Trong số tất cả nhiệm vụ của mình với vai trò là thám tử trong đội phá án Boston thì những cuộc thăm viếng tới tòa nhà bằng gạch khiêm tốn trên phố Albany là điều Rizzoli không ưa nhất. Dù cô có nghi ngờ mình không hề khắt khe hơn những đồng nghiệp nam thì cô cũng không thể không bộc lộ những nhược điểm. Đàn ông quá giỏi trong việc chỉ ra các điểm yếu và họ sẽ cứ thế mà nhè vào đó để chế giễu, đùa cợt. Rizzoli đã học được cách đeo một vẻ mặt khắc kỷ để nhìn mà không hề nao núng trước những tình huống xấu nhất lúc trên bàn khám nghiệm tử thi. Không ai có thể nghi ngờ về thần kinh thép của cô khi đã trải qua quá nhiều những thứ trong tòa nhà đó.
Cô biết những người đàn ông nghĩ về cô, coi cô như là Jane Rizzoli không biết sợ, mụ phù thủy với những viên kẹo đồng. Nhưng lúc này ngồi trong xe đậu ở bãi đỗ xe sau văn phòng ME cô chẳng hề cảm thấy mình không sợ hãi cũng như cứng cỏi.
Tối qua cô đã không được ngủ ngon. Lần đầu tiên trong nhiều tuần, Warrant Hoyt lại quay về trong giấc mơ của cô và cô đã tỉnh giấc với mồ hôi ướt đầm, bàn tay đau nhức vì những vết thương cũ.
Cô cúi nhìn những vết rạch trên lòng bàn tay và đột ngột có ý muốn khởi động xe và lái đi thật xa, để trốn tránh bất cứ thứ gì đang đợi chờ cô trong tòa nhà kia. Cô không nhất thiết phải có mặt ở đó. Sau tất cả mọi thứ thì đây là vụ giết người thuộc thẩm quyền của bên Newton, chứ không phải trách nhiệm của cô. Nhưng Jane Rizzoli chưa bao giờ hèn nhát và cô quá kiêu hãnh để có thể rút lui vào lúc này.
Cô bước ra khỏi xe, đóng sầm cửa lại rồi bước vào trong khu nhà.
Cô là người đến phòng khám nghiệm sau cùng, ba người khác trong phòng gật đầu chào cô. Korsak đã khoác lên mình chiếc áo choàng OR cỡ lớn và đội trên đầu chiếc mũ giấy phồng. Trông anh ta cứ như một bà nội trợ béo phì vậy.
“Tôi đã bỏ lỡ mất điều gì thế?” Cô vừa hỏi vừa khoác lên mình chiếc áo choàng để tránh những vết bắn bất ngờ.
“Không nhiều lắm. Chúng tôi mới vừa nói chuyện về dải băng dán.”
Bác sĩ Maura Isles đang làm nhiệm vụ trong phòng khám nghiệm. Nữ hoàng xác chết là biệt danh mà đội phá án đã đặt cho cô một năm về trước khi cô tham gia vào phòng khám nghiệm bang Massachuset lần đầu tiên. Bác sĩ Tierney đã cố mời cô về Boston từ vị trí béo bở của cô bên trường y UC San Francisco. Báo chí không mất quá nhiều thời gian để gọi cô bằng nickname là Nữ hoàng xác chết. Trong lần xuất hiện đầu tiên của cô tại tòa án Boston để chứng tỏ khả năng làm nhân viên giám định pháp y, cô đã mặc bộ đồ màu đen theo kiểu Gôtic. Những ống kính máy quay được truyền hình trực tiếp đã dõi suốt theo từng bước chân vương giả của cô trong phòng xử án. Đó là một phụ nữ hơi xanh xao nhưng rất ấn tượng với đôi môi bôi son đỏ, mái tóc ngang vai đen nhánh và phong thái ung dung, lạnh lùng.
Tại bục của mình không ai có thể làm cô xao lãng. Trong lúc luật sư bào chữa ve vãn, tán tỉnh rồi cuối cùng dùng đến bạo lực một cách tuyệt vọng để bảo vệ cho bên phạm tội. Bác sĩ Isles đã trả lời các câu hỏi của anh ta một cách cực kỳ logic và lúc nào cũng giữ trên môi nụ cười kiểu Mona Lisa.
Báo chí yêu mến cô. Các luật sư bào chữa sợ hãi cô. Còn cảnh sát điều tra thì vừa đùa cợt vừa thấy thích thú người phụ nữ này - người đã quyết định dành những ngày tháng của mình bên cạnh các xác chết.
Bác sĩ Isles lại là người giữ vai trò chủ đạo bên bàn khám nghiệm với thái độ lãnh đạm thường thấy. Trợ lý của cô là Yoshima - chính xác đến từng cử động khi anh lắp đặt các thiết bị và chỉnh góc chiếu của đèn. Cả hai người đều nhìn nhận xác của Richard Yeager dưới góc nhìn của những nhà khoa học.
Xác chết cứng đờ mà hôm qua Rizzoli thấy giờ nằm đó, đã mềm hơn. Dải băng dính dán đã được cắt đi, chiếc quần ngắn của võ sĩ đấm bốc cũng được bỏ, phần lớn máu đã khô trên da. Anh ta được đặt nằm thẳng, cánh tay duỗi dọc theo cơ thể, cả hai bàn tay đều sưng phồng và chuyển sang màu tím, giống như đang đeo một đôi găng tay, do dây trói gây nên. Nhưng lúc này tất cả mọi người đều dồn sự chú ý vào vết cắt trên cổ anh ta.
“Phát đâm chí mạng,” Isles nói khi cầm thước để đo kích thước vết thương. “Mười bốn xăng ti mét.”
“Kỳ lạ thật, sao nó trông có vẻ như không đến mức như thế nhỉ?” Korsak băn khoăn.
“Đó là vì vết cắt cứa qua những đường Langer. Co dãn của da đã kéo các gờ lại khiến cho vết thương không há miệng to. Nó sâu hơn nhiều so với bề ngoài ta nhìn thấy.”
“Dụng cụ hạ lưỡi chứ?” Yoshima hỏi.
“Cám ơn,” Isles nói rồi cầm lấy vật đó từ tay Yoshima. Cô từ từ, nhẹ nhàng trượt nó qua gờ của vết thương tròn, đi sâu vào trong vết thương, thì thào trong hơi thở. “Nói A đi nào…”
“Cái quái gì thế?” Korsak lại hỏi.
“Tôi đang đo độ sâu của vết thương. Gần năm xăng ti mét.”
Lúc này Isles lấy ra một chiếc kính lúp, soi trên vết thương và cả phần trong với lớp thịt đỏ.
“Động mạch và tĩnh mạch trái đã bị cắt, cổ họng cũng bị rạch. Với cái kiểu vết thương như thế ngay phía dưới sụn của tuyến giáp thì tôi cho rằng cổ nạn nhân bị mở rộng trước, trước cả khi có vết cắt,” cô nói rồi ngước lên nhìn hai viên thám tử. “Đối tượng điều tra của các vị đã kéo giật đầu nạn nhân ra phía sau, sau đó thì đã cắt một vết rất thận trọng và chính xác.”
“Một cuộc hành hình,” Korsak nhận định.
Rizzoli vẫn nhớ ống kính chống phạm đã làm sáng những sợi tóc còn dính vào các vết máu trên tường như thế nào. Đó là tóc của bác sĩ Yeager, đã bị đứt khi lưỡi dao cắt vào cổ họng anh ta.
“Kiểu dao gì thế?” Rizzoli hỏi.
Isles không trả lời luôn câu hỏi của Rizzoli mà thay vào đó cô lại quay qua Yoshima bảo anh, “Băng dính!”
“Tôi đã đặt ở đây rồi.”
“Tôi sẽ gắn mép của nó. Anh dùng băng dính dán nhé.”
Korsak cười khùng khục khi anh nhận ra điều họ đang làm, “Mấy người định dán vết thương của anh ta lại hả?”
Isles nhìn anh bằng ánh nhìn lạnh lùng.
“Anh thích dùng keo con voi hơn chứ gì?”
“Làm thế để giữ cho đầu anh ta thẳng lên hay để làm gì chứ?”
“Thôi nào thám tử. Băng dính không thể làm cho cái đầu thẳng lên, kể cả đầu của anh,” cô nói rồi nhìn qua kính lúp, gật đầu. “Được rồi Yoshima. Tôi có thể thấy nó rồi.”
“Cô thấy gì?”
“Thấy sự tuyệt vời của loại băng dính Scotland. Thám tử Rizzoli, cô đã hỏi tôi loại dao nào hung thủ đã dùng đúng không?”
“Đừng nói với tôi đó là loại dao mổ nhé.”
“Không, nó không phải là dao mổ. Hãy nhìn này.”
Rizzoli bước lên phía trước chiếc kính lúp rồi nhìn xăm soi vào vết thương. Mép vết thương đã được kéo lại gần nhau nhờ có miếng băng dính và lúc này cô có thể nhìn thấy hình dạng của vật giết người một cách rõ ràng hơn. Có những đường kẻ song song dọc theo gờ vết thương.
“Một lưỡi dao có răng cưa,” cô nhận định.
“Nếu thoáng nhìn thì nó có vẻ là như thế.”
Rizzoli nhìn lên, bắt gặp ánh mắt thách thức âm thầm của Isles.
“Nhưng nó không phải như thế?”
“Cái gờ cắt tự thân nó không có răng cưa như thế vì rìa bên kia của vết thương lại hoàn toàn bằng phẳng. Thêm nữa, cũng cần chú ý là những vết rạch song song ấy chỉ xuất hiện trên một phần ba vết cắt. Sao nó lại không phải trên toàn bộ độ dài vết thương? Những vết rạch đó được tạo thành khi lưỡi dao rút ra. Tên sát nhân đã bắt đầu vết cắt ở dưới quai hàm bên trái rồi trượt thẳng về phía trước cổ họng, rồi dừng lại ở phía bên kia của ống khí quản. Những vết xước kia xuất hiện khi hắn ta kết thúc đường cắt của hắn và xoắn nhẹ lưỡi dao khi hắn rút nó ra.”
“Vậy cái gì đã tạo ra các vết xước này?”
“Nó không phải là do gờ lưỡi dao tạo ra. Vũ khí này có các đường răng cưa trên rìa phía sau và chúng tạo ra các vết xước song song khi nó được rút ra,” Isles nhìn Rizzoli. “Đây là kiểu đặc trưng của dao Rambo - hay còn gọi là dao lấy mạng. Thứ mà một tên thợ săn có thể dùng.”
“Thợ săn.” Rizzoli nhìn đôi vai chắc, khỏe vạm vỡ của Yeager và nghĩ: Đây không phải là kiểu người dễ ngoan ngoãn làm một con mồi.
“Được rồi, vậy để tôi nói luôn mọi thứ nhé,” Korsak chen vào. “Người nạn nhân này - ông bác sĩ chuyên làm giảm cân đang nằm đây, ngồi nhìn đối tượng của chúng ta kéo con dao Rambo tổ bố ra, sau đó anh ta cũng vẫn ngồi đó và để hắn ta cắt cổ họng mình, đúng không?”
“Cổ tay và cổ chân của anh ta bị trói chặt,” Isles bảo.
“Tôi không quan tâm là anh ta có bị trói nghiến lại như Tutankhamen hay không. Nhưng bất cứ một người máu đỏ nào cũng sẽ cuộn người, quằn quại lên như bò bị chọc tiết.”
“Anh ấy nói đúng đấy. Ngay cả khi cổ tay, cổ chân bị trói thì ta vẫn có thể đá. Thậm chí ta có thể dùng đầu nữa. Nhưng anh ta chỉ ngồi yên, dựa vào tường,” Rizzoli nhận xét.
Bác sĩ Isles thẳng người dậy. Cô không nói gì trong một lát. Cô chỉ đứng yên, nghiêm nghị như cái áo mổ cô đang mặc là chiếc áo của một tu sĩ âu sầu. Cô nhìn Yoshima.
“Đưa tôi chiếc khăn ướt. Chỉnh đèn chiếu thẳng vào đây. Lau cho anh ta từ trên xuống dưới, lau từng phân một.”
“Cô đang kiếm thứ gì thế?” Korsak hỏi.
“Tôi sẽ nói cho anh biết khi tôi nhìn thấy nó.”
Một lúc sau, Isles nhấc tay phải lên chỉ vào những vết bên mé ngực cái xác. Dưới ống kính lúp hai vết sưng phồng màu đỏ nhạt hiện ra rõ ràng. Isles đưa dọc ngón tay đang đeo găng trên da nạn nhân.
“Đó là phản ứng Lewis nhân ba.”
“Lewis là gì?” Rizzoli hỏi.
“Phản ứng Lewis nhân ba. Nó có hiệu quả đáng kể trên da. Đầu tiên cô chỉ thấy những nốt ban đỏ, những nốt đỏ, sau đó là vệt mờ mờ do giãn nở các mao mạch trên da. Sau đó đến giai đoạn thứ ba thì nó sưng lên do các mạch máu bị phồng.”
“Tôi thấy nó giống như các vết do máy Taser gây ra,” Rizzoli bảo.
Isles gật đầu.
“Chính xác. Đó là phản ứng căn bản trên da khi bị sốc điện từ một thiết bị giống như Taser. Cái này chắc chắn sẽ làm tê liệt Yeager. Tất nhiên nó cũng làm tê liệt các dây thần kinh của anh ta. Chắc chắn là đủ thời gian cho ai đó có thể trói chân tay anh ta lại.”
“Hiệu ứng này kéo dài trong bao lâu?”
“Trên các cơ thể sống thì nó thường mất đi sau khoảng hai giờ.”
“Còn trên người chết?”
“Người chết sẽ hãm quá trình xử lý trên da. Đó là lý do tại sao chúng ta vẫn có thể nhìn thấy nó. Dù vậy thì chúng cũng đã khá mờ.”
“Vậy anh ta chết trong khoảng hai tiếng khi bị sốc điện hả?”
“Chính xác.”
“Nhưng máy Taser chỉ có thể làm cho ta bị tê liệt trong vòng vài phút,” Korsak băn khoăn. “Năm phút, nhiều nhất là mười phút. Để giữ anh ta yên lặng, chắc chắn phải sốc điện thêm nữa.”
“Đó là lý do chúng ta tiếp tục tìm kiếm thêm,” Isles bảo rồi hướng ánh sáng xuống phần bên dưới cái xác.
Ánh sáng chiếu vào bộ phận sinh dục của Richard Yeager một cách không thương tiếc. Cho đến tận lúc này Rizzoli vẫn cố tránh để khỏi nhìn vào khu vực bụng dưới của anh ta. Nhìn chằm chằm vào bộ phận sinh dục của người khác luôn khiến cô có cảm giác như đang xúc phạm họ. Hơn nữa ở đây không phải chỉ một mà có rất nhiều người đang cùng nhìn. Lúc này ánh sáng chiếu vào phần dương vật mềm nhũn của anh ta, rồi đến phần bìu phía dưới và gần như hoàn tất quá trình xâm phạm những nơi kín đáo nhất của nạn nhân.
“Có nhiều vệt đỏ mờ hơn nữa,” Isles nói khi lau đi những vết máu dính trên da nạn nhân. “Ở đây, ngay phía dưới bụng dưới.”
“Và cả trên đùi anh ta nữa,” Rizzoli nói nhỏ.
“Ở đâu?” Isles liếc nhìn hỏi.
Rizzoli chỉ đến những điểm dấu hiệu, ngay phía bên trái của bìu dương vật. Vậy đây chính là những khoảnh khắc kinh hoàng cuối cùng của Richard Yeager - cô nghĩ thầm.
Anh ta hoàn toàn tỉnh táo và cảnh giác, nhưng lại bó tay bất lực. Anh ta không thể di chuyển, không thể bảo vệ chính bản thân mình. Những cơ bắp rắn chắc hàng giờ liền tập luyện trong các phòng thể hình đến những phút cuối đời lại chẳng có ý nghĩa gì vì lúc đó cơ thể anh ta không còn nghe theo lệnh anh ta nữa. Những cánh tay nằm bất động, vô dụng trước những lần sốc điện liên tiếp. Não bộ cũng gần như tê liệt trước những tác động ấy. Anh ta đã bị lôi ra khỏi phòng ngủ, vô dụng như một con bò đang trên đường đến lò sát sinh. Rồi anh ta bị đè vào tường, ngồi đó mà chứng kiến những gì xảy đến tiếp theo.
Nhưng hiệu ứng của máy Taser không lâu dài, nên anh ta tỉnh dậy, cơ bắp cuộn lên, ngón tay nắm chặt thành nắm đấm khi phải chứng kiến cảnh vợ mình chống trả với tên sát nhân. Anh ta bị kích thích trước cảnh đó và anh cố, anh cố gắng để di chuyển. Những cơ bắp của anh lúc này đã chịu nghe lời anh. Anh cố gắng đứng dậy nhưng chiếc tách rơi từ trên đùi anh, vỡ nát trên sàn nhà đã phản lại anh.
Chỉ cần thêm một lần sốc điện nữa và anh đã hoàn toàn sụp đổ, hoàn toàn tuyệt vọng như Sisyphus ngã lăn xuống đồi.
Cô nhìn vào gương mặt Richard Yeager, nhìn vào mi mắt hơi hé mở và nghĩ về những hình ảnh cuối cùng mà anh đã phải chứng kiến. Chân anh duỗi ra một cách vô dụng trong khi vợ anh đang phải vật vã chống chọi lại với tên sát nhân trên tấm thảm màu kem. Rồi lưỡi dao, lưỡi dao được nắm chặt trong tay của tên thợ săn đang tiến lại gần anh, báo hiệu một cái chết.
Trong phòng sinh hoạt chung thật ồn ào. Ở đây người ta đi lại cứ như những con quái vật đang bị nhốt trong chuồng vậy. Đến cả chiếc TV cũng om sòm cả lên. Còn những nấc thang dẫn lên tầng giam phía trên thì lại vang lanh lảnh mỗi khi có ai đó bước chân xuống. Chúng tôi không bao giờ thoát khỏi tầm nhìn của những người coi ngục. Những chiếc camera giám sát được đặt khắp nơi. Kể cả trong phòng tắm và phòng vệ sinh. Từ cửa sổ của trạm gác, những người quản tù nhìn xuống chúng tôi khi tất cả chúng tôi đều đang hòa hợp với nhau. Họ thấy tất cả, đến từng bước di chuyển của chúng tôi. Trại cải tạo Souza-Baranomki là một khu với tiêu chuẩn cấp sáu - là nơi mới nhất trong hệ thống trại cải tạo của Massachusetts. Nó cũng có nghĩa là sẽ được trang bị các trang thiết bị hiện đại và cực kỳ đảm bảo. Khóa cửa không cần dùng chìa khóa, nó được hoạt động nhờ máy tính trên tháp bảo vệ. Mệnh lệnh được chuyển đến chúng tôi qua hệ thống điện thoại nội bộ với giọng nói chẳng thấy người đâu. Các cánh cửa dẫn tới mỗi phòng giam trong cái hộp này có thể mở hoặc đóng bằng điều khiển từ xa chứ không cần đến sự xuất hiện của bất cứ một người nào. Đã có những ngày tôi thầm hỏi không biết liệu có ai trong số các bảo vệ của chúng tôi bằng xương bằng thịt hay không. Tôi cũng băn khoăn không biết những cái bóng mà chúng tôi vẫn nhìn thấy liệu có phải là bóng của một con Robot với thân hình lắc lư và cái đầu biết gật gật. Dù đó có là người hay robot thì tôi cũng vẫn đang bị theo dõi.
Một vị thần Hy Lạp cổ đại
Nhưng điều đó chẳng làm tôi khó chịu vì chúng chẳng thể nhìn thấy những thứ trong đầu tôi. Chúng không thể bước vào được vùng bóng tối với đầy tưởng tượng phong phú của tôi. Nơi đó chỉ thuộc về tôi mà thôi.
Lúc mình đang ngồi trong phòng, xem bản tin lúc 6 giờ trên TV cũng là lúc mình đang đi dạo loanh quanh toàn bộ khu vực đó. Có một nữ phóng viên trên màn hình đang mỉm cười, đang cùng trong chuyến hành trình với mình. Mình hình dung đến mái tóc đen của cô ả như một dải suối mềm mại đổ dưới gối. Mình nhìn thấy mồ hôi lấp lánh trên da thịt nàng. Và trong thế giới đó của mình, cô nàng sẽ không mỉm cười nữa; không, không cười đâu. Mắt cô nàng to, mở rộng như một hồ nước không thấy đáy và đôi môi thì méo xệch trong trạng thái kinh hoàng. Tất cả những hình ảnh ấy hiện lên trong đầu mình khi mình trông thấy cô phát thanh viên trong bộ đồ màu xanh lá ấy. Mình nhìn cô ấy cười, nghe giọng nói ngọt ngào của cô và mình băn khoăn không biết tiếng hét của cô ấy sẽ thế nào.
Rồi một hình ảnh khác xuất hiện trên TV, tất cả những ý nghĩ về cô nàng phát thanh viên cũng đột ngột biến mất. Một phóng viên nam đang đứng trước ngôi nhà ở Newton của Ricliard Yeager. Với giọng nói buồn bã anh ta nói rằng hai ngày sau khi ông bác sĩ bị giết và bà vợ bị mất tích thì người ta vẫn chưa bắt được bất cứ đối tượng tình nghi nào. Mình cảm thấy vụ này thật quen thuộc. Giờ thì mình đang cúi người về phía trước, nhìn chăm chăm vào màn hình, chờ đợi một thứ gì đó.
Rồi cuối cùng thì mình cũng đã thấy cô ấy.
Chiếc máy quay bất ngờ quay hướng về phía ngôi nhà và đã bắt được hình ảnh của cô ấy với khoảng cách rất gần lúc cô đang bước ra khỏi cửa nhà. Một người đàn ông to con đi ngay phía sau cô. Họ đứng nói chuyện trước sân nhà, không biết rằng máy quay đang hướng về phía mình và hình ảnh họ đang được phóng to lên. Gã đàn ông trông thô lỗ và béo như lợn với mái tóc lưa thưa được chải ngược trên đầu. Quai hàm anh ta bạnh ra, bè bè. Bên cạnh gã ta, trông nàng thật nhỏ bé, mỏng manh. Đã lâu lắm rồi mình không được gặp nàng và có vẻ có nhiều thứ về nàng đã thay đổi. Ồ, mái tóc nàng vẫn là những lọn xoăn ngang ngạnh như cũ và nàng đang mặc một bộ đồ xanh hải quân. Chiếc áo khoác khoác hờ trên vai, chẳng phù hợp với vóc dáng của nàng. Nhưng gương mặt của nàng thì có khác lần cuối mình gặp.
Nó đã từng rất nghiêm nghị và tự tin, không phải vẻ đẹp như thường thấy nhưng sáng bừng vì vẻ thông minh trong đôi mắt.
Còn giờ trông nàng có vẻ mệt mỏi và lo lắng. Nàng đã bị sút cân. Mình nhìn thấy những điều đó trong những góc tối trên gương mặt nàng, trên gò má hốc hác của nàng.
Bất thình lình nàng nhận ra người quay phim và nàng nhìn chằm chằm vào máy, nhìn thẳng vào mình, mắt nàng trông như đang nhìn thấy mình vậy và mình cũng đang nhìn nàng như thể nàng đứng ngay trước mắt bằng da bằng thịt. Chúng ta đã có kỷ niệm với nhau, nàng và mình. Chúng ta đã chia sẻ cùng nhau những giây phút mà ngỡ như chúng ta là những kẻ yêu nhau mãi mãi vậy.
Tôi đứng dậy khỏi ghế, đi lại phía TV. Đặt tay lên màn hình. Tôi không còn nghe thấy tiếng của gã phóng viên nữa. Tôi chỉ tập trung duy nhất vào gương mặt nàng. Janie bé bỏng của tôi. Tay em còn làm em đau không? Em có xoa hai tay vào nhau như cái kiểu mà em đã làm trong phòng xử án như đang lo lắng về một điều gì đó? Em có nghĩ về những vết cứa mà anh đã làm như một kỷ niệm tình yêu - một nhắc nhở nho nhỏ về sự quan tâm của anh dành cho em?
“Tránh xa khỏi cái TV đi đồ chết tiệt! Bọn tao không nhìn thấy gì cả,” ai đó trong phòng hét lên.
Tôi vẫn không dịch chuyển. Tôi đứng ngay phía trước màn hình, chạm vào mặt nàng và nhớ lại đôi mắt đen lánh ấy đã nhìn vào tôi như thế nào, nhớ lại làn da mềm mịn của nàng. Đó là một làn da hoàn hảo, không có bất cứ tô điểm nào của mấy cây cọ trang điểm
“Khốn kiếp! Tránh ra!”
Đột ngột, nàng biến mất khỏi màn hình. Nữ phát thanh viên trong bộ đồ màu xanh xuất hiện trở lại. Chỉ một thoáng trước đây thôi tôi đã thấy cô ả như một thứ gì đẹp đẽ, đáng giá lắm. Nhưng giờ thì tôi thấy cô ta thật nhạt nhẽo cũng như mọi gương mặt xinh đẹp và những cổ họng thanh thoát khác. Chỉ cần một thoáng nhìn thấy Jane Rizzoh thôi, tôi đã được nhắc nhở về cái đẹp thực sự. Chính Rizzoh đã giúp tôi nhớ lại được cái gì mới là con mồi đáng giá.
Tôi quay lại ghế, ngồi xem tiếp một vụ buôn bán những chiếc Lexus. Nhưng tôi không còn xem TV nữa. Thay vào đó tôi nhớ lại cảm giác khi mình được bước đi trong tự do. Lúc đó tôi được lang thang khắp phố phường, hà hà mùi hương của những phụ nữ đi qua tôi. Đó không phải là mấy mùi hương hóa học được chưng cất rồi đóng trong các chai lọ mà là mùi hương cơ thể thực sự - mùi mồ hôi đàn bà hoặc mùi tóc của họ dưới ánh nắng mặt trời ấm áp. Vào những ngày hè tôi sẽ nhập hội cùng những người đang đứng chờ đèn xanh để sang đường. Trong một đám đông trên phố như thế thì ai sẽ để ý một người đang đứng sát phía sau mình, hít hà mùi tóc của mình chứ? Ai sẽ nhận ra rằng ngay bên cạnh mình có một người đang nhìn chằm chằm vào cổ mình, nhận biết những mạch máu trên cổ - nơi mà anh ta biết đó sẽ là nơi có hương thơm ngọt ngào nhất?
Nhìn chung là sẽ chẳng ai để ý cả. Đèn dành cho người đi bộ chuyển sang màu xanh, cả đám đông sẽ vội vàng sang đường. Rồi người phụ nữ bước đi, không bao giờ biết, không bao giờ nghi ngờ rằng tên thợ săn đã bắt được mùi của cô.
“Chiếc áo ngủ được gấp gọn gàng không thể nói lên rằng cô đang phải đối mặt với một con mèo bắt chước,” Bác sĩ Lawrence Zucker nói. “Đây chỉ là một biểu hiện về việc kiểm soát. Tên sát nhân muốn cho thấy khả năng kiểm soát hoàn toàn của mình đối với nạn nhân. Kiểm soát toàn bộ hiện trường.”
“Đó là cách Warrant Hoyt đã từng làm,” Rizzoli bảo.
“Những tên sát nhân khác cũng đã làm như thế. Không phải chỉ có tên Bác sĩ phẫu thuật mới làm thế.”
Bác sĩ Zucker nhìn cô với ánh mắt lấp lánh tia khó chịu. Anh ta là nhà tâm lý tội phạm tại trường Đại học Northeastern và anh ta thường tư vấn cho phòng cảnh sát Boston. Anh ta đã làm việc cùng với đội điều tra trong suốt vụ Bác sĩ phẫu thuật một năm về trước và hồ sơ tội phạm anh ta đã biên soạn về đối tượng điều tra hồi đó khá chính xác.
Đôi khi Rizzoli băn khoăn không biết Zucker bình thường đến mức nào. Phải là một người quen sống, làm việc trong một địa hạt với đầy tội ác, tội phạm thì mới có thể len lỏi sâu như thế vào đầu óc một kẻ như Warrant Hoyt. Cô chưa bao giờ cảm thấy thoải mái với người đàn ông này - người với giọng nói thì thào, ranh mãnh và cái nhìn soi mói khiến cô cảm giác khó chịu như bị xúc phạm. Nhưng anh ta lại là một trong số ít người có thể hiểu rõ về Hoyt; vậy nên có thể anh ta cũng sẽ hiểu được con mèo bắt chước anh ta.
“Nó không chỉ là một chiếc váy ngủ được gấp lại. Còn có nhiều điều tương tự nữa, như băng dính dùng để trói nạn nhân,” Rizzoli nhận xét.
“Cũng chỉ là lặp lại, không phải duy nhất. Cô từng xem chương trình truyền hình Macieyer không? Anh ta đã chỉ cho ta biết ngàn lẻ một cách để dùng băng dính.”
“Thế còn việc đột nhập qua cửa sổ. Nạn nhân bị bất ngờ trên giường ngủ…”
“Đó là khi họ yếu đuối nhất. Đó là một thời điểm hợp lý để tấn công.”
“Vậy vết cắt ngang cổ?”
“Một cách giết người nhẹ nhàng và hiệu quả,” Zucker nhún vai.
“Nhưng khi chúng ta gộp tất cả những chi tiết ấy với nhau: chiếc váy ngủ gấp lại, băng dính, cách đột nhập, vết cắt chí tử…”
“Và điều cô nhận được sẽ là một đối tượng điều tra đang chọn cách thức thông thường nhất để gây án. Kể cả chiếc cốc sứ trên đùi nạn nhân, nó cũng đã được dùng rất nhiều lần bởi những kẻ hãm hiếp, giết người hàng loạt. Chúng đặt những chiếc đĩa, bát hay đồ vật gì đó trên đùi chồng nạn nhân. Nếu anh ta di chuyển, thì những đồ sứ sẽ rơi vỡ, báo động cho tên tội phạm biết. Đó là cách thông thường vì chúng có tác dụng.”
Bực mình, Rizzoli lấy ra những bức ảnh hiện trường vụ án và đặt chúng trên bàn của anh ta.
“Chúng tôi đang cố tìm kiếm một người phụ nữ bị mất tích, bác sĩ Zucker. Đến giờ chúng tôi vẫn chưa có manh mối nào. Thậm chí lúc này tôi còn không muốn nghĩ đến những điều mà cô ấy đang phải trải qua nếu cô ấy còn sống. Vậy nên anh có thể chú tâm đến những thứ này một chút rồi hãy nói cho tôi biết về tên sát nhân. Hãy nói cho tôi biết làm thế nào để tìm ra hắn ta. Hay làm thế nào để tìm ra cô ta.”
Bác sĩ Zucker đeo cặp kính lên rồi nhặt lên bức ảnh đầu tiên. Anh ta không nói gì, chỉ nhìn chằm chằm một lát, sau đó lại với lấy tấm khác. Âm thanh duy nhất phát ra là tiếng động từ chiếc ghế da của anh ta và tiếng anh ta lẩm bẩm, thú vị trước mỗi tấm hình. Từ cửa sổ văn phòng anh ta Rizzoli có thể quan sát thấy quang cảnh bao quanh trường Đại học Northeastern. Xung quanh gần như vắng lặng, không một bóng người vì lúc này đang là mùa hè. Chỉ có vài sinh viên đang nằm trên bãi cỏ phía bên ngoài; túi xách, sách vở vứt đầy xung quanh. Cô thấy ghen tị với những cô cậu sinh viên ấy, ghen tị với những ngày rảnh rang của họ và sự vô tư lự của họ. Tương lai của họ đang ở phía trước, còn những giấc ngủ của họ không bị ngáng trở bởi những cơn ác mộng đen tối.
“Cô nói các cô đã tìm thấy tinh dịch?” Zucker hỏi.
Rizzoli miễn cưỡng thôi không nhìn đám sinh viên đang phơi nắng nữa, quay lại nhìn anh ta.
“Đúng vậy. Trên tấm thảm hình ovan trong bức ảnh. Phòng thí nghiệm đã khẳng định đó là loại máu khác với máu của người chồng. DNA cũng đã được nhập vào hệ thống dữ liệu CODIS.”
“Dù sao thì tôi cũng thấy nghi ngờ đối tượng gây án này lại có thể bất cẩn đến mức để mình bị nhận dạng qua hệ thống dữ liệu nhận dạng quốc gia. Mà không, tôi cá là ADN của anh ta sẽ không có trong CODIS,” anh ta nhìn lên nói tiếp. “Tôi cũng cá là anh ta không để lại bất cứ dấu vân tay nào.”
“Không có dấu nào trên hệ thống AFIS. Thật không may là gia đình nhà Yeagers đã có ít nhất năm mươi vị khách tới viếng thăm sau đám tang mẹ ông ấy. Điều đó có nghĩa là chúng ta đang có rất nhiều dấu vân chưa xác định.”
Zucker liếc nhìn bức hình bác sĩ Yeager ngồi sụp trên ghế, dựa vào bức tường đầy vệt máu phía sau.
“Vụ giết người này xảy ra ở Newton.”
“Đúng thế.”
“Không phải là một trong số các vụ điều tra mà cô thường tham gia. Sao giờ cô lại tham gia vào vụ này?” anh ta nhìn cô với vẻ soi mói khó chịu.
“Thám tử Korsak đã yêu cầu tôi…”
“Đó là người chịu trách nhiệm vụ đó, đúng không?”
“Đúng. Nhưng…”
“Không phải ở Boston đã có quá nhiều vụ làm cô bận rộn sao thám tử? Sao cô lại thấy có nhu cầu tham gia vào vụ này nữa chứ?”
Cô nhìn anh ta, cảm giác như anh ta đang thò những móng vuốt vào trong não bộ mình, cố tìm kiếm điểm trọng yếu nhất để giày vò cô.
“Tôi đã nói với anh rồi. Người phụ nữ rất có thể vẫn còn sống.”
“Và cô muốn cứu cô ta?”
“Còn anh thì không ư?”
“Tôi chỉ tò mò thôi, thám tử,” Zucker khá bình tĩnh khi thấy cô nổi nóng. “Cô đã từng kể cho bất cứ ai về vụ Hoyt chưa? Ý tôi là những điều riêng tư, những tác động của nó lên bản thân cô ấy.”
“Tôi không chắc tôi hiểu ý của anh.”
“Cô có nhận được bất cứ lời chỉ dẫn nào không?”
“Ý anh là tôi có từng thấy cần phải lùi bước không chứ gì?”
“Đó chắc phải là một trải nghiệm kinh hoàng. Những điều đã xảy đến với cô trong tầng hầm ấy. Những điều mà Hoyt đã làm với cô cũng sẽ ám ảnh bất cứ một cảnh sát nào. Hắn để lại những vết cứa cả ở thể xác lẫn tinh thần. Hầu hết mọi người sẽ thấy đó là một vết thương dai dẳng. Những hồi ức, những cơn ác mộng. Suy nhược.”
“Những ký ức chẳng có gì vui cả. Nhưng tôi có thể đối phó với chúng được.”
“Đó có là cách cô luôn làm đúng không? Cứng cỏi đối đầu, Không bao giờ phàn nàn.”
“Tôi làm những điều mà người khác vẫn làm.”
“Nhưng đừng bao giờ làm thế với bất cứ thứ gì mà nó có thể khiến cô yếu đuối, kiệt sức.”
“Tôi không thích những kẻ hay than vãn. Tôi sẽ không bao giờ như thế.”
“Tôi không nói về sự than vãn. Tôi chỉ đang nói rằng cô nên nhìn vào lòng mình để nhận ra là cô đang gặp một số chuyện.”
“Chuyện gì chứ?”
“Điều đó thì cô nên nói cho tôi biết.”
“Không, anh mới phải nói cho tôi biết. Vì chính anh là người thấy tôi có vấn đề.”
“Tôi không nói thế.”
“Nhưng anh nghĩ thế.”
“Chính cô mới là người dùng từ có vấn đề. Có phải đó là điều cô đang cảm thấy không?”
“Nghe này. Tôi đến đây là vì chuyện đó,” cô chỉ tay vào bức ảnh của Yeager. “Tại sao anh lại nói về tôi?”
“Bởi vì khi cô nhìn vào những bức ảnh này, tất cả những thứ cô có thể thấy đó là Warrent Hoyt. Tôi chỉ đang băn khoăn không biết tại sao mà thôi.”
“Vụ đó đã khép lại rồi. Tôi đang tiếp tục với vụ khác.”
“Thật chứ? Có đúng là cô đang làm thế?”
Câu hỏi ấy được anh ta hỏi rất nhẹ nhàng, làm cô đột nhiên im lặng. Cô thấy bực mình với giả thuyết của anh ta. Và trên hết đó là cô bực mình vì anh ta đã nhận ra sự thật cô không muốn thừa nhận. Warrant Hoyt đã để lại những vết cứa. Tất cả những thứ cô phải làm là cúi nhìn tay mình để nhớ lại những thiệt hại mà hắn ta đã gây ra. Nhưng sự phá hủy lớn nhất lại không phải là thể xác. Điều lớn nhất cô đã đánh mất trong cái tầng hầm đó là cảm giác về sự không thể khuất phục, sự tự tin của cô. Warrant Hoyt đã cho cô biết mình yếu đuối như thế nào.
“Tôi không ở đây để nói về Warrant Hoyt.”
“Nhưng hắn ta là lý do để cô đến đây.”
“Không. Tôi ở đây vì tôi thấy có sự tương đồng giữa hai kẻ giết người. Tôi không phải người duy nhất nhận ra điều đó. Thám tử Korsak cũng thấy điều đó. Vậy nên hãy quay trở lại vấn đề, được chứ?”
“Được thôi,” anh ta nói và nhìn cô với nụ cười ngọt ngào.
“Vậy đối tượng này thế nào?” Cô đập tay vào những tấm ảnh. “Anh có thể nói gì về đối tượng này?”
Zucker nhìn lại bức ảnh của bác sĩ Yeager thêm lần nữa rồi bảo, “Đối tượng chưa biết này của cô là người biết cách tổ chức. Điều này thì cô cũng đã biết rồi. Hắn ta đến hiện trường khi đã được chuẩn bị kỹ lưỡng với dao cắt kính, súng giảm thanh và băng dính để trói. Hắn ta cố khống chế cặp vợ chồng kia một cách nhanh chóng, nó làm cho cô băn khoăn…” anh ta liếc nhìn cô. “Không có cơ hội nào cho một kẻ khác hay sao? Một cộng sự chẳng hạn?”
“Chỉ có dấu chân của một người.”
“Vậy thì cậu bé của cô rất có năng lực đấy. Rất kỹ lưỡng nữa.”
“Nhưng hắn ta đã để lại tinh dịch trên chăn. Hắn đã trao cho chúng ta chìa khóa để mở ra được nhân dạng của hắn. Đó là một sai lầm nghiêm trọng.”
“Đúng thế. Chắc chắn là chính hắn ta cũng biết điều đó.”
“Vậy tại sao lại phải cưỡng hiếp cô ấy ngay trong nhà? Sao không để đến lúc sau, ở một nơi an toàn? Nếu như anh ta là người có đầu óc tổ chức đủ để đột nhập vào một ngôi nhà, khống chế người chồng thì tại sao…”
“Có thể đó mới thực sự là một đòn trừng phạt.”
“Gì cơ?”
“Hãy nghĩ về bác sĩ Yeager. Anh ta đang ngồi đó, bị trói chặt và vô dụng. Anh ta bị ép phải chứng kiến cảnh một kẻ khác cướp lấy tài sản của mình.”
“Tài sản,” Rizzoli lặp lại.
“Trong tâm trí tên tội phạm ấy thì người đàn bà chính là tài sản. Tài sản của một người đàn ông khác. Hầu hết những con thú dâm dục sẽ không dám mạo hiểm tấn công một cặp. Bọn chúng thường chọn những người phụ nữ độc thân, đó là mục tiêu dễ dàng khống chế. Có thêm một người đàn ông trong tình huống đó sẽ làm mọi thứ trở nên nguy hiểm. Nhưng tên này chắc chắn đã biết rõ rằng có người chồng ở đó. Và hắn ta đã chuẩn bị để đối phó với chuyện ấy. Đó chẳng phải là một phần của sự thích thú, một phần hài lòng khi có người chồng làm khán giả hay sao?”
Một khán giả của vở kịch. Cô cúi nhìn bức ảnh của Richard Yeager đang ngả vào tường. Đúng thế. Đó chính là ấn tượng ngay lập tức của cô khi cô bước vào phòng gia đình.
Zucker chuyển ánh nhìn ra phía cửa sổ. Một thoáng im lặng. Khi anh ta bắt đầu nói, giọng anh ta có vẻ nhẹ nhàng, buồn ngủ như thể những lời nói được thoát ra trong một giấc ngủ.
“Tất cả đều là về sức mạnh và sự kiểm soát. Chế ngự một con người bằng xương bằng thịt. Không chỉ có người phụ nữ mà cả người đàn ông nữa. Có thể chính người đàn ông mới là người làm hắn có hứng thú. Đối tượng của chúng ta hiểu rõ những nguy cơ có thể xảy đến với hắn ta nhưng hắn buộc phải làm tới vì những động cơ trong lòng hắn thúc giục. Những ý nghĩ kỳ quặc cùng những hình ảnh tưởng tượng khống chế hắn, thế rồi đến lượt hắn khống chế các nạn nhân. Hắn rất mạnh. Hắn là Kẻ chinh phục. Kẻ thù của hắn phải ngồi bất động và không thể làm được điều gì, còn đối tượng của chúng ta lại có sức mạnh của đội quân luôn dành thắng lợi. Hắn giành lấy phần thưởng của mình. Hắn cưỡng hiếp người phụ nữ. Và hắn sẽ thấy càng hưng phấn hơn trước cảnh bác sĩ Yeager phải khuất phục. Vụ tấn công này không đơn thuần là vì tình dục. Nó nhằm phô trương sức mạnh của giống đực. Một người đàn ông chiến thắng một người đàn ông khác. Kẻ xâm lược hưởng thụ những chiến lợi phẩm mình cướp giật được.”
Phía bên ngoài các sinh viên trên bãi cỏ đang thu gom đồ của mình, phủi cỏ khỏi quần áo. Nắng chiều làm tất cả mọi thứ lấp lánh ánh vàng ruộm. Những sinh viên đó sẽ có thêm gì sau đó? - Rizzoli băn khoăn. Có lẽ là một buổi tối thú vị với những trò giải trí và các cuộc nói chuyện cùng pizza và bia. Sau đó là một giấc ngủ ngon, không hề có ác mộng. Giấc ngủ vô tư lự.
Một điều gì đó mà mình không bao giờ được biết đến nữa.
Di động của cô chợt kêu.
“Xin lỗi,” cô nói rồi mở điện thoại.
Cuộc gọi từ Erin Volchko nói về tóc, các sợi bông và các dấu vết để lại.
“Tôi đã kiểm tra những dải băng dính làm dây buộc được lấy ra khỏi cơ thể bác sĩ Yeager,” Erin nói. “Tôi cũng đã fax bản báo cáo cho thám tử Korsak. Nhưng tôi biết cô cũng muốn biết những điều ấy.”
“Chúng ta có được gì?”
“Có rất nhiều sợi lông ngắn màu nâu bị dính trên đó. Lông từ tay chân, bị giựt ra khỏi cơ thể nạn nhân khi dây băng được lột ra.”
“Còn về các sợi bông?”
“Chúng cũng có ở đó. Nhưng có điều thực sự thú vị về những thứ đó. Trên một dải băng lột ra khỏi mắt cá chân của nạn nhân có một sợi tóc màu nâu đen, dài 2cm.”
“Tóc vợ anh ta màu vàng.”
“Tôi biết. Chính vì thế sợi tóc này mới thú vị.”
Đối tượng, Rizzolo nghĩ thầm. Nó là từ tên giết người. Cô hỏi thêm, “Đã kiểm tra các mô chưa?”
“Đã có kết quả.”
“Vậy chúng ta có thể lấy ADN từ sợi tóc đó. Nếu nó khớp với tinh dịch thì…”
“Nó không khớp với tinh dịch.”
“Sao anh biết điều đó?”
“Bởi vì sợi tóc đó không thể nào là của tên giết người,” Erin ngừng lại một chút. “Trừ khi hắn ta là một thây ma sống lại.”