khác, chỗ mà tôi phải lần mò dưới tấm chăn để làm việc. Anh biết đấy, người ta đang phát triển hệ thống hình ảnh để có thể sử dụng được ánh sáng ban ngày. Một ngày nào đó chúng ta sẽ không phải lần mò như những người mù thế này nữa.”
“Chúng ta có thể không đi lòng vòng nữa mà bắt tay luôn vào công việc được không,” Korsak chặn ngang.
“Tôi chỉ nghĩ là có thể anh cũng quan tâm đến chủ đề công nghệ này.”
“Lúc khác được chứ?”
“Gì cũng được,” Mick nói trổng.
Rizzoli đeo cặp kính vào khi ngọn đèn xanh của ống kính chống phạm được bật lên. Cái ánh sáng kỳ ảo của những hình dạng phát quang hiện lên như những bóng ma trong căn phòng tối. Tấm thảm và chiếc giường bất chợt sáng lên đúng như Mick đã dự đoán. Ánh sáng xanh di chuyển ra phía trước, thẳng tới bức tường đối diện nơi xác của Yeager đã ngồi và ánh sáng bạc bừng lên trên tường.
“Trông đẹp đấy chứ nhỉ?” Mick hỏi.
“Đó là gì vậy?” Korsak băn khoăn.
“Những sợi tóc đã dính vào các vệt máu.”
“À đúng rồi. Nó đẹp thật đấy.”
“Chiếu xuống sàn nhà đi,” Rizzoli đề nghị. “Đó là nơi ta sẽ thấy nó đẹp thế nào.”
Mick cho ống kính UV chiếu xuống phía dưới và cả thế giới của tóc và các loại sợi sáng bừng dưới chân họ. Các chứng cứ còn lại của việc hút chân không của đội CSU lúc trước đã để lại.
“Ánh sáng càng mạnh thì việc phát quang càng mạnh,” Mick vừa nói vừa quét quanh sàn nhà. “Đó là lý do tại sao cái thứ này lại rất hay. Với 400 watt, nó đủ sáng để có thể nhặt được tất cả mọi thứ. Bên FBI đã mua 71 thứ như thế này. Nó rất gọn gàng đúng không? Anh có thể cầm nó lên máy bay như đồ xách tay.”
“Anh là người quái gì thế? Một tên nghiện công nghệ à?” Korsak giễu.
“Tôi thích những đồ công nghệ cao. Tôi là một chuyên gia kỹ thuật mà.”
“Anh á?”
“Sao anh lại có vẻ ngạc nhiên thế nhỉ?”
“Tôi không nghĩ những anh chàng như anh lại có thể làm những việc đó.”
“Những anh chàng như tôi là sao?”
“Ý tôi là cái bông tai, rồi tất cả những thứ khác, anh biết rồi đấy.”
Rizzoli thở dài, “Anh mở miệng ra rồi nhét chân mình vào đi.”
“Cái gì cơ?” Korsak hỏi. “Tôi đâu có ý phỉ báng gì bọn họ đâu. Tôi chỉ tình cờ nhận ra rằng có rất ít người trong số họ đi theo con đường kỹ thuật. Thường thì nhiều người theo con đường nghệ thuật hay sân khấu gì đó, đại loại thế. Ý tôi là điều đó cũng tốt mà. Chúng ta cần có các nghệ sĩ.”
“Tôi đã tới học ở trường Mass,” Mick nói mà không hề có ý chống trả. Anh vẫn tiếp tục dò theo sàn nhà. “Trường dạy kỹ thuật điện.”
“Này, những anh chàng thợ điện kiếm được khối tiền đấy.”
“Ừm, nó không hẳn là những nghề giống nhau.”
Họ vẫn đang dịch chuyển theo hướng không bao giờ tiếp cận nhau. Ánh sáng của tia UV tiếp tục rọi chiếu làm lộ ra những đốm sáng từ tóc và các loại sợi cũng như những thứ không thể xác định khác. Đột ngột họ tiến tới một khu mà ánh sáng làm cho họ phải giật mình.
“Tấm thảm,” Mick bảo. “Bất kể nó được làm từ loại sợi nào thì nó cũng đang bừng sáng lên như điên ấy. Sẽ khó mà nhìn thấy được nhiều thứ trên cái nền thế này.”
“Cứ dò đi,” Rizzoli khẳng định.
“Chiếc bàn trà đang vướng lối. Cô dịch nó ra chỗ khác được không?”
Rizzoli cúi về phía trước nơi có thứ gì đó như một cái bóng trên nền màu trắng của ánh sáng huỳnh quang.
“Korsak, anh giúp tôi khiêng mé kia đi,” cô bảo.
Khi chiếc bàn trà đã được di dời, tấm thảm bừng sáng thành cái ao hình ovan đang bừng lên ánh sáng trắng xanh.
“Làm thế nào chúng ta có thể định vị được bất cứ thứ gì trên cái nền đó?” Korsak hỏi. “Nó giống như cố nhìn kính nổi trên mặt nước vậy.”
“Kính không nổi trên nước,” Mick cãi.
“Vâng, đúng rồi. Anh là kỹ sư mà lại. Thế vậy Mick có nghĩa là gì vậy? Chuột Mikey hả?”
“Làm tới cái giường đi!” Rizzoli chen vào.
Mick chuyển hướng ống kính. Chiếc giường cũng phát quang nhưng yếu hơn, như tuyết dưới ánh trăng. Mick chầm chậm dò quanh khung giường, sau đó đến đệm giường, nhưng không phát hiện bất cứ vết gì khả nghi, chỉ thấy có vài sợi tóc dài rải rác và chút bụi.
“Mấy người này thật ngăn nắp,” Mick nhận xét. “Không có vết bẩn, rất ít bụi. Tôi cá chiếc giường này là hàng mới ra.”
“Chắc chắn thế rồi. Cái giường mới mà tôi mua gần đây nhất là hồi tôi kết hôn,” Korsak cằn nhằn.
“Thôi được rồi. Còn nhiều khoảng sàn nhà cần phải dò nữa. Đi tiếp theo hướng đó đi.”
Rizzoli cảm thấy Korsak xô vào mình, cô ngửi thấy mùi mồ hôi chua loét của anh ta. Hơi thở ồn ào như thể anh ta có vấn đề về xoang và bóng tối càng làm anh ta khụt khịt mạnh hơn. Khó chịu, cô bước tránh ra khỏi chỗ anh ta, đá ngay chân vào chiếc bàn.
“Chết tiệt.”
“Này, để ý xem cô đang đi đâu chứ,” Korsak nhắc nhở.
Cô lại va phải thứ gì đó cứng trong phòng. Cúi xuống xoa chân, cô thấy chóng mặt, mất phương hướng vì bóng tối và vì thay đổi đột ngột vị trí.
Cô phải ngồi xuống để tránh bị mất thăng bằng. Cô chìm trong bóng tối trong giây lát, hy vọng rằng Korsak sẽ không bước ngang người cô vì anh ta đủ nặng để đè bẹp cô. Cô có thể nghe tiếng hai người đàn ông đang dịch chuyển cách xa mình vài bước chân.
“Dây điện đang rối vào nhau rồi,” Mick bảo. Ánh sáng từ ống kính chống phạm đột ngột chiếu đến phía Rizzoli trong lúc anh gỡ rối dây điện.
Ánh đèn chạy ngang qua tấm thảm nơi Rizzoli đang ngồi cúi người vì đau. Cô chăm chăm nhìn. Được bao bọc bởi ánh sáng huỳnh quang từ những loại sợi trên tấm thảm là một điểm tối khác thường, nhỏ hơn một đồng xu.
“Mick!” cô gọi.
“Anh có thể nhấc phía kia của chiếc bàn không? Tôi nghĩ là dây điện bị vướng quanh chân bàn.”
“Mick!”
“Gì cơ?”
“Mang ống kính qua đây. Tập trung vào tấm thảm. Ngay ở chỗ tôi đang ngồi ấy.”
Mick tiến gần lại chỗ cô. Korsak cũng vậy. Cô có thể nghe được tiếng thở như bị xoang của anh đang tiến gần phía mình.
“Rọi vào phía bàn tay tôi. Tôi đang để ngón tay rất gần điểm đó.”
Ánh sáng xanh bừng lên trên tấm thảm và bàn tay cô thành một cái bóng đen mờ trên cái nền huỳnh quang đó.
“Ở đó,” cô bảo. “Nó là cái gì vậy?”
Mick cũng ngồi xổm xuống cạnh cô.
“Một vết bẩn gì đó. Tôi nên chụp nó lại.”
“Nhưng nó là một điểm đen. Tôi nghĩ là chúng ta đang kiếm tìm một thứ gì phát sáng mà,” Korsak bảo.
“Khi phông nền được phát quang ở mức độ mạnh giống như những sợ bông trên tấm thảm này thì những phần cơ thể có thể trông đen như thế này vì chúng không thể phát sáng như thế được, vết bẩn này có thể là bất cứ thứ gì. Bên phòng thí nghiệm sẽ khẳng định cho ta biết.”
“Vậy chúng ta sẽ cắt một miếng thảm đẹp đẽ này ra chỉ vì chúng ta đã tìm thấy một vệt café bị giây lên hay cái gì đó hả?”
“Chúng ta cũng có thể dùng mẹo khác,” Mick cắt ngang.
“Mẹo gì?”
“Tôi sẽ thay đổi độ dài của bước sóng. Tôi sẽ làm nó thành một tia UV ngắn.”
“Cái đó để làm gì?”
“Sẽ rất thú vị đấy.”
Mick điều chỉnh cài đặt, sau đó tập trung ánh sáng vào phần thảm có vệt đen.
“Nhìn này,” anh nói rồi tắt nguồn chiếc máy chống phạm.
Căn phòng trở thành một màu đen kỳ quái. Chỉ có duy nhất một đốm sáng ngay ở chân họ.
“Cái đó là cái quái gì vậy?”
Rizzoli cảm thấy như mình bị ảo giác. Cô nhìn chằm chằm vào hình ảnh ma quái đó - thứ mà như đang bừng cháy với ngọn lửa xanh lá cây. Cô nhìn nó nhưng thấy thứ ánh sáng đó nhạt dần rồi vài giây sau họ đã hoàn toàn trong bóng tối.
“Hiện tượng phát lân quang,” Mick bảo. “Đó là huỳnh quang bị ngăn lại. Nó xảy ra khi tia UV làm kích thích các electron trong một số vật. Các electron cần một chút thời gian để chuyển về trạng thái năng lượng căn bản. Trong quá trình đó chúng giải phóng các photon ánh sáng. Đó là thứ mà chúng ta vừa nhìn thấy. Chúng ta có một vết bẩn mà phát lân quang xanh lá sau khi bị chiếu vào một tia UV với bước sóng ngắn. Điều này rất có ý nghĩa.”
Anh nói xong rồi đứng dậy bật điện trong phòng.
Trong ánh sáng điện đột ngột, tấm thảm với ánh sáng đầy mê hoặc họ đang nhìn vào bỗng trở lại một tấm thảm bình thường. Nhưng lúc này Rizzoli không thể nhìn nó mà không cảm thấy rợn người vì cô biết chuyện gì đã xảy ra ở đó.
Bằng chứng về sự vật lộn của Gail Yeager vẫn còn đó, bám vào những thớ sợi.
“Đó là tinh dịch,” cô nói.
“Rất có thể là thế,” Mick tán thành trong khi lắp đặt lại chiếc giá và lắp bộ lọc Kodak để chuẩn bị chụp ảnh. “Sau khi tôi chụp xong cái này chúng ta sẽ cắt mảng thảm này ra. Bên phòng thí nghiệm sẽ dùng acid phospatase và kính hiển vi để khẳng định nó.”
Nhưng Rizzoli chẳng cần khẳng định nào hết. Cô quay lại phía bức tường đầy những vệt máu. Cô nhớ vị trí cơ thể bác sĩ Yeager và cô cũng nhớ lại chiếc tách đã rơi khỏi đùi ông, vỡ tan trên nền nhà gỗ. Cái vết có phát lân quang trên tấm thảm đã khẳng định chắc chắn điều mà cô sợ hãi. Cô đã hiểu chuyện gì xảy ra chắc chắn như thể cảnh đó đang diễn ra ngay trước mắt cô.
Mày kéo họ ra khỏi giường, lôi họ tới phòng này, căn phòng có sàn gỗ. Mày trói tay và cổ chân người bác sĩ, dán băng keo bịt miệng để anh ta không thể gào hét làm gián đoạn công việc của mày. Mày đặt anh ta ngồi đó, dựa vào tường, bắt anh ta làm một khán giả câm lặng của mày. Richard Yeager vẫn còn sống và nhận thức được đầy đủ điều mày định làm. Nhưng anh ta không thể chống trả. Anh ta không thể bảo vệ được vợ mình. Rồi để báo trước về những di chuyển của anh ta, sự kháng cự của anh ta, mày đã đặt chiếc tách và chiếc đĩa trên đùi anh ta như một hệ thống báo động sớm. Nó sẽ rơi vỡ ngay lập tức trên nền nhà cứng này ngay khi anh ta cố đứng dậy. Ngay trong lúc đang sung sướng hưởng thụ chiến tích của mình, mày không thể để mắt đến bác sĩ Yeager xem anh ta đang làm gì, vậy nên mày làm như thế để không bị gây kinh ngạc.
Nhưng mày muốn anh ta phải chứng kiến việc mày làm.
Cô nhìn chằm chằm vào cái vệt đã phát ánh sáng xanh lá. Nếu họ không dịch chuyển cái bàn, nếu họ không tìm kiếm những dấu vết để lại thì họ có thể đã để lỡ mất nó.
Mày ép cô ấy, ngay trên tấm thảm này. Mày giữ cô ấy trước mắt người chồng - người không thể làm được gì để cứu vợ mình, kể cả cứu chính bản thân anh ta. Rồi sau đã xong việc, sau khi đã giành xong chiến lợi phẩm thì một giọt tinh trùng nhỏ đã bị để lại trên tấm thảm, dính vào những sợ bông, bị khô đi và trở thành không thể nhìn thấy.
Việc giết người chồng liệu có phải là một phần của trò tiêu khiển? Liệu trong lúc ngừng nghỉ hắn ta có giữ riết lấy con dao để giết thời gian? Hay đó chỉ là một kết thúc thường thấy cho những sự kiện đã xảy ra trước đó? Liệu hắn ta có cảm thấy bất cứ thứ gì vào cái lúc hắn túm tóc Richard Yeager và dí dao vào cổ anh ta?
Đèn trong phòng tắt phụt. Máy ảnh của Mick nháy hết lần này đến lần khác, chụp lại vết đen được bọc bởi ánh sáng huỳnh quang trên tấm thảm.
Và rồi khi công việc đã xong, bác sĩ Yeager ngồi đó với đầu cúi xuống, máu chảy thành dòng, tưới trên tường phía sau anh ta thì mày lại cố làm trò khác - một nghi thức đi mượn từ một tên sát nhân khác. Mày gập chiếc váy ngủ dính máu của bà Yeager lại rồi đặt nó trong phòng ngủ, giống như Warrant Hoyt đã từng làm.
Nhưng mày vẫn chưa kết thúc. Cái này mới chỉ là màn đầu tiên. Còn nhiều trò thú vị, nhiều trò tiêu khiển kinh hoàng đang nằm phía trước.
Vì vậy mà mày đã đưa người phụ nữ đi.
Đèn trong phòng sáng trở lại, ánh sáng làm nhức mắt cô.
Cô thấy choáng váng, run rẩy bởi nỗi kinh hoàng mà nhiều tháng nay cô không cảm thấy.
Đó quả là một sự yếu đuối đáng bẽ mặt mà cô đang để hai người đàn ông ở đây nhìn thấy, qua gương mặt trắng bệch và đôi tay run rẩy. Đột nhiên cô thấy không tài nào thở được.
Cô bước ra khỏi căn phòng, ra khỏi ngôi nhà. Đứng trong sân trước nhà, cố hít chút không khí. Những bước chân cũng theo cô ra ngoài, nhưng cô không quay lại để xem người đó là ai. Chỉ khi anh ta cất tiếng thì cô mới biết đó là Korsak.
“Cô không sao chứ, Rizzoli?”
“Tôi không sao.”
“Nhưng trông cô không được khỏe.”
“Tôi chỉ cảm thấy hơi chóng mặt chút thôi.”
“Đó là do hồi tưởng lại vụ của Hoyt đúng không? Xem này, nó đang làm cô run lên đây này.”
“Sao anh lại biết?”
Một thoáng ngập ngừng sau đó là tiếng khịt mũi.
“Đúng rồi, cô đã đúng. Làm thế quái nào mà tôi lại biết chứ?” Anh nói rồi rảo bước quay lại ngôi nhà.
Cô xoay người gọi với theo, “Korsak!”
“Gì thế?”
Họ nhìn nhau một thoáng. Không khí ban đêm không phải không dễ chịu và mùi cỏ có vẻ rất ngọt và mát. Nhưng nỗi sợ hãi trong dạ dày cô như đang cồn lên.
“Tôi hiểu điều mà cô ấy đã cảm thấy,” cô nó nhỏ. “Tôi biết cô ấy đã phải trải qua những gì.”
“Bà Yeager à?”
“Anh phải tìm ra cô ấy. Anh phải làm chuyện này dừng lại.”
“Ảnh cô ấy xuất hiện trên khắp mặt báo. Chúng ta cũng đang lần theo các cuộc điện thoại và tất cả những dấu hiệu.” Korsak lắc đầu thở dài. “Nhưng cô biết đấy, tại thời điểm này tôi đang băn khoăn liệu hắn có để cô ấy còn sống không.”
“Hắn ta có. Tôi biết là hắn ta có.”
“Sao cô có thể chắc chắn như thế?”
Cô vòng tay ôm lấy mình để đỡ run rồi nhìn ngôi nhà, “Đó là điều mà Warrant Hoyt sẽ làm.”