Mùi bánh ngọt nướng sực nức khiến ai nấy đều hối hả kéo đến khi Kat mở cửa phòng ăn và hô lớn: "Ăn tối thôi!" cứ như thể con bé là một khẩu súng đồ hoạ còn từ đó là một phát đạn chí mạng; và mọi người đã nhao nhao lao vào xử lý đống bánh vừa nhắc tới, trước khi Bea bất chợt ngẩng đầu lên hỏi:
"Ernestine đâu rồi?"
Chẳng ai hay biết cả, nhưng Kat mạnh dạn đoán rằng có lẽ cô chị đang bận diện găng tay với lông vũ để đi ăn tối ấy chứ.
"Cậu gọi lại lần nữa đi, Kat, nhỡ cậu ấy không nghe thấy thì sao."
Thế là Kat lao vội ra cửa, gân cổ hét lớn:
"Er-nes-tin-e-e, bánh nguội hết rồi kìa," với một nguồn năng lượng và âm lượng thừa sức lọt vào tai cô tiểu thư ấy, giả sử như cô nàng có đang ngồi tận cái chỏm ống khói cao nhất đi chăng nữa; thế nhưng chẳng hề có chút hồi âm nào đáp lại,
cũng chẳng có lấy một ánh đèn lấp ló trên lầu, nên Kat đành quay vào, vừa lầm bầm vừa sà lại công việc ăn uống:
"Chắc mẩm là con bé lại diện mấy bộ cánh mới rồi chuồn đi đâu mất tăm rồi chứ gì."
"Nhưng cậu ấy có thể đi đâu được cơ chứ?" Bea gặng hỏi với một nỗi bất an lạ thường.
"Đi đâu chẳng được, miễn là có người ngắm nghía xiêm y mới và trầm trồ khen xinh," Kat đáp tỉnh bơ, chẳng mảy may lo lắng chút nào.
Thế là họ cứ ăn tối rồi ngóng chờ; nhưng bóng dáng kẻ đầu tầu vẫn biệt tăm biệt tích. Hai cô em sinh đôi bắt đầu dọn dẹp, cẩn thận phần lại một lượng lớn thức ăn trong lò cho ấm; thế nhưng bát đĩa đã rửa xong xuôi, mọi thứ đã cất gọn gàng mà Ernestine vẫn chưa thấy mặt. Kittie bắt đầu cảm thấy bồn chồn lo lắng, còn Kat thì trêu chọc cô bạn, dẫu cho bản càng lúc càng trở nên trầm ngược lại khi màn đêm dần buông.
Tám giờ. Chín giờ. Vẫn chẳng thấy bóng dáng Ernestine đâu. Họ phải làm sao đây?
Bea chồm dậy khỏi chiếc ghế bên cửa sổ, toàn thân run bắn trong nỗi sợ hãi tái mét.
Mẹ kiếp, tôi không chịu nổi nữa rồi. Ơ kìa Olive, chúng ta phải làm sao đây?
"Sao tớ biết được," Olive đáp, đoạn đặt cuốn sách mà từ nãy đến giờ cô chẳng tài nào đọc nổi xuống bàn. "Cậu đã tìm mũ và áo choàng của em ấy chưa?"
Chưa. Chẳng ai tìm cả. Thế là cả bọn kéo nhau hộc tốc chạy lên lầu, cứ như thể cần tới năm cặp mắt mới tìm nổi một chiếc mũ với cái áo choàng đang nằm ngoe ngoẩy trên giường, y như lúc
cô nàng vừa vứt lại khi bước lên lầu. Bea lục lọi mấy chiếc tráp, mơ hồ nghĩ rằng găng tay và chiếc lông vũ thể nào cũng dính dáng đến điều bí ẩn này; nhưng chúng đã được cất đi vô cùng cẩn thận, và Kat—người thường hay làm những điều ngớ ngẩn trong lúc vội vàng—báo cáo rằng toàn bộ quần áo và váy vóc của Ernestine vẫn nằm nguyên vị trí cũ, nghĩa là em ấy không thể nào đi đâu được.
"Đương nhiên rồi; có chỗ nào cho em ấy đi đâu cơ chứ," Olive đáp.
"Hay là sang nhà bà Dane nhỉ?" Kittie phỏng đoán.
Nghe cũng có lý.
"Nhưng em ấy sang đó làm gì cơ chứ?" Bea vặn lại ngay tức khắc. "Lại còn chẳng đội mũ khoác khăn gì, mà sao lại ở lại muộn thế?"
Chẳng ai trả lời được, tất cả đều nhìn nhau đầy vẻ lưỡng lự và lo âu.
"Chiếc khăn choàng màu xanh biến mất rồi!" Kat thét lên giữa lúc đang lục lọi lần thứ hai trong tủ quần áo; tìm cái gì thì chẳng ai biết, bởi Ernestine đời nào lại treo tòng teng trên cái móc hay nhét nổi vào túi áo cơ chứ. "Cả chiếc mũ rơm nữa!"
Nghe vậy, cả năm cô gái lao đầu vào tủ quần áo chẳng vì một mục đích cụ thể nào, nhưng đó có vẻ là việc duy nhất họ có thể làm lúc bấy giờ; và trong lúc xô đẩy hỗn loạn sau đó, chiếc mũ rơm thất lạc đã nằm lăn lóc dưới sàn, nhưng bóng dáng chiếc khăn choàng xanh thì mất hút. Từng người chuyền tay nhau nhặt chiếc mũ lên, ngắm nghía nó với vẻ mặt nghiêm nghị, lật qua lật lại cứ như thể nó đang nắm giữ bí mật về cô chủ vắng mặt. Nhưng nếu chiếc mũ có biết điều gì đi chăng nữa, nó cũng ngậm tăm giấu kín, và chỉ phất phơ dải ruy băng
như một sự phản kháng yếu ớt khi bị vặn vẹo đủ điều. Chẳng ai thốt lên lời nào, cho đến khi Bea phát hiện ra hai sợi tóc vàng óng dính trên vành mũ, cô bèn vứt phắt nó xuống rồi oà khóc nức nở. Ai nấy đều chết sững, và Bea nấc nghẹn giữa những tiếng khóc:
"Tớ không kiềm được—thật đấy—tớ cứ có cảm giác như chuyện gì khủng khiếp lắm đã xảy ra ấy—và tớ sợ lắm."
Đúng lúc đó, chiếc đồng hồ điểm mười tiếng, từng nhịp đập chậm chạp và trang nghiêm vang vọng khắp ngôi nhà tĩnh mịch, khiến ai nấy đều rùng mình buốt giá, lo sợ ngó ra hành lang tối mịt; thầm ước ao, ôi tha thiết biết bao, giá mà mẹ đã về nhà. Bea kìm tiếng khóc bằng một nỗ lực tột cùng, cô cảm thấy mình phải làm gì đó—nhưng là làm gì? Cô lo lắng đưa mắt nhìn mấy đứa em. Kittie và Kat đang ngồi trên giường, run rẩy và hoảng sợ. Olive thì nhợt nhạt và bất động đến đáng sợ; còn Beatrice thì gần như trí lực cạn kiệt.
"Biết đâu—biết đâu là—" Kittie rụt rè lên tiếng, đảo mắt nhìn quanh cứ như thể giọng nói của chính mình làm con bé hoảng sợ: "em ấy đang cố hù dọa chúng ta thì sao; cậu biết chiều nay chúng ta hơi khó chịu khi em ấy lên lầu mà."
Chẳng ai nghĩ vậy cả, đó có thể là một trò đùa khá hay ho, nhưng Ernestine đời nào lại kéo dài nó cho tới tận mười giờ đêm cơ chứ.
"Đi kiểm tra các phòng rồi xuống nhà thôi," Olive nói, tay cầm cây đèn. "Biết đâu em ấy sang nhà bà Dane thật, và ở lại muộn để dọa chúng ta,
như lời Kittie nói ấy. Đi nào, lát nữa em ấy có về, tuyệt đối đừng ra vẻ ngạc nhiên hay sợ sệt gì nhé."
Vì đây là ý kiến đầu tiên của Olive, nó được đón nhận như thể mang một trọng lượng nhất định, quả thực những lời khuyên và ý kiến vẫn luôn như vậy khi chúng thốt ra từ những kẻ vốn không hay sẵn có chúng trên đầu môi chót lưỡi cho mọi hoàn cảnh. Một chút ánh sáng le lói rọi vào nhóm người khốn khổ khi họ đi kiểm tra phòng của hai đứa sinh đôi và Olive mà chẳng tìm thấy chút dấu vết nào, rồi quay trở lại phòng khách. Bea thầm hy vọng và mong chờ họ sẽ tìm thấy Ernestine đang ngồi bên lò sưởi, cười nắc nẻ và sẵn sàng trêu chọc họ vì tội hoảng loạn tìm kiếm; nhưng cô đã phải thất vọng, bởi căn phòng thật hiu hắt và cô quạnh, đống củi lửa lèo tèo đã tắt ngấm vì thiếu người chăm sóc; và dưới ánh mắt đầy lo âu của họ, mọi thứ trông thật thảm hại đến khôn tả. Trong bầu không khí tĩnh lặng đến rợn ngợp, cả bốn người cùng ngồi bệt xuống ghế bành, túm tụm sát vào nhau và cố gắng trò chuyện; nhưng đó chỉ là một nỗ lực vô vọng. Dường như chẳng thể hạ thấp giọng xuống mức mà nó không vang lên như kèn cồng giữa sự tĩnh mịch nhức nhối của ngôi nhà; ai nấy đều giật nảy mình mỗi khi có tiếng ai cất lên, thế nên chẳng mấy chốc, họ hoàn toàn im bặt, trong khi tiếng đồng hồ tích tắc vang lên đinh tai nhức óc và từng khoảnh khắc trôi qua lại nhân lên nỗi sợ hãi cùng sự lo lắng run rẩy.
Mười một giờ! Mười hai giờ!
"Chúng ta đi ngủ thôi," Olive thì thầm. Chẳng hiểu sao lúc đó thì thầm có vẻ là điều duy nhất có thể chấp nhận được.
"Nhìn kìa, hôm nay ngọn đèn không được châm thêm dầu, nó sắp cháy hết rồi; chúng ta sẽ phải mò mẫm trong bóng tối mất thôi."
"Ôi, tớ sợ lắm," Kat run lẩy bẩy lên tiếng. "Hay tất cả chúng ta ngủ chung một giường đi."
Chẳng ai phản đối cả, bởi quả thực tình cảnh đó đủ sức làm tê tái cả những trái tim dũng cảm nhất. Bốn cô thiếu nữ độc lập giữa ngôi nhà lớn vắng lặng lúc nửa đêm, với nỗi sợ hãi kinh hoàng ngự trị trong tim và trí tưởng tượng bay bổng tới cực điểm. Họ bước lên lầu nhẹ nhàng cứ như thể Ernestine đang nằm chết trong nhà; và ai nấy đều nhắm nghiền mắt ngoại trừ Olive là người cầm đèn, đến cô cũng cố trơ mắt tránh xa mọi thứ ngoại trừ đúng chỗ chân mình bước. Ngoài Bea ra thì chưa ai khóc cả; thế nên khi họ quỳ quanh chiếc giường để cầu nguyện, ai nấy đều vỡ oà, và cuối cùng họ chìm vào giấc ngủ trong tiếng nấc nghẹn ngào, vòng tay ôm siết lấy nhau.
Buổi sáng đến với ánh nắng rực rỡ nhất, mang lại một diện mạo tươi vui hơn cho vạn vật, đúng như bản chất của ban ngày. Mấy cô gái tung tăng nhảy dựng lên, hoàn toàn đinh ninh rằng tất cả chỉ là một trò đùa, và thật ngốc nghếch khi họ lại hoảng sợ đến thế. Ernestine đã sang nhà bà Dane và ngủ lại qua đêm; con bé sẽ về nhà sớm thôi và tất cả sẽ cười thả ga vì chuyện này. Họ nghĩ vậy và thoăn thoắt làm việc với tinh thần phấn chấn; thế nhưng bữa sáng đã qua đi, dọn dẹp xong xuôi, nhà cửa đã ngăn nắp gọn gàng và ngày mới đã thực sự bắt đầu; vậy mà bóng dáng Ernestine vẫn chưa thấy đâu, còn Olive thì vẫn chưa đi làm.
"Tớ có cảm giác như mình không thể đi nổi cho đến khi biết rõ chuyện gì đã xảy ra," cô đứng ở cửa, phóng tầm mắt nhìn xuống con đường. "Tớ sẽ về ăn trưa, và chắc chắn em ấy sẽ có mặt ở nhà vào lúc đó thôi."
"Tớ đoán vậy, chắc chắn thế rồi," Bea nói, cảm thấy nỗi sợ của đêm qua lại bắt đầu nhói lên trong lồng ngực.
"Tớ cứ nghĩ chẳng có chuyện gì xấu xảy ra được trong một buổi sáng đẹp trời thế này chứ," Kittie nói với vẻ mặt lo lắng và ngái ngủ.
"Thôi, tớ phải đi đây," cuối cùng Olive cũng lên tiếng. "Tớ trễ mất một tiếng rồi, và chẳng biết phải nói gì với ông Dane nữa; nhưng dẫu sao, đây là lần đầu tiên tớ đi muộn, nên chắc ông ấy sẽ không trách mắng gì đâu."
"Lát nữa nếu em ấy về, tớ sẽ tạt ra đấy báo cho cậu nhé," Kat xung phong, cô bé đang vươn vai trên cầu thang và suýt ngất vì những tiếng thở dốc liên hồi.
"Được rồi," Olive nói rồi miễn cưỡng bước đi.
Buổi sáng trôi qua thật chậm chạp và nặng nề; mấy cô gái cố gắng học bài như mọi khi, nhưng đành chịu. Trong đầu họ lúc này chỉ tồn tại duy nhất một suy nghĩ: Ernestine! Ernestine đâu rồi?
"Kittie này," Bea lên tiếng khi trời gần trưa, "Olive chắc mệt lắm, vì lo lắng và thức khuya, rồi sáng nay lại còn bận rộn chuyện làm ăn nữa, hay cậu mang cơm trưa ra đấy hộ tớ, rồi tiện thể vòng qua nhà bà Dane luôn nhé?"
"Được thôi," Kittie đáp, mừng rỡ vì tìm được việc để
giải tỏa nỗi sốt ruột cồn cào trong lòng. "Cậu chuẩn bị giỏ đồ đi, tớ chạy lên lầu sửa soạn một tí là xong ngay ấy mà."
Olive đang ngồi trước bàn làm việc, vô cùng nhợt nhạt và mệt mỏi khi Kittie bước vào. Cô ngước lên đầy vẻ chộn rộn, nhưng chỉ qua một cái liếc mắt, cả hai đều ngầm hiểu chẳng ai hay biết chút thông tin gì.
"Tớ mang cơm trưa cho cậu đây," Kittie vừa nói vừa đặt chiếc giỏ xuống, "tại vì... em ấy vẫn chưa về, và bọn tớ nghĩ cậu sẽ mệt lắm."
Olive mỉm cười đầy biết ơn: "Tớ mệt thật, cảm ơn cậu nhiều nhé," vừa dẹp phần ăn sang một bên, cô vừa thầm nghĩ sao mà chu đáo thế, bởi Kittie cũng đang mệt mỏi chẳng kém gì mình; và cô cũng thầm nghĩ rằng chỉ vài tuần trước thôi thì bọn chúng đời nào chịu làm thế; nhưng cô hoàn toàn ý thức được rằng đó phần lớn là lỗi của chính mình.
"Ông Dane đã đi thành phố trên chuyến tàu sáng nay rồi," cô tiếp lời ngay sau đó, "nên tớ chưa gặp được ông ấy."
"Tớ đang định sang đấy đây," Kittie đáp. "Ý tớ là nhà bà Dane ấy. Nếu Ernestine ở trển, tớ sẽ vòng qua đây báo cho cậu, còn nếu tớ không quay lại nghĩa là tớ chẳng hay biết gì hết."
Cả hai đều linh cảm chẳng có tin tức gì đâu, nhưng vẫn vui vẻ chào tạm biệt nhau, và Kittie vội vã rảo bước.
Bà Dane là một người phụ nữ nhân hậu, giàu lòng mẫu tử, vốn không có con cái nên dành trọn tình thương yêu ấm áp cho bất kỳ đứa trẻ nào khác. Bà luôn dõi theo mấy chị em nhà Dering bằng ánh mắt trìu mến, đặc biệt là kể từ sau
những biến cố của họ, thường xuyên ghé thăm và mang lại biết bao niềm an ủi cùng sự khích lệ trong từng lời ăn tiếng nói lẫn việc làm. Khi trông thấy Kittie đang tiến lại, bà liền ra tận cửa đón với nụ cười ấm áp, rạng rỡ và vui vẻ cất lời:
"Chào buổi sáng con yêu; có chuyện gì mà hôm nay con lại đi một mình thế này? Mà là đứa nào trong hai chị em vậy ta?"
Kittie bật cười khi bước lên lối đi nhỏ xinh xắn với những đóa hoa vio-lét nở rộ hai bên, nhưng bà Dane nhanh chóng nhận ra ánh mắt con bé đang lo lắng liếc vào trong nhà, và khuôn mặt thì tái nhợt, bồn chồn—điều chưa từng có ở bất kỳ cặp sinh đôi nào.
"Con là Kittie ạ, còn Kat bận quá không đi được," Kittie đáp khi bước vào nhà, trong lòng tự hỏi lát nữa mình phải nói gì tiếp theo.
"Thấy hai đứa mà rời nhau ra là lạ lắm nha," bà Dane nói, phát hiện ra sự bất an. "Mọi chuyện ở nhà vẫn ổn cả chứ con?"
"Dạ ổn ạ, khá ổn, trừ việc bị ốm vặt mùa xuân."
Bà Dane tiếp lời: "Chiều hôm qua lúc ở dưới phố, ta có gặp Ernestine, trông con bé có vẻ hơi xanh xao nhưng xinh lắm."
"Dạ vâng ạ," Kittie đáp, tim đập thót lên tận cổ họng. "Mẹ con định cho em ấy sang nhà cô Raymond ở hai tuần. Sáng nay em ấy có ghé qua đây không ạ?"
"Ta không thấy. Ta nghĩ cho con bé về vùng quê một thời gian cũng là ý hay, miễn là em ấy chịu nghỉ ngơi; nhà cô Raymond đẹp lắm. Dạo gần đây ta thấy con bé ho hơi nhiều đấy."
"Dạ vâng ạ," Kittie đáp, chột dạ nhận ra mình chẳng mấy bận tâm đến chuyện đó. "Nhưng con mong là không nặng lắm."
"Ta nghĩ chắc chỉ là cảm mạo mùa xuân thôi; các con phải cẩn thận đấy nhé. Nào con yêu, cởi mũ ra rồi ở lại ăn trưa với ta đi. Hôm nay một mình ta buồn lắm."
"Con rất muốn ạ; cảm ơn bà Dane, nhưng chắc Bea đang mong con về nhà, con nghĩ mình phải đi thôi," Kittie nói, sự thất vọng trào dâng trong lòng khiến con bé chực khóc. Thế rồi cô ra về, và bà Dane đứng ngẫm nghĩ khi nhớ lại khuôn mặt đầy ưu tư kia. "Chắc chắn có chuyện gì rồi; và mấy đứa trẻ tội nghiệp, dũng cảm ấy lại thui thủi một mình. Tối nay ta phải ghé sang xem có giúp được gì không."
Kat đang ngóng ở cổng, liền chồm ra ngay khoảnh khắc trông thấy Kittie bước tới. Trông con bé tái mét hết cả cái nước da bánh mật hồng hào quen thuộc, toàn thân run rẩy như bị sốt rét, và vừa nhìn thấy Kittie, câu hỏi nghẹn lại ngay trên đầu môi, con bé chẳng thể thốt nên lời mà chỉ biết trân trân nhìn nỗi sợ hãi hiện rõ trên mặt khi Kat oà lên:—
Nó không về—chẳng ai biết gì sất; nhưng sáng nay lúc Bea lên gác xép mở cửa sổ, từ lúc xuống dưới nhà là cứ khóc lóc suốt suýt ngất xỉu; hỏi gì cũng không chịu nói,
và tớ cứ tưởng cậu chẳng bao giờ về nữa cơ. Giờ chúng ta phải làm sao đây?
"Ôi, tớ chịu; sao lúc nãy tớ không nói với bà Dane cơ chứ? Tớ cứ có linh cảm là mình nên nói," Kittie thốt lên, đứng khựng lại vì tuyệt đối bất lực; đoạn cô giật phăng chiếc mũ và khăn choàng trên người rồi tròng hỏa tốc lên người đứa em.
Này Kat, chạy đi; tớ mệt lắm rồi, cậu chạy nhanh hơn mà; sang tìm ông Phillips, bảo ngài ấy đánh ngựa Prince chở mẹ về đây mau lên;" và chẳng mảy may suy nghĩ lần hai, Kat lao vút đi dọc con đường với tốc độ bay nhanh nhất có thể, chẳng màng ai nhìn ngó hay nghĩ suy gì, trong lòng chỉ đinh ninh mình vừa làm một việc đúng đắn. Kittie hộc tốc chạy vào nhà; cô thực sự hoảng hốt trước cơn khóc lóc dữ dội của Bea, và sau khi vô vọng tìm kiếm nguyên nhân hay cất lời an ủi, cô đành bó tay trong tuyệt vọng.
"Đừng hỏi tớ," Bea nức nở mỗi khi bị gặng hỏi. "Tớ không nói được! Ôi,á, giá mà mẹ có ở đây! Tớ phải làm sao đây?"
"Tớ sai người đi đón mẹ rồi!" Kittie thốt lên với một tiếng thở dài nhẹ nhõm. "Kat vừa chạy đi tìm ông Phillips rồi, tớ chắc chắn chiều nay mẹ sẽ về tới nơi."
Bea ngẩng phắt lên trong giây lát, trên mặt thoáng hiện tia hy vọng, rồi lại oà khóc nức nở thảm thiết hơn bao giờ hết, cơn cuồng nộ bóp nghẹt lấy toàn thân khiến cô run lẩy bẩy từ đầu đến chân.
"Rốt cuộc là chuyện gì thế này?" Kittie thầm nghĩ, tuyệt vọng chạy thốc lên lầu rẽ thẳng hướng gác xép;
nhưng rồi khựng lại ngay khi chạm tới tay nắm cửa, toàn thân run bắn lên vì một nỗi kinh hoàng bất chợt. Nhỡ đâu Ernestine nằm chết trong đó, hay điều gì tồi tệ hơn thì sao? Con bé run lẩy bẩy ngập ngừng, nhưng cuối cùng vẫn đẩy cửa bước vào, dẫu sao Kittie cũng là đứa gan dạ, và thò đầu nhìn vào trong!
Chẳng có chuyện gì bất thường cả. Ánh nắng ấm áp tràn qua mấy khung cửa sổ rọi sáng từng ngóc ngách. Chiếc tráp đen nhỏ vẫn nằm ở đó, nhưng đã đậy nắp và cô chẳng thèm để ý tới, dẫu cô đã đi một vòng quanh và ngạc nhiên vì mọi thứ vẫn ngăn nắp đúng vị trí. Tận một góc khuất ít khi lai vãng, bởi gác xép rộng lắm, có đặt một chiếc thùng các-tông đựng hàng hóa to tướng mà ông Dering từng dùng để cất đồ đạc; ngặt một nỗi, đúng ngay ngày trước khi qua đời đột ngột, ông đã lên gác xép, cạy tung tấm nắp nặng nề để lục tìm mấy món đồ dưới đáy, rồi vội vã rời đi với dự định khi về sẽ sắp xếp lại và đóng đinh kín mít; nhưng chính hành động nhỏ nhoi ấy lại là sự an sắp đầy uy quyền của định mệnh hay ơn trên; chiếc thùng cứ y nguyên như thế, đống đồ đạc ngổn ngang vương vãi sang một bên, chiếc tráp đen nhỏ nằm lẫn trong số đó, và vì gác xép suốt mùa đông hiếm khi có ai lui tới nên chẳng ai mảy may hay biết hay sửa chữa lại.
Kittie tình cờ liếc mắt sang hướng đó và nhìn thấy nó; với một ý nghĩ mơ hồ rằng Ernestine có thể đang trốn trong thùng, cô bước tới gần, kéo chiếc tráp đen lại sát hơn rồi trèo lên đó để nhòm vào trong; nhưng chỉ thấy một đống đồ đạc lộn xộn bị xới tung trong cơn vội vã của người cha quá cố, thế nên
cô trèo xuống, lê bước rời khỏi gác xép với tâm trạng hoang mang và bối rối hơn bao giờ hết.
Khi bước xuống cầu thang, cô nghe thấy—quả thực cô đã nghe thấy một tiếng rên rỉ không lẫn vào đâu được, khiến cô khựng lại ngay tức khắc và làm tim đập thình thịch liên hồi vì sợ hãi; rồi khi cô đứng im lắng nghe, âm thanh ấy lại cất lên lần nữa, và ngạc nhiên thay, nó không phát ra từ gác xép.
Như tôi đã nói, Kittie rất gan dạ. Chứ như Kat chắc đã thét toán chạy thốc xuống nhà và khẳng định ngôi nhà bị ma ám rồi; đằng này cô đứng yên lặng ngắt cho đến khi tiếng rên rỉ yếu ớt ấy lại vang lên; rồi với tư duy nhanh nhạy tựa chớp nhoạt, cô nhảy một bước vượt qua phần bậc thang còn lại, lao vút qua hành lang và xông thẳng vào phòng khách!
Ở đó, cuối cùng thì sau ngần ấy giờ đồng hồ lo âu đau đớn và hoảng loạn, ở đó—gần ngay trước mắt đến mức chỉ cần đẩy một cánh cửa bỏ hoang là họ đã tìm thấy—chính là Ernestine đang nằm đó.
Khi Kittie xông vào phòng, Ernestine quăng quải hai tay lên đầu rồi lại thốt lên tiếng rên rỉ yếu ớt ấy; quá bàng hoàng chẳng thốt nên lời, Kittie nhận ra em ấy đang bất tỉnh, khuôn mặt đỏ bừng vì sốt, và đôi mắt đờ đẫn trợn trừng chẳng nhận thức được điều gì.
Con bé chẳng thể nhớ nổi chính xác mình đã lết xuống nhà bằng cách nào để báo cho Bea; hay vì sao lúc quay lại thì Kat đã đứng đó tự bao giờ; cô chỉ biết rằng Bea đã quẳng chiếc khăn tay đi, hành động nhanh nhẹn
mà im lặng, rằng cô đã phụ giúp một tay, còn Kat thì lại cắm cổ chạy đi tìm bà Dane rồi quay về chỉ trong tích tắc, bởi vị phu nhân ấy vốn mang sẵn nỗi hoài nghi mãnh liệt rằng có điều chẳng lành đã xảy ra nên đã cất bước sang ngay, vừa khéo gặp Kat chỉ vài phút sau khi con bé lao hộc tốc qua cổng.
Chẳng mất mấy chốc để đưa Ernestine lên chiếc giường của chính mình, lau chùi đôi bàn tay và khuôn mặt đang nóng ran, rồi vuốt lại mái tóc rối bù xõa tung trên gối như những tia nắng lạc loài. Con bé ngoan ngoãn phó mặc cho họ chăm sóc, chẳng hề để ý đến ai, ngoại trừ chốc chốc lại ngước đôi mắt nhìn bà Dane với vẻ mặt bối rối, van nài và thều thào thốt lên trong niềm khao khát khôn nguôi: "Không phải thế phải không ạ? Con biết là không mà;" rồi lại chìm vào những lời lầm bầm khó hiểu hoặc nằm bất động chẳng biểu lộ chút cảm xúc nào.
"Hôm qua em ấy hoàn toàn khỏe mạnh," Bea đáp lại những câu hỏi của bà Dane. "Em ấy vừa đi vừa hát bước lên lầu lúc tầm bốn giờ chiều, và đó là lần cuối cùng chúng tôi nhìn thấy em ấy cho tới tận bây giờ, khi Kittie tìm thấy."
"Tội nghiệp con bé! Thế các con đã trải qua cả đêm qua thế nào?"
"Chúng tôi thức đến tận mười hai giờ, và Olive bảo thời gian dài như cả tuần vậy, tất cả đều hy vọng em ấy sang nhà bà ngủ nhờ qua đêm, chính điều đó đã níu chân chúng tôi không bị gục ngã hoàn toàn. Lúc em ấy bỏ đi, chúng tôi đang tranh cãi một chút," Bea nói thêm, hạ mi mắt xuống nhưng cảm thấy cần phải giải thích đôi chút.
"Thế nên chúng tôi nghĩ em ấy lảng đi mà chẳng nói năng gì để hù dọa mình."
Kittie trân trân nhìn Bea đầy kinh ngạc. Cô mừng rỡ khôn xiết vì đã tìm thấy Ernestine, đến mức tự hỏi tại sao Bea vẫn tái mét run rẩy và chốc chốc lại phải ngồi xuống ghế cứ như thể kiệt sức chẳng đứng vững nổi. Cuối cùng, đinh ninh rằng đó chỉ là do mệt mỏi và lo lắng, Kittie vội vã chạy xuống bếp, châm lửa đun một ấm nước sôi sùng sục để pha trà, và chỉ một lát sau, cô mang lên một tách thức uống bồi bổ ấy, nài nỉ Bea uống hết và nếu được thì uống thêm tách nữa.
"Cậu chu đáo quá," Bea nói, ánh mắt lộ vẻ biết ơn và cố nở nụ cười nhưng hoàn toàn thất bại. "Cậu xuống dưới uống một chút đi. Kat đâu rồi?"
"Nó lại cắm cổ chạy đi báo tin cho Olive rồi," Kittie đáp, ngồi bệt xuống sàn nhà. "Tội nghiệp con bé, chắc mệt lử cho xem. Ôi Bea, cậu có mừng vì chúng ta tìm thấy em ấy trước khi mẹ về không?"
Bea gật đầu lia lịa, giấu khuôn mặt vào tách trà, trong khi Kittie nghe tiếng Kat lục cục dưới nhà liền vội vã chạy xuống để cùng em thưởng thức tách trà mừng vui đoàn tụ.
Bà Dering về đến nhà vào lúc chiều muộn; hai chị em sinh đôi tung cửa cổng lớn, reo hò báo tin mừng ngay khi trông thấy bóng dáng quen thuộc, và chú ngựa Prince hí vang mừng rỡ, vẫy đuôi tung vó phi đều trên lối đi cũ kỹ, trong lúc Kittie và Kat lao vào ôm chầm lấy chú
với vẻ phấn khích tột độ, thì bà Dering hộc tốc bước vào nhà và chạm mặt ngay Bea ở cửa.
"Con bé đâu rồi? Rốt cuộc chuyện này là thế nào?" Người mẹ hoảng hốt thét lên.
Bea nghẹn ngào đáp, giọng nói đứt quãng như thể có thứ gì đang chặn ngang cổ họng: "Em ấy ở trong phòng khách—đang ốm—chiều nay chúng con tìm thấy... Vào... vào phòng khách đi mẹ, rồi con sẽ kể cho mẹ nghe."
Bà Dering lủi thủi bước theo, nỗi sợ hãi tột cùng bóp nghẹt lấy trái tim khiến bà lả đi phải ngồi sụp xuống ghế vì quá choáng váng; và Beatrice đối diện với ánh mắt đau đớn, van nài ấy liền chẳng tài nào thốt nên lời, cô chỉ lặng lẽ thò tay vào túi áo, rút ra một bức thư đã nhàu nát và phai màu.
Bà Dering ngước nhìn nó trong giây lát, rồi phát ra một tiếng kêu vỡ vụn, dang hai tay van nài.
"Ôi Beatrice! Con gái của mẹ! Không thể nào, chắc chắn không phải thế đâu!"
"Dạ phải, thưa mẹ."
Bà Dering gục mặt vào hai bàn tay với tiếng rên rỉ phát ra từ tận đáy lòng, và bị nhấn chìm bởi sự thật xác thực nỗi sợ hãi, Bea ngã gục xuống ghế oà khóc nức nở; chẳng có âm thanh nào lọt vào tai ngoài những tiếng nấc nghẹn ngào kéo dài suốt mấy phút liền.
Dù trong hoàn cảnh nào đi nữa, bà Dering vẫn là một người phụ nữ có bản lĩnh tự chủ tuyệt vời; thế nên chỉ một lát sau, bà ngước lên hỏi:
"Các con có biết gì về chuyện này không?"
"Dạ không, thưa mẹ," Bea đáp, đoạn thuật lại toàn bộ sự tình, rồi đính kèm theo cái nhìn đầy yêu thương và đồng cảm vào khuôn mặt đang đau khổ khôn nguôi đối diện: "Sáng nay lúc con lên gác xép, con thấy một chiếc tráp của mẹ bị mở tung, chiếc váy lụa xanh và chiếc váy ren trắng nằm vung vãi dưới sàn cạnh chiếc tráp đen nhỏ cũng đang mở nắp, và bức thư rơi vãi dưới đất, con biết là em ấy đã từng lên đó, và nghĩ rằng có khi đó là kỷ vật gì bỏ quên nên con đã đọc—chỉ đọc một phần thôi, và—ôi mẹ ơi!"
Bà Dering không hề giải thích gì khi Bea nghẹn ngào dừng lời; bà chỉ thẫn thờ nhìn ra ngoài cửa sổ với muôn vàn thắc mắc đan xen trên khuôn mặt, rồi lẩm bẩm một mình:
"Sao nó lại lọt ra ngoài chiếc thùng đó được cơ chứ?"
"Là bố," Bea bắt lấy lời mẹ, đáp ngay: "Hôm trước ngày bố—mất, bố có lên trên ấy, và con nhớ khi bố mang những thứ cần tìm xuống, bố bảo rằng bố đã phải lục tận đáy chiếc thùng to mới thấy, và hứa sẽ cất gọn lại rồi đóng đinh kín mít vào lúc về nhà, thế nhưng mọi thứ cứ bỏ ngỏ y nguyên như thế, thưa mẹ; và ôi—xin mẹ hãy nói cho con biết—có thật không ạ?"
Bà Dering buồn bã đáp: "Đúng vậy Beatrice, sự thật là thế, quá ư đau đớn," rồi bà bước thẳng lên lầu, để lại Bea đang nức nở trên ghế bành.
Chỉ vài phút sau Kittie hớt hải chạy vào, khựng lại ngạc nhiên ở cửa phòng khách, nhưng khi nhìn thấy chị mình và nghe tiếng khóc xé lòng ấy, cô bé liền bước tới quỳ sụp xuống bên chiếc ghế dài.
"Bea, cậu vẫn chưa chịu nói cho tớ biết rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì sao?"
"Không-ồ," Bea nức nở.
"Thế thì làm ơn nói cho tớ nghe đúng một chuyện thôi: Tớ đang sợ chết khiếp lên được chẳng hiểu vì cái quái gì nữa. Nhưng mà, Ernestine đang ốm rất nặng phải không, và đó là lý do cậu khóc sướt mướt à? hay là—hay có chuyện gì xảy ra mà chúng ta không biết sao? Làm ơn nói cho tớ biết điều này thôi Bea, tớ thề sẽ không gặng hỏi gì nữa đâu."
"Ừ, có chuyện lớn rồi," câu trả lời của Bea vang lên; và Kittie lủi thủi bước đi với nỗi buồn man mác để dặn Kat và Olive đừng vội mừng sớm.
Đêm hôm ấy đã khuya lắm rồi, mọi người đều đã chợp mắt, ngoại trừ bà Dering vẫn miệt mài thức trắng bên giường bệnh, nắm chặt bàn tay đang nóng ran của Ernestine, và Bea đang cuộn tròn đầy u uất trên chiếc ghế bồng bềnh, cũng thao thức không kém, ánh mắt lúc lại đăm đăm nhìn vào khuôn mặt đầy yêu thương, cảnh giác của người mẹ, lúc lại chuyển sang gương mặt đang phừng phừng sốt và trằn trọc không yên trên gối, trong khi những giọt nước mắt lăn dài vô thức trên má.
Vị bác sĩ đã dặn dò khi rời đi vào buổi chiều rằng khi Ernestine tỉnh dậy, con bé sẽ hoàn toàn bình tĩnh trở lại, và từ nãy đến nay bà Dering vẫn dõi theo cơn đỏ bừng vì sốt đang nhường chỗ cho sắc da tái nhợt, cùng những cái trở mình trằn trọc đang lắng xuống thành giấc ngủ bình yên, bà thừa biết rằng chẳng bao lâu nữa, Ernestine sẽ tỉnh táo và cất lên một câu hỏi mà bà vô cùng khiếp sợ. Căn phòng tĩnh mịch đến rợn ngợm. Bea rùng mình khi tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ vang vọng buốt giá khắp hành lang, và sực nhớ về đêm qua khi tất cả bọn họ cũng đứng ở nơi này,
trong chính căn phòng này, và thắc mắc không biết Ernestine đang trốn ở đâu; còn bà Dering thì run rẩy, dẫu là vì một lý do hoàn toàn khác, bởi tâm trí bà đang chất chứa những hoài niệm muôn trùng.
Đúng lúc đó, Ernestine trở mình như thể sắp tỉnh giấc, và chiếc đồng hồ bắt đầu đổ chuông mười hai tiếng. Suốt mười hai nhịp đập chậm chạp ấy, con bé không hề nhúc nhích, nhưng vừa dứt tiếng chuông cuối cùng, nó liền khẽ rên lên một tiếng nhỏ đầy vẻ mệt mỏi, yếu ớt, rồi từ từ mở to mắt.
Cùng khoảnh khắc ấy, bà Dering đưa chiếc ly nhỏ xíu lên môi con bé, nhẹ nhàng đỡ chiếc gối cao lên và thì thầm:
"Uống đi con yêu."
Ernestine ngoan ngoãn làm theo, nằm im thin thít suốt mấy phút liền với đôi mắt trân trân mở lớn; rồi bỗng nhiên chúng bắt đầu hoảng hốt, hướng thẳng vào khuôn mặt Bea và khựng lại ở đó. Bea mỉm cười dẫu toàn thân đang run bắn lên, rồi rời ghế bước tới bên giường. Nhưng Ernestine lúc này chẳng thèm để ý đến cô nữa; con bé đang hoảng loạn đảo mắt nhìn khắp phòng, đoạn bỗng ngồi bật dậy thẳng lưng, hất mái tóc xõa qua một bên và nhìn thấy mẹ. Trong giây lát, con bé ngẩn ngơ như thể chẳng biết mình đang muốn tìm thứ gì; nhưng rồi mọi thứ ùa về trong tâm trí, và với một tiếng thét van nài, nó dang rộng hai vòng tay.
Ôi mẹ ơi, mẹ ơi! Có thật không ạ? Con là con của người khác ư?
Bea quay phắt đi, ngã sụp xuống ghế lần nữa vì chẳng dám đối diện với khuôn mặt đau đớn, tội nghiệp ấy; và bà Dering,
ngồi phịch xuống mép giường, siết chặt thân hình đang run lẩy bẩy vào lòng.
"Con yêu của mẹ, con chính là đứa con gái bé bỏng thân yêu của mẹ đây mà—" nhưng Ernestine đã cắt ngang bằng một tiếng khóc xé lòng:
"Ôi! Mẹ hãy nói cho con biết bức thư đó là thật, hay nó ám chỉ một Ernestine nào khác đi? Nhanh lên mẹ ơi, làm ơn nói cho con biết đi mà!"
Biết đáp lại thế nào đây khi đôi tay ấy đang ghì chặt lấy cổ bà, với khuôn mặt van nài và đôi mắt tuyệt vọng chẳng mảy rời khỏi bà lấy nửa phân?
"Con đang mơ mộng đấy thôi, cục cưng," bà Dering dịu dàng mở lời; nhưng Ernestine liền ngả đầu về phía sau, cất giọng réo lên thành tiếng thét kinh hoàng:
"Mẹ không chịu nói cho con! Mẹ giấu con," nó gào thét điên cuồng. "Ôi, con phải biết sự thật có đúng thế không; con phải biết. Ôi mẹ ơi, hãy bảo rằng không phải đi; hãy nói với con rằng mẹ chính là mẹ đẻ của con, rằng bức thư ấy không nhắc đến con; ôi mẹ ơi! Mẹ ơi!"
"Ernestine cưng, hãy nghe mẹ nói đây," bà Dering lên tiếng, nước mắt giàn giụa trên khuôn mặt tái nhợt. "Con đã là con gái của mẹ kể từ khi mới tròn hai tháng tuổi, nhưng mẹ ruột của con đã trao con cho mẹ ngay trước khi Người về với chúa thiên đàng, và cô ấy chính là—" nhưng chẳng cần phải nói thêm lời nào nữa; Ernestine khẽ rên lên một tiếng, gục đầu xuống, còn bà Dering nức nở đặt con bé nằm ngửa trở lại trên gối; trong lúc Bea lật đật chạy đi lấy nước.
Trở về mục lục