Đứng ở hàng phía trước, Rizzoli ngửi thấy mùi của xác chết xộc ra từ cánh cửa mở. Cô dừng lại, chần chừ một lát trước khi bước những bước đầu tiên vào trong ngôi nhà, để chứng kiến cảnh mà cô đã biết chắc là như thế nào đang chờ cô bên trong. Cô rất muốn sẽ có một hai phút nán lại ngoài này để chuẩn bị tinh thần. Thế nhưng Darren Crowe đã mở cửa, nhận ra cô và đứng nhìn cô. Cô không còn lựa chọn nào khác ngoài việc kéo găng tay, đeo lớp phủ giày vào để tiếp tục với những phần việc cô cần phải làm.
“Frost đã tới chưa?” cô hỏi.
“Đến đây tầm hai mươi phút trước. Anh ấy đang ở trong.”
“Đáng ra tôi ở đây sớm hơn, nhưng tôi phải lái xe từ Revere tới.”
“Có gì ở Revere thế?”
“Sinh nhật mẹ tôi.”
Anh ta cười.
“Có vẻ như cô đã có một khoảng thời gian rất đẹp ở đó nhỉ?”
“Đừng có đùa nữa.”
Cô nói rồi kéo lớp phủ giấy còn lại, sau đó đứng thẳng người dậy, mang bộ mặt đầy hình sự. Những gã đàn ông như Crowe thì chỉ biết kính trọng sức mạnh, sự cứng rắn của cô; và sức mạnh là tất cả những thứ cô cho phép anh ta thấy. Lúc họ bước vào ngôi nhà, cô biết chắc anh ta đang quan sát mình từ phía sau, anh ta đang chờ xem phản ứng của cô trước những thứ cô sắp phải đối mặt. Những phép thử, lúc nào cũng thử là thứ luôn chờ đợi vào cái giấy phút cô xuất hiện và người ta biết là dù sớm hay muộn thì kiểu gì nó cũng xảy ra.
Anh ta đóng cửa trước lại và đột nhiên cô có cảm giác ngột ngạt, một nỗi sợ hãi vì nguồn không khí trong lành đã bị cách ly. Mùi tử thi nồng nặc hơn, phổi cô bị đầu độc bởi cái mùi xú khí ấy. Nhưng cô không biểu hiện bất cứ điều gì trên mặt lúc cô bước vào hành lang và thấy trần nhà cao chừng bốn mét, một chiếc đồng hồ cổ đã ngừng chạy. Cô luôn xem Beacon Hill là khu vực dân cư trong mơ ở Boston này - nơi cô sẽ chuyển đến nếu như trúng số hoặc một khả năng ngoài sức tưởng tượng hơn là cô lấy được một đại gia.
Điều này cũng ngang như ngôi nhà trong mơ của cô. Cô không còn cảm thấy lo sợ như hiện trường vụ Gail Yeager nữa. Đó là mùi chết chóc đầy trong không khí.
“Hệ thống báo động đã tắt,” Crowe nói.
“Bị vô hiệu à?”
“Không. Những nạn nhân không bật nó lên. Có lẽ họ không biết làm thế nào để bật nó bởi vì đây không phải nhà họ.”
“Thế ngôi nhà này là của ai?”
Crowe lật mở cuốn sổ ghi chép của mình và đọc:
“Chủ là Christopher Harm, 62 tuổi. Một người buôn cổ phiếu đã về hưu. Phục vụ trong Dàn nhạc giao hưởng Boston. Hiện đang nghỉ hè tại Pháp. Ông ấy cho nhà Ghent dùng ngôi nhà khi họ đang đi lưu diễn ở Boston.”
“Ý anh là gì? Lưu diễn ấy.”
“Cả hai người đều là nhạc công. Họ bay tới đây từ Chicago một tuần trước. Karenna Ghent là nhạc sỹ dương cầm. Chồng bà, ông Alexander đã từng là nhạc công chơi Cello. Tối nay theo dự kiến sẽ là buổi trình diễn cuối cùng của họ ở phòng hòa nhạc.”
Cô đã nhận ra điểm đặc biệt trong cái cách mà Crowe nói: anh ta đề cập tới người chồng bằng thì quá khứ, nhưng với người vợ thì không.
Lớp bọc giày bằng giấy của họ lạo xạo khi họ bước dọc theo hành lang để đến thẳng nơi có những âm thanh đang phát ra. Bước vào phòng khách, lúc đầu Rizzoli chưa nhận ra cái xác ở chỗ nào vì Sleeper và Frost đang đứng quay lưng về phía cô, chắn tầm nhìn của cô. Giờ cái cô nhìn thấy thật kinh hoàng, đó là vết máu chi chít trên tường. Rất nhiều vết máu. Cô phải hít một hơi thật sâu. Cả Frost và Sleeper theo phản xạ quay lại nhìn cô. Họ bước sang một bên, để lộ bác sĩ Isles đang cúi người bên cạnh nạn nhân.
Alexander Ghent ngồi dựa vào tường như một con rối buồn rầu, đầu anh ta hơi ngả về phía sau, để lộ một vết thương trên cổ họng. Quá trẻ! Đó là phản ứng đầu tiên làm cô giật mình khi nhìn chăm chăm vào gương mặt chẳng đượm chút lo âu nào của anh ta - gương mặt với đôi mắt xanh da trời đang mở to. Cậu ấy còn trẻ quá.
“Một nhân viên từ phòng hòa nhạc, có tên là Evelyn Petrakas đã đến đón họ vào khoảng 6 giờ để đưa họ đến buổi trình diễn,” Crowe nói. “Họ không ra mở cửa. Cô ta thấy cửa không khóa nên đã vào nhà để kiểm tra.”
“Anh ấy đang mặc một chiếc quần ngủ,” Rizzoli nói.
“Anh ấy đã đông cứng rồi,” Isles nói rồi đứng dậy. “Có dấu hiệu đang lạnh. Tôi sẽ nói chi tiết hơn khi có kết quả kiểm tra thủy tinh thể. Nhưng ngay lúc này tôi dự đoán điểm chết khoảng từ 16 đến 20 giờ trước. Khoảng…” cô nhìn đồng hồ đeo tay, “khoảng từ 1 giờ đến 5 giờ sáng.”
“Giường vẫn chưa được dọn,” Sleeper bảo. “Lần cuối cùng có người trông thấy cặp vợ chồng này là đêm hôm qua. Họ đã rời phòng hòa nhạc khoảng 7 giờ, cô Petrakas đã chở họ về đây.”
Những nạn nhân đang nằm ngủ - Rizzoli nghĩ thầm khi nhìn vào chiếc quần pajama của Ghent. Đang ngủ và không biết có ai trong nhà đang đi lại phía giường ngủ của họ.
“Có một cửa sổ bếp để mở dẫn tới mảnh sân phía sau nhà,” Sleeper nói. “Chúng tôi đã tìm thấy một vài dấu chân trên thảm cỏ phía sau nhà nhưng nó không cùng một cỡ. Một số dấu chân có lẽ là của người làm vườn. Hoặc cũng có thể là của chính nạn nhân.”
Rizzoli nhìn xuống lớp băng dính đang cuốn quanh cổ chân của Ghent.
“Thế còn cô Ghent?” cô hỏi, dù đã biết chắc câu trả lời.
“Mất tích,” Sleeper trả lời.
Ánh mắt cô nhìn vòng quanh cái xác, nhưng không thấy cái tách vỡ nào, không có mảnh gốm nào. Có cái gì đó không đúng ở đây - Cô thầm nghĩ.
“Thám tử Rizzoli?”
Cô quay người lại và thấy nhân viên kỹ thuật hiện trường đang đứng trong hành lang.
“Cảnh sát bảo vệ bên ngoài nói có một người nào đó nói là biết cô. Anh ta bốc mùi rất ghê và đang đòi vào bên trong. Cô muốn ra kiểm tra anh ta không?”
“Tôi biết anh ta là ai rồi. Tôi sẽ để anh ta vào.”
Korsak vừa bước trên vỉa hè vừa hút thuốc. Anh thấy bực mình ghê gớm vì mình đã bị xem như một công dân bình thường không có quyền vào trong đến mức lỗ tai anh cũng như đang bốc khói. Nhìn thấy cô ngay lập tức anh ném đầu mẩu thuốc lá đi như đó là con bọ bẩn thỉu nào vậy.
“Cô không cho tôi vào trong đó hay có chuyện gì thế?”
“Nghe này. Tôi thành thật xin lỗi. Cảnh sát bảo vệ bên ngoài không biết gì cả.”
“Mấy gã chết tiệt. Không có chút tôn trọng nào cả.”
“Anh ấy không biết, được chưa? Đó là lỗi của tôi.” Nói rồi cô nâng dải băng căng hiện trường lên để anh ta chui qua. “Tôi muốn anh nhìn cái này.”
Cô đứng lại trước cửa để chờ anh ta đi găng và đeo lớp phủ giày xong. Anh ta lảo đảo chực ngã khi cố đứng thăng bằng trên một chân. Cô đỡ anh ta và giật mình vì mùi rượu nồng nặc trong hơi thở. Cô đã gọi cho anh ta, đã đón anh ta tại nhà anh khi anh hết ca trực. Giờ thì cô thấy tiếc là đã báo cho anh ta. Anh ta rất bực tức và mất kiềm chế. Cô không thể từ chối, không cho anh ta vào trong được vì chắc chắn điều đó sẽ gây nên chuyện ồn ào thu hút đám dân chúng hiếu kỳ. Cô chỉ mong anh ta có đủ tỉnh táo để không làm cả hai phải bẽ mặt.
“Được rồi,” anh ta gắt. “Hãy chỉ cho tôi xem chúng ta có gì đi.”
Trong phòng khách anh ta nhìn chằm chằm vào cái xác của Alexander Ghen đang nằm trong vũng máu mà không có bất cứ bình luận nào. Áo của anh ta xộc xệch và anh ta đang thở theo cái kiểu bình thường khó nhọc của mình. Cô thấy Crowe và Sleeper liếc về phía họ, Crowe tròn mắt nhìn và đột nhiên cô thấy mình bực tức với Korsak vì đã xuất hiện trong tình trạng như thế này. Cô đã gọi cho anh ta bởi vì anh ta là thám tử đầu tiên đến hiện trường vụ án của Gail Yeager và cô cũng muốn biết ấn tượng của anh ta về vụ này thế nào. Vậy mà điều cô có được chỉ là một anh chàng cảnh sát say xỉn - người mà sự xuất hiện của anh ta đã bắt đầu làm cô thấy khó chịu.
“Nó có thể là tên khốn của chúng ta,” Korsak nhận xét.
Crowe khịt mũi, “Không đâu, ngài Sherlock ạ.”
Korsak quay nhìn Crowe với đôi mắt đỏ ngầu, “Anh là một trong số những kẻ thiên tài đó hả? Gã cái gì cũng biết ấy?”
“Trông có vẻ như không cần phải thiên tài mới biết là chúng ta có gì ở đây.”
“Vậy anh nghĩ chúng ta có gì?”
“Một vở kịch diễn lại. Đột nhập vào nhà. Đôi vợ chồng bị đánh úp khi đang ngủ. Vợ bị bắt cóc, chồng bị cắt cổ. Tất cả những thứ đó đều thấy ở đây cả.”
“Vậy cái tách trà đâu?”
Vẫn cái kiểu cứng đầu như thường lệ, Korsak cố tập trung vào chi tiết mà chính Rizzoli cũng đã thắc mắc suốt từ lúc đầu đến giờ.
“Không có cái nào cả,” Crowe trả lời.
Korsak nhìn chăm chăm vào phần đùi trống không của nạn nhân.
“Hắn ta đã chế ngự được con tin, bắt anh ta ngồi dựa vào tường để xem một pha trình diễn cuối cùng trong đời. Nhưng hắn ta không cần đến hệ thống báo động đó là tách trà. Nếu hắn ta cưỡng hiếp người vợ thì làm sao hắn có thể trông chừng người chồng được?”
“Ghent là một anh chàng gầy gò. Không đáng lo lắm. Thêm nữa anh ta đã bị trói chặt. Làm sao anh ta có thể đứng dậy bảo vệ cho vợ mình được chứ?”
“Nó là một thay đổi. Đó là tất cả những điều tôi sẽ nói.”
Crowe nhún vai rồi quay đi.
“Vậy là hắn ta đã viết lại kịch bản.”
“Một anh chàng điển trai sẽ biết tất cả, đúng không?”
Căn phòng trở nên yên lặng. Thậm chí cả Isles - người luôn đưa ra những nhận xét sắc bén cũng không nói gì mà chỉ quan sát với vẻ thú vị lộ trên mặt.
Crowe quay người lại nhìn Korsak với ánh mắt sáng quắc như đèn pin. Nhưng lời nói của anh lại dành cho Rizzoli, “Thám tử, có lý do nào cho việc người đàn ông này được phép bước vào khu hiện trường của chúng ta không?”
Rizzoli nắm cánh tay Korsak - cánh tay nần nẫn và ẩm ướt. Cô có thể ngửi thấy mùi mồ hôi chua loét từ người anh ta.
“Đi nào, chúng ta vẫn chưa xem phòng ngủ.”
“Đúng đấy,” Crowe cười. “Đừng có bỏ lỡ mất phòng ngủ nhé.”
Korsak hất tay Rizzoli ra, bước những bước liêu xiêu về phía Crowe.
“Tôi đã làm việc với đối tượng này từ trước cả anh đấy, đồ khốn ạ.”
“Thôi nào Korsak,” Rizzoli khuyên.
“Tôi đã theo đuổi các dấu vết đến tận đầu mối chết tiệt này. Tôi mới là người nên được báo tin đầu tiên vì tôi biết hắn ta. Tôi có thể ngửi thấy hắn ta.”
“Ồ. Thế đó có phải là cái tôi cũng đang ngửi thấy không?” Crowe chế nhạo.
“Thôi đi,” Rizzoli gắt. Cô sợ tất cả sẽ chẳng đi đến đâu. Cô bực tức với cả Korsak và Crowe về cái tính cố chấp ngớ ngẩn của họ.
Thật may sao lúc đó Barry Frost đã bước vào để làm dịu bớt căng thẳng. Bản năng của Rizzoli là thường sẵn sàng dùng cả hai chân để nhảy vào bất cứ một cuộc tranh luận nào nhưng Frost lại luôn đóng vai trò một người hòa giải. Đó là một lời nguyền từ hồi mới lớn - anh ta đã có lần nói với cô như thế - Một đứa trẻ biết rằng mặt nó sẽ bị lãnh đòn từ tất cả các phe tham gia. Anh ta thậm chí còn chẳng thèm cố làm Korsak nguôi giận mà thay vào đó anh ta lại nói với Rizzoli, “Cô cần phải xem thứ mà chúng tôi thấy trong phòng ngủ. Nó làm cho hai vụ này có sự gắn kết với nhau.”
Anh ta bước qua phòng khách và đi vào hành lang với một ý rõ ràng: Nếu cô muốn đi tới nơi xảy ra sự việc thì hãy theo tôi.
Sau một thoáng Korsak cũng làm theo.
Trong phòng ngủ, Korsak, Frost và Rizzoli cùng nhìn vào tấm khăn trải giường nhăn nhúm và hai vết xước như tạc lên trên tấm thảm trải sàn.
“Lôi họ ra khỏi giường ngủ, giống như nhà Yeager,” Frost nói.
Nhưng Alexander Ghent nhỏ hơn và ít cơ bắp hơn bác sĩ Yeager vì thế đối tượng kia sẽ dễ dàng chuyển anh ta vào trong hành lang rồi trói anh ta ngả đầu ra sau tường. Hắn ta cũng sẽ dễ dàng túm tóc, cắt cổ anh chàng kia.
“Nó nằm trên bàn trang điểm ấy,” Frost bảo.
“Đó là một chiếc áo lót cỡ số 4, được gấp gọn gàng, lốm đốm máu. Thứ mà người phụ nữ trẻ sẽ mặc để hấp dẫn người tình, đặc biệt là chồng. Chắc chắn chẳng bao giờ Karenna Ghent có thể tưởng tượng ra một sân khấu kịch mà cái áo đó vừa làm trang phục diễn, vừa làm đạo cụ để dàn cảnh. Bên cạnh nó là một cặp vé của hãng Delta Airline được đựng trong phong bì. Rizzoli liếc vào bên trong và nhìn thấy nó đã được thu xếp bởi văn phòng của Ghent.”
“Họ định mai sẽ bay,” cô nói. “Điểm dừng tiếp theo là Memphis.”
“Quá tệ,” Korsak nói. “Họ sẽ chẳng bao giờ thấy được mảnh đất ân điển ấy.”
Khi đã ở bên ngoài, cô và Korsak cùng ngồi trong xe của anh ta với cửa kính để mở vì anh đang hút thuốic. Anh hít một hơi sâu rồi thở ra với vẻ thỏa mãn như thể khói thuốc đã làm những trò ma thuật tuyệt vời với phổi của anh vậy. Anh ta có vẻ trầm tĩnh hơn, quan tâm nhiều hơn chứ không như hồi ba tiếng trước lúc anh mới đến. Chất nicotine lan tỏa đã làm tâm trí anh sáng ra hơn. Hoặc cũng có thể đó là do chất cồn trong anh đã hết.
“Cô có thấy bất cứ nghi ngờ gì về đối tượng này của chúng ta không?” anh hỏi.
“Không.”
“Kính hiển vi cũng không soi thấy bất cứ tinh trùng nào.”
“Có lẽ lần này hắn cẩn trọng hơn.”
“Hoặc cũng có thể hắn không hề cưỡng bức cô ấy,” Korsak bảo. “Đó là lý do tại sao hắn không cần đến tách trà.”
Khó chịu vì mùi thuốc lá, cô quay mặt ra phía cửa sổ đang mở, đưa tay xua xua.
“Kẻ sát nhân không theo một kịch bản định sẵn,” cô nhận định. “Mỗi nạn nhân lại có những phản ứng khác nhau. Đó là một vở kịch với hai diễn viên Korsak ạ. Kẻ sát nhân và vợ nạn nhân. Dù có bất cứ bên nào thì cũng có ảnh hưởng tới kết quả. Bác sĩ Yeager vì to con hơn nhiều so với Alexande Ghent. Có lẽ là đối tượng của chúng ta thấy thiếu tự tin hơn trong việc kiểm soát Yeager vậy nên hắn đã dùng gốm sứ để thay cho một lời cảnh báo - một thứ mà hắn không cảm thấy cần thiết với Ghent.”
“Tôi không biết,” Korsak ném một cái rác ra khỏi cửa sổ. “Tách trà đó là một thứ kỳ quặc. Đó là một phần trong cách ký hiệu của hắn. Đó là thứ mà hắn sẽ không chịu thiếu.”
“Tất cả những thứ khác đều giống như lần trước,” cô nêu rõ. “Một cặp vợ chồng giàu có. Người đàn ông bị trói chặt và bị cắt cổ. Người phụ nữ thì mất tích.”
Họ đều im lặng với cùng một ý nghĩ giống nhau về chuyện chắc chắn đã xảy đến với người phụ nữ: Người phụ nữ. Hắn ta đã làm gì với Karenna Ghent?
Rizzoli đã biết câu trả lời. Mặc dù hình ảnh của Karenna được phát sóng trên truyền hình ở khắp thành phố và lời kêu gọi mong sự giúp đỡ của quần chúng đã được phát đi, mặc dù phòng cảnh sát Boston sẽ lần theo mọi dấu vết từ các đầu mối điện thoại, từ tất cả những bóng dáng của bất cứ một phụ nữ có mái tóc đen nào thì Rizzoli cũng đã biết là việc gì đến rồi cũng sẽ đến. Cô có thể cảm nhận được nó. Nó giống như một hòn đá lạnh băng trong dạ dày cô. Karenna Ghent đã chết rồi.
“Xác của Gail yeager được vùi sau vụ bắt cóc khoảng hai ngày,” Korsak nói. “Vậy bây giờ là… bao nhiêu nhỉ? Khoảng 20 giờ từ lúc cặp vợ chồng này bị tấn công.”
“Khu bảo tồn Stony Brook,” Rizzoli bảo. “Đó là nơi hắn ta sẽ đưa cô ấy tới. Tôi sẽ chỉ huy đội mai phục.” Cô liếc nhìn Korsak. “Anh có thấy Joey Valentine có bất cứ liên can gì đến vụ này không?”
“Tôi vẫn đang điều tra. Cuối cùng thì hắn ta cũng cho tôi lấy mẫu máu của hắn. ADN đang được kiểm tra.”
“Nghe như có vẻ không giống một gã có tội. Anh vẫn theo dõi hắn chứ?”
“Tôi vẫn. Cho đến khi hắn cằn nhằn là tôi đang lạm dụng hắn.”
“Anh đã làm thế à?”
Korsak cười, phả ra một luồng khói bọc đầy trong phổi anh ta, “Có là bất cứ gã trai trưởng thành mà lúc nào cũng thích mấy trò bôi bôi quét quét cho xác chết thì sẽ gào lên như mấy đứa con gái bất kể là tôi có làm gì đi chăng nữa.”
“Vậy chính xác thì mấy cô gái gào lên như thế nào?” cô hỏi, khó chịu. “Không giống kiểu của mấy gã trai à?”
“Ặc. Chết tiệt! Đừng có làm khó tôi kiểu đó chứ? Con gái tôi lúc nào cũng làm thế! Mỗi khi nó hết tiền là nó lại kêu gào ông bố quý hóa của nó trợ cấp.” Nói rồi đột nhiên Korsak đứng thẳng người dậy. “Hây, nhìn xem ai vừa xuất hiện kìa.”
Một chiếc Lincoln màu đen vừa được lái vào trong khoảng đậu xe còn trống bên kia phố. Rizzoli thấy Gabriel Dean ra khỏi xe với cử chỉ rất đĩnh đạc nghiêm trang. Anh ta đứng nhìn về mặt tường đỏ của khu nhà. Sau đó anh ta đến gần bên cảnh sát tuần bên ngoài và trình thẻ.
Người lính tuần để anh ta đi qua rào bảo vệ.
“Quá đủ rồi,” Korsak than. “Chuyện này làm tôi bực mình. Cũng chính tên cảnh sát đó đã bắt tôi chờ bên ngoài cho đến tận khi cô ra đưa tôi vào. Cứ như kiểu tôi là một gã lang thang đường phố nào đó. Nhưng còn gã Dean này thì tất cả những thứ hắn ta cần làm là ve vẩy cái thẻ của mình ra và nói: ‘Mật vụ liên bang’ và thế là hắn ta được nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa. Tại sao hắn ta lại được phép đi qua dễ dàng như thế chứ?”
“Có lẽ do anh ta đã chú ý cài áo cẩn thận.”
“Vâng, đúng rồi, giống như một bộ lễ phục đẹp sẽ giúp tôi như thế. Tất cả là do thái độ. Nhìn hắn ta mà xem. Cứ như kiểu hắn là chủ của cả cái thế giới chết tiệt này vậy.”
Cô quan sát Dean khi anh dễ dàng đứng thăng bằng trên một chân khi kéo lớp phủ giày lên. Anh ta nhét đôi tay dài của mình vào găng tay, trông như kiểu bác sĩ phẫu thuật chuẩn bị cho ca mổ của mình. Đúng vậy. Tất cả là đều nằm trong thái độ. Korsak đúng là đồ đầu bò ngu ngốc cứ ngồi đợi thế giới đá mình loanh quanh. Mà đúng là anh ta đã bị đá như thế thật
“Ai gọi anh ta đến đây?” Korsak hỏi.
“Tôi không gọi.”
“Vậy anh ta chỉ tình cờ xuất hiện mà thôi.”
“Anh ta luôn như thế mà. Ai đó đang giúp anh ta tất cả những chuyện này. Không phải bất cứ người nào trong đội của tôi. Nó còn ở cấp cao hơn.”
Cô lại nhìn chăm chú vào cánh cửa trước. Dean đã bước vào trong và cô đang hình dung anh ta đang đứng giữa phòng khách, quan sát các vết máu rồi đọc nó giống như cách người ta vẫn đọc một báo cáo về hiện trường - những vết máu luôn có mối liên hệ mật thiết với nguồn gốc của nó.
“Cô cũng biết đấy. Tôi đã luôn suy nghĩ về điều này,” Korsak nhận định. “Dean không đến hiện trường mãi cho đến gần ba ngày sau khi nhà Yeager bị tấn công. Lần đầu tiên chúng ta thấy anh ta là lúc anh ta ghé đến khu bảo tồn Stony Brook - lúc tìm thấy xác của cô Yeager đúng không?”
“Đúng thế.”
“Vậy sao anh ta lại mất nhiều thời gian đến vậy? Có một hôm chúng ta đã đoán già đoán non về việc liệu nhà Yeager có liên quan tới vụ việc gì đó không. Nếu họ trong tầm ngắm của FBI, hoặc đang được điều tra, theo dõi thì sao họ phải đợi đến tận ba ngày sau mới chịu nhảy vào cuộc? Cuối cùng thì cái gì đã lôi họ vào? Điều gì làm họ quan tâm tới vụ đó?”
“Anh có bản báo cáo VICAP không?” cô nhìn anh hỏi.
“Có. Tôi đã mất cả giờ để làm nó. 189 câu hỏi. Toàn mấy câu ngớ ngẩn đại loại như: Có bất cứ phần thân thể nào bị ăn không? Thứ gì đã bị đào phạm phải? Giờ thì tôi đang có một bản báo cáo phụ thêm về vụ của nhà Yeager.”
“Anh có yêu cầu một bản đánh giá khi anh tiến hành làm theo mẫu không?”
“Không. Tôi không thấy cần thiết phải có một gã FBI nào chỉ cho mình thứ mà mình đã biết rõ. Tôi chỉ làm đúng bổn phận công dân của mình và gửi nó theo mẫu của VICAP.”
VICAP là chương trình bắt giữ các đối tượng gây án - là dữ liệu của FBI về các vụ phạm tội. Điều hành hệ thống dữ liệu đó yêu cầu cần có sự hợp tác của các nhân viên thi hành pháp luật - những người luôn phải đương đầu với các câu hỏi VICAP dài dằng dặc mà không hề thấy khó chịu.
“Anh đã làm bản báo cáo đó khi nào?” cô hỏi.
“Ngay sau khám nghiệm tử thi ông Yeager.”
“Đó cũng là thời điểm Dean xuất hiện. Một ngày sau đó.”
“Cô nghĩ là cái đó à? Đó là thứ đã kéo anh ta vào cuộc?” Korsak băn khoăn.
“Có thể bản báo cáo của anh đã gióng lên một tiếng chuông báo động.”
“Vậy cái gì làm họ chú ý?”
“Tôi không biết.” Cô nói và nhìn ra cửa trước nơi Dean đã biến mất. “Rõ ràng là anh ta sẽ không nói cho chúng ta biết.”