Ernestine đang dần bình phục, và điều đó thật dễ hiểu khi cô có tất cả những gì trái tim hằng mong ước: sự yên bình trọn vẹn, cùng sáu trái tim và đôi bàn tay tận tụy luôn sẵn sàng tuân theo mệnh lệnh dù là nhỏ nhất của cô. Cô không đưa ra nhiều yêu cầu, bởi một trong những đổi thay nơi cô giờ đây là biết ít đòi hỏi, chẳng mủi lòng phàn nàn về điều gì, kể cả nỗi đau đớn của chính mình, mà chỉ lặng lẽ nằm đó, kiên nhẫn, mãn nguyện, vị tha và trầm tĩnh. Cô tỏ ra biết ơn và vui mừng trước những cử chỉ ân cần dù là nhỏ nhặt nhất — điều mà trước kia cô từng coi đó là hiển nhiên và sẽ cằn nhằn nếu không được đáp ứng; và sau khi khỏe lại, khi các cô gái nối lại nhịp sống vui tươi, cô chưa từng tỏ chút tiếc nuối nào vì phải rời xa những cuộc vui ấy và cứ phải nằm yên lặng ngày qua ngày; trong khi trước đó, việc trải qua một ngày đơn độc mà không có trò vui nào để khuây khỏa tinh thần vui thích của cô là điều không thể chịu đựng nổi.
Canfield, với vòng tròn các thiếu nữ đầy triển vọng đang bước vào tuổi trăng tròn, bắt đầu khoác lên mình diện mạo khá sôi nổi của đời sống xã hội qua những buổi khiêu vũ nhỏ, những chuyến đi hái hạt dẻ, một hoặc hai câu lạc bộ văn học và một câu lạc bộ đánh bài; những hoạt động ấy tác động đến thị trấn nhỏ bé này giống như một làn gió xuân tươi mới thổi vào đống lá thu yên bình. Các cô gái nhà Dering rất được quý mến và tham gia nhiệt tình vào những1 lễ hội trong lành ấy, mang theo những câu chuyện vui vẻ kể lại cho Ernestine nghe. Cô lắng nghe với một nụ cười điềm tĩnh, nhưng chưa từng có một thoáng mong muốn được hòa mình vào đó.
Không gì có thể làm cô hứng thú bằng những trải nghiệm mới mẻ và vẻ chững chạc vừa đến với Beatrice; hàng giờ liền, họ trò chuyện cùng nhau về những dự định mới và những tâm tư nhỏ bé dịu dàng mà Bea không đủ can đảm thổ lộ với ai khác. Trong khi đó, Ernestine được chèn gối ngồi tựa lưng, chăm chú lắng nghe và thỉnh thoảng lại giúp khâu một vài đường kim mũi chỉ lên những bộ trang phục cưới đang được chuẩn bị.
Một thời gian sau, khi đã đủ sức để trò chuyện nhiều hơn và bớt ho hơn, cô kể cho họ nghe về quãng đời lưu lạc của mình trong thời gian xa cách, và các cô gái không bao giờ quên ngày họ lắng nghe câu chuyện ấy. Cô đang nửa ngồi trên giường, làn da trắng nhợt nhạt như lớp vải lanh xếp nếp tựa tuyết xung quanh, mái tóc vàng óng ả vẫn uốn những lượn sóng và lọn xoăn quen thuộc ngày nào; đôi mắt đẹp với ánh nâu trong trẻo cùng hàng mi rậm, chiếc áo ngủ trắng ngót nghét viền ren tinh tế cài ở cổ bằng một mảnh san hô nhỏ mỏng manh dường như hắt chút sắc hồng kiều diễm lên gương mặt không chút tỳ vết của cô.
Đó là một khung cảnh gia đình thật êm đềm, khi các cô gái đang ngồi may vá trên những chiếc ghế bập bênh thấp, Olive đang phác thảo bên cửa sổ, bà Dering ngồi bên giường nắm lấy bàn tay Ernestine, và ánh nắng mùa thu rọi xuống tất cả họ thật ấm áp, dịu ngọt tựa như một lời ban phước đầy yêu thương; tiếng hót lanh lảnh của chú chim hoàng yến nhà Jeanie ở tầng dưới là âm thanh duy nhất vang lên, hòa cùng giọng nói trầm buồn và ngọt ngào trong cơn suy yếu của Ernestine.
"Chắc mọi người còn nhớ, con đã đi chuyến tàu nửa đêm," cô bắt đầu kể. "Mọi thứ thật khủng khiếp, và giữa bao nhiêu con người xung quanh, con cứ có cảm giác mình là kẻ cô độc duy nhất giữa đêm đen. Ôi, thật quá đỗi kinh hoàng khi cảm thấy đơn độc đến mức ấy, cứ như chẳng ai biết hay quan tâm xem mình đang đi đâu, hay bản thân đang vướng vào rắc rối tồi tệ nhường nào. Hầu như mọi người trên toa tàu đều đã chìm vào giấc ngủ, chỉ có duy nhất một người phụ nữ; thế là con ngồi xuống phía sau chị ấy, và suốt một hồi lâu, bản thân con quá đau khổ nên chẳng để ý gì đến chị ấy nữa; rồi đứa con trai nhỏ của chị thức dậy và bắt đầu khóc, đứa con gái nhỏ cũng khóc theo, và con nhận ra rằng chị đang ốm mệt hoặc có chuyện gì đó; thế nên chỉ lát sau, con lên tiếng hỏi xem mình có thể giúp gì được không. Ban đầu chị bảo không, nhưng sau đó lại nhờ con bồng giúp đứa bé một lát vì chị cảm thấy quá mệt và lả đi; con liền bồng lấy thằng bé, và nó ngạc nhiên đến mức nín bóc; rồi cô con gái nhỏ muốn sang chỗ ghế của con, con liền đỡ bé sang và bảo người phụ nữ nằm xuống bởi trông chị rất tái nhợt.
Con biết chị lấy làm ngạc nhiên vì thấy con đi một mình, và nghĩ rằng có lẽ chị sắp hỏi tên con; sau một hồi đắn đo, con quyết định dùng chính tên thật của mình, tên của — mẹ," cô nghẹn ngào một chút khi nhắc đến cái tên ấy. "Chẳng mấy chốc chị hỏi thật, bảo rằng con trông còn quá trẻ mà sao lại đi du lịch một mình; con liền đáp rằng mình là trẻ mồ côi, tên là Florence Clare, và đang trên đường đến New York; rồi chị nhìn con với ánh mắt đầy nhân hậu và quan tâm khiến con bật khóc nức nở. Con không sao kiềm chế được. Lúc đó chị không gặng hỏi gì thêm nữa, nhưng khi đến New York, không có ai ra đón chị, và chị vô cùng lo lắng. Chị hỏi con định đi đâu, và con sợ rằng nếu nói mình chẳng biết đi đâu thì chị sẽ nghĩ có điều gì đó bất ổn; thế là con đại một cái tên đường và số nhà, nhưng nói rằng nếu chị cần người đi theo phụ giúp thì con sẵn sàng đi cùng, bởi chẳng có ai đang mong đợi con ở đâu cả. Chị tỏ ra rất mừng, thế nên con bồng bọn trẻ ra ngoài, và sau khi một cảnh sát gọi xe cộ giúp chị, chúng tôi đến khách sạn St. Nicholas; chịổn định xong thì ngã bệnh nặng, và sau khi dỗ bọn trẻ ngủ, con đã thức trắng gần như suốt đêm để chăm sóc chị. Chị bảo mình là một góa phụ, đã viết thư cho một người bạn ở New York ra đón ở chuyến tàu đó, nhưng có lẽ người kia chưa nhận được thư; và rằng chị muốn tiếp tục đi Boston vào sáng hôm sau nếu sức khỏe cho phép. Con liền hỏi chị có muốn con đi cùng để chăm sóc bọn trẻ không, rằng con hoàn toàn cô độc trên cõi đời này và buộc phải tìm việc làm bằng cách này hay cách khác ở nơi nào đó; và sau khi hỏi con rất nhiều điều, chị bảo sẽ suy nghĩ lại. Chị trông có vẻ là một người phụ nữ vô cùng tốt bụng và hiền hậu, còn con lại sợ chị thấy ở mình có điều gì đó bất thường, nên con đã bịa ra câu chuyện sao cho nghe xuôi tai nhất có thể. Con nói mình đến thành phố vì nghĩ việc tìm kiếm việc làm sẽ dễ dàng hơn ở một nơi nhỏ bé, rằng con không còn người thân thích nào trên đời, và muốn đi cùng chị vì chị trông rất phúc hậu, với lại con chăm sóc trẻ con việc gì cũng được. Chị nhìn trang phục của con, nhưng đó chỉ là những bộ đồ giản dị nhất; rồi chị hỏi con mang theo hành lý gì, con liền đưa chiếc túi xách chỉ đựng vài bộ quần áo ra cho chị xem, và rồi chị bảo con trông có vẻ thật thà, nhưng lại quá trẻ và xinh đẹp để phải bơ vơ một mình giữa chốn thành thị, và rằng con nên đi cùng chị vào sáng hôm sau. Con chẳng biết mình sẽ xoay sở thế ra sao nếu không có chị, bởi khi ở trên tàu, con hoàn toàn mù tịt về việc mình sẽ đi đâu hay làm gì. Trước khi rời nhà, con đã cố gắng thả lỏng tâm trí, cố quên đi thân phận của mình, nhưng không tài nào làm được; đầu con cứ nhức buốt, và ngày qua ngày con tưởng như cơn đau càng dữ dội hơn để rồi chẳng mấy chốc con sẽ phát điên mất; rồi con nghĩ đến việc bỏ đi đến một nơi mà người ta không bao giờ tìm thấy, rồi chết ở xó xỉnh nào đó, và có thứ gì đó đã thôi thúc con đi. Con có cảm giác như mình đang bị kéo đi, và mỗi lần nghe thấy cô nào đó gọi 'mẹ', trong đầu con lại vang lên rằng người đó không phải mẹ của con, rằng các cô gái không phải chị em của con,
rồi đầu con lại đau nhức hơn bao giờ hết và con chẳng thể khóc nổi. Con nghĩ hẳn Chúa phải thương xót con lắm, và Ngài đã sai người phụ nữ ấy đến vì mục đích đó —" và khi Ernestine dừng lại để ho và lấy hơi, vài giọt nước mắt đã bị những người lắng nghe len lén lau đi, còn giọng bà Dering run lên khi bà ôm hôn người đang kể và nói:
"Ngài thực sự đã làm thế, con yêu ạ; hãy tin là như vậy, mẹ đã cầu xin Ngài che chở và dõi theo con dù con ở bất cứ nơi đâu, và mẹ biết Ngài sẽ làm thế."
"Con đã đi đến Boston cùng chị ấy," Ernestine tiếp lời sau một phút nghỉ ngơi. "Con biết mọi người sẽ không bao giờ tìm thấy con ở đó, và con cũng chẳng muốn biết rằng mọi người từng đi tìm mình; con biết chắc mọi người sẽ tìm, nhưng con không muốn nghe về điều đó. Một thời gian đầu, người phụ nữ ấy theo dõi con rất sát sao, và con biết chị vẫn có đôi chút hoài nghi, nhưng bọn trẻ lại quý mến con, và dẫu công việc có vắt kiệt sức lực đến suýt chết, con vẫn cắn răng chịu đựng. Con gắn bó với lũ trẻ liên tục, ngủ, ăn và đi chơi cùng chúng, giặt giũ, thay quần áo và chăm sóc chúng từ sáng đến tối mịt; và có những lúc con ước gì mình được chết đi cho rồi, bởi con quá mệt mỏi và bất hạnh. Con vốn không định ở lại với chị ấy, mà dự tính sẽ bước lên sân khấu kịch ngay khi có cơ hội, dẫu con chẳng bao giờ đọc báo và chẳng có cách nào dò tìm tên các đoàn kịch. Có lần con ngỏ ý muốn xem báo, nhưng chị ấy không thích điều đó; chị chưa bao giờ thực sự ác ý, nhưng luôn tỏ ra hơi dè chừng, và khi con hỏi xin tờ báo, chị liền hỏi con cần để làm gì? Con đã có một chỗ làm tốt và chẳng việc gì phải đọc báo cả. Con không dám nói thật vì sợ chị sẽ đuổi việc, nên đành nhẫn nại chờ đợi. Một hôm, con đang hát ru cho đứa nhỏ ngủ; đó là lần đầu tiên con cất tiếng hát trong nhà chị ấy, tình cờ chị nghe thấy, liền bước vào khen ngợi giọng hát của con, bảo rằng nó hay nhường nào và tại sao con lại không tận dụng thay vì vắt kiệt cuộc đời vào việc chăm bẵm trẻ con. Con liền đáp ngay rằng con rất muốn thế, và dự định sẽ đi theo nghiệp diễn viên ngay khi có thể; thế là chị tức giận, đe dọa sẽ tìm người giúp việc khác nếu con không từ bỏ ngay ý định ấy. Con hứa sẽ bỏ, nhưng rồi chẳng làm vậy; và vài ngày sau, khi đang đưa lũ trẻ ra ngoài chơi, con nhìn thấy một tấm quảng cáo tuyển năm mươi cô gái cho một vở kịch, và vừa về đến nhà, con liền tuyên bố mình sắp xin nghỉ việc. Chị ấy vô cùng tức giận và giữ lại tiền công tuần đó của con, nhưng con vẫn dứt áo ra đi, và ngày hôm sau con đến ứng thí theo tấm bảng quảng cáo. Đó là vai diễn múa cho các cô gái, con liền nói mình không biết múa và cũng không đời nào múa, và đang định quay bước ra về thì người quản lý bước vào ngăn con lại. Ông ta bắt đầu bằng những lời tán tỉnh ngớ ngẩn về vẻ đẹp của con, nhưng khi con quay lưng bỏ đi, ông ta liền xin lỗi và bảo con chính xác là nhân vật họ đang tìm cho vai nữ hoàng — một người bước ra từ đóa hoa và không phải nhảy múa gì cả, điều này rất hợp với con bởi con là kẻ quá đỗi kén chọn. Ban đầu con tưởng mình không bao giờ làm nổi, và ý nghĩ phải chen chúc giữa một chốn đông đúc như thế khiến con xấu hổ đến mức chỉ muốn giấu mặt đi vĩnh viễn. Nhưng ngặt nỗi con chẳng nhà cửa, chẳng tiền bạc,
thì biết xoay xở ra sao đây? Thế là con đặt bút ký hợp đồng diễn mười đêm, với thù lao năm mươi xu một đêm, và thầm nghĩ bản thân sẽ chẳng bao giờ còn dám đối mặt với mẹ hay bất kỳ cô gái nào nữa. Mọi chuyện không tồi tệ như con tưởng tượng, nhưng ôi chao, khác xa một trời một vực với những gì con từng nghĩ về sân khấu. Tất cả chúng tôi phải thay trang phục trong một căn phòng lạnh cắt da cắt thịt, hầu hết các cô gái đều vô cùng thô lỗ, cộc cằn, mở miệng ra là nói tiếng lóng, và họ đều ác cảm với con chỉ vì con được đóng vai nữ hoàng. Họ gọi con là 'cô nàng giả trân' và chế giễu bằng đủ mọi trò đùa thô tục khiến con có cảm giác mình sắp chết vì xấu hổ; con bị cảm lạnh ngay đêm diễn đầu tiên bởi sân khấu quá lộng gió mỏng manh như tơ, trong khi váy áo thì mỏng dính, cộng thêm nỗi bẽ bàng và khốn khổ giày vò. Con suýt chết đói trong suốt quãng thời gian ở đó vì thù lao quá bèo bọt, chẳng đủ tiền sưởi ấm trong căn phòng trọ tồi tàn, và nhiễm một trận cảm lạnh nặng đến mức tưởng chừng ho ra máu. Ôi, con mới khốn khổ làm sao! Con chỉ muốn chết đi, bởi con nghĩ mình đã trượt ngã xuống mức thấp hèn đến độ mọi người sẽ chẳng bao giờ mãi quan tâm đến con nữa, và chưa bao giờ con cảm thấy khao khát ơn trên đến thế. Con nghĩ trước kia mình chưa từng thực sự cầu nguyện thành kính lần nào, nhưng cảm giác cô độc đến tận cùng ấy cứ bủa vây như muốn giết chết con, thế nên con bắt đầu tìm đến Chúa, giống như cách con tìm đến mẹ vậy, và điều đó trở thành một nguồn an ủi lớn lao. Con muốn sống lương thiện và ngay thẳng dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, để cảm thấy mình vẫn còn quyền được yêu thương và nhớ về tất cả mọi người. Con ở lại đoàn kịch ấy suốt phần mùa đông còn lại với mức lương hai đô-la một tuần, làm đủ mọi thứ việc vặt không tên. Có lúc tham gia
với tư cách diễn viên đóng thế, có lúc làm người hầu hoặc mấy vai diễn mờ nhạt nào đó, và thường xuyên phải phụ trách phục trang cho các đào chính khi họ nhận ra con khéo tay. Người quản lý là một kẻ cộc cằn, thô lỗ, nhưng lại có một trái tim nhân hậu; và một thời gian sau, ông tỏ ra quan tâm đến con, nhất là khi chứng bệnh ho của con ngày càng trở nặng. Ông mang thuốc cho con uống hai lần, và có lần vào một buổi tối đã hỏi xem trước kia con có quen với kiểu sống thế này không. Con đáp là không, và từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào khác. Khi đoàn kịch giải thể vào mùa xuân, ông tìm giúp con một chân giúp việc trong một gia đình mà ông quen biết, đồng thời hứa hẹn rằng đến mùa thu, một người bạn của ông sẽ thành lập một đoàn nhạc kịch, và ông sẽ cố gắng đưa con vào đó, bởi qua quãng thời gian ấy, ông đã được nghe con hát và biết rằng ca hát mới là ước nguyện lớn nhất của con.
Con thấy thử thách làm bảo mẫu lần thứ hai khó khăn hơn lần đầu rất nhiều; vì gia đình có tới ba đứa trẻ, đứa nào cũng ương bướng và hay quấy khóc, đến khi mùa hè oi bức tràn về, con phải ngủ trong một căn gác xép nhỏ xíu áp mái và cái nóng thì khủng khiếp vô cùng. Con hầu như phải thức trắng mỗi đêm vì hai đứa nhỏ ngả bệnh nặng giữa những ngày nắng nóng đỉnh điểm, và mọi việc lớn nhỏ đều đổ dồn lên đầu con. Giữa cái nóng như thiêu đốt và khối lượng công việc quá sức, con đã kiệt sức và ngất xỉu vào một đêm nọ khi đang thức canh cô con gái nhỏ. Vị bác sĩ đã cảnh báo bà chủ rằng nếu không cho con nghỉ ngơi, con chắc chắn sẽ đổ bệnh và có lẽ sẽ chết gục tại nhà họ. Thế nên chỉ ít ngày sau, chị ta gửi con và đứa con gái lớn về nhà mẹ đẻ ở miền quê.
Con cảm thấy biết ơn và sung sướng vì được nghỉ ngơi đến mức chẳng thể nào quên được người phụ nữ ấy. Bà ngoại của chị là một cụ già quê mùa, tốt bụng, tỏ ra vô cùng thương xót cho hoàn cảnh của con, và ngày nào bà cũng quả quyết rằng con sẽ chẳng sống nổi qua năm sau, nhất là sau khi biết mẹ con qua đời vì bệnh lao phổi. Con chẳng bận tâm mình chết sớm hay muộn và đã nói thẳng với bà như vậy, để rồi bà nghĩ con là kẻ hư hỏng, bắt đầu thuyết giảng những bài dài dẵm cho con nghe, đồng thời pha chế cho con đủ loại thức uống và thuốc men kỳ lạ — những thứ này thực sự đem lại hiệu quả tốt hơn nhiều so với những lời giáo huấn, bởi chỉ sau ba tuần lưu lại đó, sức khỏe của con đã khá hơn hẳn, và Nettie cũng vậy; thế là chúng con quay lại thành phố, và con ở lại làm việc cho nhà Feathers mãi cho đến tận cuối tháng Tám.
Một ngày nọ, ông Fox, người quản lý cũ, ghé qua và dẫn theo ông Hurst — người bạn đang chuẩn bị thành lập đoàn kịch, và con đã hát cho ông ấy nghe. Ông rất ưng ý giọng hát của con, nhưng cho biết sẽ chưa ký hợp đồng chính thức cho đến khi con tập dượt cùng đoàn một hoặc hai lần để xem thực lực đến đâu, và bà Feathers đồng ý cho con tiếp tục giữ chỗ làm tại nhà cho đến khi có quyết định cuối cùng. Sau vài buổi tập, ông nhận con vào làm với mức lương bốn đô-la một tuần, thế là con rời nhà Feathers. Chị ấy thật tốt bụng, tặng con một chiếc váy mới cùng hai đô-la, lại còn dặn dò rằng nếu sức khỏe con gục ngã, thì bà ngoại của chị đã quý mến con và
rất muốn con quay lại đó nghỉ ngơi một thời gian. Con cảm xúc động đến mức vòng tay ôm lấy cổ chị mà khóc, và chị đã hôn lên trán con; con sẽ chẳng bao giờ quên được cảm giác tuyệt vời nhường nào khi thực sự được một người mang tấm lòng của một người mẹ — người mà con biết chắc chắn đang thương xót mình — ôm hôn trở lại.
Con đã trải qua quãng thời gian vô cùng gian khổ ở đoàn kịch mới. Người quản lý cau có, thô lỗ, và con phải vùi đầu học tập cật lực để bắt kịp các thành viên cũ; chúng tôi tập luyện căng thẳng và đều đặn, rồi lên đường vào tháng Chín, ban đầu chỉ ghé qua những thị trấn nhỏ và chẳng kiếm được bao nhiêu tiền, thế nên tiền lương của chúng tôi thường xuyên bị chậm trả. Chẳng bao lâu sau, con được cất nhắc từ nhóm hát hợp xướng lên đảm nhận các vai diễn có tính cách, ngặt nỗi con chẳng có đồng nào để sắm trang phục diễn, vì thế người quản lý đành trả trước mười lăm đô-la tiền công còn nợ và ứng trước mười đô-la —"
Đến đây, Olive thở dài một tiếng đầy phẫn uất nhưng rồi kìm lại không nói gì khi suy nghĩ kỹ; còn Ernestine tiếp tục câu chuyện mà không màng đến quãng ngắt quãng ấy.
“Con dùng một phần số tiền đó để mua trang phục diễn, phần còn lại để chuộc lại chiếc nhẫn mà mẹ đã tặng con, món đồ mà con buộc phải đem đi cầm cố để trả tiền trọ; nhưng trong lúc con đang làm việc trừ dần khoản nợ mười đô-la cho ông ta, con lại phải đem nó đi cầm một lần nữa, cùng với một chiếc váy của mình, vì trong túi không còn xu dính túi. Chúng tôi lưu diễn miền Nam và dừng chân ở Virginia vài đêm trước khi đến Staunton, và khi nghe tin đoàn sẽ tới đó, con có cảm giác như
mình không tài nào chịu đựng nổi! Con chẳng biết Jean đã ở đó chưa và cũng chẳng trông mong cô ấy sẽ tới xem ca kịch nếu có mặt ở đó; nhưng việc đặt chân đến nơi ấy, có lẽ chỉ cách cô ấy trong gang tấc — trong khi con đã từng ao ước được chết đi chỉ để được nhìn thấy hoặc nghe ngóng tin tức từ một trong số mọi người bằng cách nào đó — ôi, thật quá đỗi chua xót! Người quản lý tỏ ra vô cùng bực bội và thiếu kiên nhẫn vì con ho quá nhiều và cơ thể kiệt quệ, thậm chí còn đe dọa sa thải vì con sắp trở thành kẻ vô tích sự; thế nên con thường phải tự kìm nén đến mức suýt nghẹt thở mỗi khi cơn ho chực trào, và chẳng bao giờ dám hé miệng kêu mệt thêm lần nào nữa. Đúng buổi tối đoàn đặt chân đến Staunton, cô Downs, một trong các đào chính, bỗng đột ngột đổ bệnh nặng, và người quản lý thông báo con sẽ phải thay thế vai diễn của cô ấy vào tối hôm sau trong vở 'The Bohemian Girl'. Con đã thức trắng gần như suốt đêm để học kịch bản, và hát suốt cả ngày hôm sau cho đến lúc tưởng chừng khuỵu xuống. Khi đến giờ ra nhà hát, con mệt lả đến mức không đứng vững nổi để mặc trang phục; con van xin mọi người đừng báo cho người quản lý biết vì thừa biết ông ta sẽ đuổi việc mình ngay lập tức; nhưng phu nhân T—— hay tin đã sai người hầu mang lên cho con một ly whisky nóng pha mật ong, đồng thời phụ giúp con thay đồ, và đó là cách mà con bước ra sân khấu vào đêm hôm ấy.
Mọi người đều biết phần còn lại của câu chuyện rồi đấy. Từ khoảnh khắc con cảm thấy giọng hát của mình lịm dần đi và vạn vật trước mắt chìm vào bóng tối, con chẳng còn biết trời đất là gì nữa, cho đến khi mở bừng mắt ra và nhìn thấy Olive! Ôi, chắc mẩm lúc ấy con đang ở trên Thiên đàng,
mọi thứ cứ như một giấc mơ quá ngọt ngào để có thật. Thật kỳ diệu là con đã không chết đi mà chỉ ngất xỉu vì quá đỗi vui sướng. Ngay cả sau khi đã ngắm nhìn chị ấy lâu lắc, đã nghe tiếng chị nói và cảm nhận những nụ hôn của chị, con vẫn không dám tin đó là sự thật. Con cứ ngỡ mình sắp tỉnh giấc và nhận ra bản thân đang ngủ gật giữa các màn diễn trên sân khấu lạnh lẽo, lộng gió, hoặc sẽ bị người quản lý mắng mỏ vì tội dám ngủ quên và mơ mộng về hạnh phúc cùng mọi người. Con nghĩ mình chẳng thể sống nổi thêm bao lâu nữa, và có lẽ khi nhận ra bản thân thực sự sắp chết, con cũng không thể rời bỏ mọi người mà không để lại một lời nhắn nhủ nào đó, bởi trái tim con đã từng quặn thắt vì khao khát được biết liệu mọi người còn yêu thương mình hay có bao giờ muốn gặp lại con nữa không. Con chưa từng cảm thấy bản thân có quyền quay về, nhưng khi nhận ra mình đang được đón về, rằng mọi người vẫn mong mỏi và yêu thương con, ôi mẹ ơi! Lúc đó con tưởng chừng trái tim mình sẽ vỡ tung vì quá đỗi hạnh phúc!"
Đến đây thì tất cả mọi người đều òa khóc. Bà Dering úp mặt vào những chiếc gối; các cô gái lần lượt quay đi khuất sau những luống vải đang may, còn Kat, với cái đầu quấn chặt trong chiếc khăn tay cô vừa viền xong, nức nở khóc trong khi thề sẽ trút giận lên tất cả mọi kẻ từ thánh nhân cho tới tội đồ.
Quay lại mục lục