Vào ngày tang lễ, mặt trời ló dạng, rọi những tia nắng ấm áp và rạng rỡ như mùa xuân lên mặt đất lạnh lẽo, xám xịt, rồi len lỏi qua những khung cửa sổ rộng mở với một nụ cười tươi vui, hệt như chẳng có nỗi buồn nào đang phủ bóng đen lên ngôi nhà và làm dịu đi những giọng nói vui tươi.
Đã bao lần trong ba ngày đau thương đè nặng ấy, khi mà cả thể xác lẫn tinh thần dường như đều bất lực trước mọi việc, Ernestine lại thầm nghĩ một cách mơ hồ và đầy kinh ngạc về chính lời nói của mình: "Không biết Olive giỏi giang chuyện gì nữa, nó chẳng an ủi được ai cả." Chà, ngay cả bản thân cô, người đang run rẩy và tái mét, lại phải bấu víu vào Olive; Bea cũng tìm đến em; bà Dering hướng về tất cả mọi người để tìm kiếm sự an ủi, nhưng riêng với Olive là để nhờ cậy sự giúp đỡ và lời khuyên; Huldah đến gặp cô để nhận chỉ thị; những vị khách đến thăm với nhã ý mang theo hoa và ngỏ lời giúp đỡ đều gặp cô, và khi được hỏi, tất cả đều đáp: "Hãy hỏi Olive, con bé sẽ chỉ cho cô biết"; "Olive đâu rồi?"; "Olive rành mọi chuyện lắm, đừng làm phiền mẹ nhé"; và thế đấy, có lẽ chỉ cần một lần thiếu vắng Olive, ngôi nhà này sẽ cảm nhận rõ ràng nhất sự thiếu hụt lớn nhường nào.
Vào buổi tối của ngày cuối cùng ấy, khi mọi lời từ biệt đau đớn đã qua đi và gia đình tang gia bối rối trở về ngôi nhà nay đã đượm buồn; có một người lạ bước vào Canfield, và sau khi dò hỏi đường đi, liền sải bước quả quyết hướng thẳng đến ngôi nhà của gia đình Dering. Khi toàn bộ những tán lá rậm rạp đã rụng hết, Jean nhìn thấy ông đang bước qua cổng liền quay đi khỏi cửa sổ.
"Có ai đang đến kìa, Olive," và Olive vừa kịp đến cửa thì vị khách lạ cũng vừa với tay giật hụt cái chuông đã bị quấn vải. Ông là một cụ ông có vẻ ngoài kỳ lạ, thẳng người như cây cột mốc, ăn mặc cực kỳ chỉnh tề, và đang nhìn cô bằng đôi mắt xám sắc lạnh ẩn bên dưới hàng lông mày rậm rì.
"Bà Dering có nhà không?" ông hỏi kèm theo một cú gõ gậy xuống thềm.
"Dạ có, thưa ông, nhưng..."
"Được rồi, tôi chỉ cần biết thế thôi, mấy chuyện còn lại tôi sẽ hỏi sau khi bước vào trong," và nhấn mạnh các từ ấy bằng một tiếng gõ gậy sắc bén khác, ông hiên ngang bước thẳng vào nhà.
"Nhưng thưa ông, mẹ cháu không thể tiếp ông vào tối nay được đâu ạ," Olive nói, có chút giật mình nhưng vẫn cất giọng kiên quyết, tay giữ nguyên cánh cửa mở rộng.
"Thôi nào, thôi nào! Tôi không lặn lội ba trăm dặm đường để rồi bị đuổi ra cái đêm thế này đâu. Nào, cô gái trẻ, hãy dẫn đường đến chỗ nào có lửa ấm và ánh sáng, rồi mang tấm danh thiếp này vào cho mẹ cô; nếu bà ấy không chịu tiếp tôi, thì cứ sắm cho tôi một chiếc giường thật thoải mái, tôi sẽ đợi đến sáng để gặp bà ấy."
Olive bắt đầu cảm thấy mình chẳng có mấy quyền quyết định trong chuyện này, vả lại, động tác nện gậy xuống sàn cùng ánh mắt quá đỗi hung dữ của ông khiến cô nghĩ rằng có lẽ ông là một kẻ tâm thần trốn trại, và tốt hơn hết là nên chiều ý ông. Thế là cô đành dẫn đường vào phòng khách, khêu lò sưởi cho đến khi ngọn lửa bùng lên rực sáng. Vị cụ ông liền ngồi xuống, nhưng rồi chợt giật phắt đầu lại nhanh chóng khi nghe tiếng nạng của Jean vang lên ngoài hành lang lúc cô bé đang lùi bước rời đi.
"Ha, hum; lại đây nào cô bé nhỏ;" và giọng nói vốn sắc bén, thô ráp của ông bỗng dịu đi một cách kỳ lạ; nhưng Jean chỉ ngước gương mặt nhỏ nhắn, tái nhợt và đẫm nước mắt lên trong chốc lát rồi biến mất; nhân cơ hội ấy, ông rút ra một chiếc khăn tay lụa màu đỏ sẫm, hỉ mũi một cách dữ dội, rồi quay sang Olive hệt như thể ông đang chực chờ nuốt chửng cô ngay lập tức với tấm danh thiếp trên tay.
"Nào cô gái, cầm lấy cái này đưa cho mẹ cô và đi cho nhanh lên."
Olive cầm lấy và vô thức liếc mắt nhìn cái tên trên đó—
"ROGER RIDLEY CONGREVE."
Ngay cả cụ ông cũng phải giật mình khi cô ngước lên, bởi vì dẫu khuôn mặt cô lúc trước vốn dĩ đã tái nhợt, thì giờ đây nó lại xám ngoét như tro tàn, và đôi mắt cô đang trừng trừng nhìn ông hệt như một con sư tử cái tơ bị dồn vào chân tường. Có chút sửng sốt, ông lão đứng dậy và tiến lại gần cô; nhưng cô giật lùi lại, ném tấm danh thiếp xuống dưới chân ông, nghẹn ngào thốt lên với một cử chỉ hoảng loạn bằng cả hai tay:
"Đi đi, đi đi, đừng chạm vào tôi,—ôi, sao tôi căm ghét ông đến thế!" rồi lao vụt qua cửa hệt như vừa trúng đạn.
"Trời phù hộ tôi!" người đàn ông kinh ngạc kêu lên, ngã quỵ xuống ghế và cất lời than thở với đống lửa trong lò bằng một vẻ đầy sửng sốt. "Nếu mà ta từng thấy chuyện gì thế này cơ chứ,—hộp đựng thuốc hít của ta đâu rồi,—chắc chắn là ta chưa bao giờ thấy! Triệu chứng thần kinh đây mà, phải chú ý mới được; đôi mắt đẹp đấy, nhưng là một cô bé dữ dội thật; hừm, ha!—ta cứ ngồi đây cho đến khi có ai đó xuất hiện vậy."
Tiếng động của vài người ở căn phòng phía trên cho thấy các thành viên trong gia đình đang tụ họp ở đó; quả thực là vậy, họ đang ngồi quây quần bên mẹ, cảm thấy gắn bó và gần gũi hơn bao giờ hết trong nỗi đau chung, từng người một chậm rãi lau khô dòng nước mắt khi trìu mến nhắc về người đã khuất, cố gắng thấu hiểu và sẻ chia cảm giác như mẹ, rằng người cha không hề mất đi, mà chỉ là về nhà sớm hơn họ một chút.
Bước vào nhóm người tràn ngập sự bình yên và yêu thương ấy là Olive, với đôi môi tái nhợt và ánh mắt đầy kích động. Chỉ vài phút sau, ở căn phòng tầng dưới, cụ ông đang ngồi chờ bỗng đứng bật dậy khi cánh cửa mở ra và một người phụ nữ bước về phía ông. Đúng vào khoãng không gian ngắn ngủi giữa hai người, ông dò xét bà với một sự tập trung gần như dữ dội, và cuộc khảo sát ấy kết thúc bằng một tiếng "hừm" mang theo chút sửng sốt khi bà dừng lại trước mặt ông, cúi đầu nhẹ nhàng nhưng vẫn giữ đúng sự kính trọng dành cho tuổi tác của ông.
"Ông Congreve. Mời ông ngồi ạ."
"Hừm! Thường thì tôi sẽ ngồi," và ông ngồi xuống, có lẽ với lực mạnh hơn mức cần thiết, nhưng dẫu sao thì ông đang bị kích động mà.
"Tôi đến quá trễ để dự đám tang của Robert, tôi nghe thế," ông nói ngay sau đó, cộc cằn và trống không hệt như thể bà mới là người phải chịu trách nhiệm cho việc đó và ông đến để đọc một bài giáo huấn.
"Vâng, thưa ông, trễ mất mấy tiếng đồng hồ."
"Hừm! Cái chết của nó quá đột ngột."
"Quả thật rất đột ngột."
"Hừm!"
Rõ ràng là ông Congreve không biết chính xác mình nên nói gì tiếp theo. Ông vốn không hề hình dung ra một kiểu góa phụ thế này; trong tâm trí ông vẽ ra hình ảnh một người chìm ngập trong vải tang đen sì, với gương mặt đẫm lệ và thảm hại, người mà sẽ hét lên khi nhìn thấy ông, lao vào cổ ông — thay vì nhắm vào ví tiền của ông —, rồi thở dốc đầy kịch tính: "Ôi, chú Ridley thân yêu ơi, giờ thì mọi rắc rối của cháu đã chấm dứt rồi đây," để rồi sau đó ông sẽ phải dỗ dành cho nàng nín khóc — trong khi chẳng có gì trên đời này, chỉ sau việc mộng du bước ra khỏi cửa sổ, mà ông lại khiếp sợ hơn một người phụ nữ khóc lóc; rồi ông sẽ phải hôn tất cả lũ trẻ, và ông phản đối cái màn áp môi đó đến mức sau khi thực hiện xong, trông ông chẳng khác nào vừa nuốt trọn nửa cân quả sấu chua.
Thế mà giờ đây lại xuất hiện một thực tế dễ chịu nhưng cũng đầy sửng sốt: chẳng có ai thèm đòi hôn ông cả, và người phụ nữ có gương mặt ngọt ngào, tái nhợt, với ánh mắt điềm tĩnh cùng bờ môi cương quyết này lại chính là người vợ góa của Robert mà ông sẽ phải trò chuyện; và hiển nhiên là nếu ông có điều gì muốn nói, bà đang điềm tĩnh chờ đợi để lắng nghe.
"Cô có một gia đình khá đông con đấy,—thưa phu nhân," ông nói, vội vã chen vào để phá vỡ sự im lặng.
"Vâng, thưa ông, sáu cô con gái."
"Sáu! Chúa tôi,—sáu đứa con gái cơ à," và ông Congreve vội vàng nhón một nhúm thuốc hít để trấn tĩnh thần kinh. "Thật đáng kinh ngạc, tôi phải công nhận đấy. Tiếc thật, giá mà chúng là con trai — thì tuyệt biết mấy."
"Tôi không muốn mọi thứ khác đi so với hiện tại đâu, thưa ông."
"Hừm! Thôi được, chúng là gánh nặng của cô, chứ có phải của tôi đâu," ông lão cáu kỉnh nói, cựa quậy đầy khó chịu trên ghế.
"Một gánh nặng mà tôi hạnh phúc và biết ơn khi được gánh vác, nếu quả thực đó là gánh nặng," người góa phụ điềm tĩnh đáp. "Tôi cảm thấy biết ơn vì tất cả chúng đều là con của tôi, là niềm an ủi và sự giúp đỡ của tôi trong mọi hoàn cảnh."
"Có một đứa bị thọt chân, phải không?" và khi nói, giọng ông lão bỗng dịu lại, y như lúc ông gọi Jean.
"Vâng, thưa ông, đứa út nhà tôi, bị thọt từ khi còn bồng bế."
Ông Congreve lại phải nhờ đến chiếc khăn tay, vung vẩy nhữngếp vải đỏ qua lại đầy vẻ bấn loạn trong vài giây, rồi khi nhét nó trở lại chiếc túi rộng thùng thình và hếch mũi một hay hai lần như để thách thức một nỗi bão giông nào đó trong lòng, bà Dering chợt nhớ ra rằng ngày trước ông cũng từng có một cô con gái nhỏ bị thọt chân, và đứa bé đã qua đời trước khi kịp trưởng thành.
Ông đang chăm chú nhìn bà, và giờ đây khi bà ngước mắt lên, ánh nhìn đã trở nên dịu lại bởi ký ức bất chợt ấy, ông liền chồm dậy khỏi ghế và nện mạnh cây gậy xuống tấm thảm lò sưởi.
"Elizabeth Dering, cô không phải là người phụ nữ như tôi vẫn tưởng. Cô chẳng giống cha cô chút nào, và tôi mừng vì điều đó. Tôi đến đây để đề nghị giúp đỡ cô, bởi vì tôi biết chắc chắn rằng Robert đang gặp rắc rối, và tôi thấy rằng cô cũng chẳng vui vẻ gì khi gặp tôi, hệt như cảm giác của tôi khi sắp phải đối mặt với cô vậy. Việc tôi giận dữ với đứa cháu trai của mình suốt bao nhiêu năm qua, cô thừa biết rõ, nhưng chẳng ích gì khi chối cãi rằng cái chết đột ngột của nó đã chạm đến cõi lòng tôi, và tôi muốn làm điều gì đó cho gia đình nó. Đêm nay cô không có tâm trạng để nói chuyện, tôi cũng vậy; thế nên nếu cô chỉ phòng cho tôi, tôi sẽ lui về nghỉ ngơi ngay lập tức."
Bà Dering cũng đứng dậy, vẻ nhẹ nhõm hằn rõ trên khuôn mặt, và sau khi biết rằng ông đã dùng bữa tối sớm trước khi rời thành phố, bà cáo phép đi chuẩn bị chỗ nghỉ ngơi cho ông trong đêm.
Vài giờ sau, khi cả nhà đã chìm vào giấc ngủ để quên đi nỗi buồn, và chẳng còn gì phá vỡ sự tĩnh mịch của màn đêm ngoài tiếng ếch nhái kêu lác đác cùng tiếng thở dài cô quạnh của cơn gió lùa qua những tán cây trụi lá, có hai con người lại thấy vô cùng khó ngủ.
Trong phòng của bà Dering, đống lửa trong lò chỉ còn là những tàn than lụi tắp, và ngồi trên chiếc ghế thấp trước lò sưởi là người mẹ, người góa phụ với gương mặt tái nhợt, giờ đây chẳng cần phải che giấu nỗi đau của mình vì sợ làm những trái tim khác tổn thương, bởi xung quanh chẳng có ai ngoài Jean, và cô bé đang ngủ say sưa, quên đi nỗi buồn trong cõi mịt mờ của những giấc mơ. Thế nên, lần đầu tiên cảm nhận được sự tự do của những giọt nước mắt, trái tim tội nghiệp và đau buốt ấy đã phá vỡ lớp vỏ bọc kiềm chế nghiêm ngặt, giấu khuôn mặt vào lòng bàn tay, người phụ nữ đau khổ oà khóc. Bà vừa khóc vừa cầu nguyện, để những giọt nước mắt lăn dài trên má, mong rằng chúng không rơi trong sự cay đắng hay nổi loạn, và mong rằng trái tim bà, dẫu xuyên qua mọi đớn đau, vẫn có thể cảm nhận và thấu hiểu rằng: "Điều gì đang xảy ra, đó là điều tốt nhất."
Khi cơn giận dữ của nỗi đau đã vơi bớt và bà có thể ngước mặt lên để điềm tĩnh nhìn nhận mất mát cùng những trách nhiệm mới, lời cầu nguyện không thốt nên lời trong tim bà là: "Lạy Chúa, xin giúp con; con không thể một mình xoay sở; xin cho con biết phải làm gì; xin giúp con suy nghĩ và hành động đúng đắn, đồng thời củng cố niềm tin đang run rẩy của con, để dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, con vẫn có thể thốt lên rằng: 'Chúa biết đó là điều tốt nhất'."
Ngay trong lúc bà đang cầu nguyện, sự trợ giúp đã đến với bà, bởi vì Olive không sao ngủ được, và linh cảm rằng mẹ mình vẫn thức, con bé đã rón rén bước vào và giờ đang đứng cạnh bà.
"Mẹ ơi, con cũng không ngủ được; để con ở lại với mẹ nhé."
"Olive, con bé của mẹ, đã qua nửa đêm rồi cơ mà."
"Con biết thưa mẹ," vừa nói, Olive vừa đẩy một chiếc ghế đẩu đến sát chân mẹ rồi ngồi xuống, bởi vì một nét gì đó trong giọng nói của mẹ đã khẳng định với cô rằng sự hiện diện của mình được chào đón.
"Sao con lại không ngủ được thế, con yêu?"
"Con suy nghĩ vẩn vơ," Olive nghiêm nghị đáp. "Và con muốn trò chuyện với mẹ, thưa mẹ, khi chỉ có hai mẹ con mình."
"Ừ, con yêu."
"Mẹ kể cho con nghe về ông Congreve được không ạ?"
Câu hỏi ấy không xuất phát từ sự tò mò; mẹ cô thừa biết điều đó; thế nên, nhìn xuống gương mặt đang đượm vẻ trầm tư, nghiêm nghị, cô hạ thấp giọng và bắt đầu:
"Ông Congreve đã nhận nuôi bố khi bố mồ côi lúc lên tám tuổi, và nuôi dưỡng bố với kỳ vọng sẽ biến bố thành người thừa kế, bởi ông ấy rất giàu có. Khi ông Congreve và bố còn nhỏ, họ là những người bạn rất thân; nhưng đến khi bước vào tuổi trưởng thành, giữa họ lại xảy ra một trận cãi vã cay đắng chưa bao giờ được tha thứ từ cả hai phía, và kể từ đó họ căm ghét nhau một cách dữ dội. Khi ông Congreve phát hiện ra đứa cháu trai của mình đang yêu con gái của kẻ thù đời mình, ông đã nổi trận lôi đình. Bố cũng phản đối cuộc hôn nhân ấy, nhưng không hề cay đắng và mất khôn như kẻ thù của ông. Bố đã bị đe dọa, bị van xin, và bị thề thốt đủ điều; nhưng trong khi vẫn giữ vững lập tức kết hôn với con, bố thực sự rất yêu người chú nóng tính của mình và không muốn công khai nổi loạn. Tuy nhiên, động thái cuối cùng của ông Congreve đã vượt quá sức chịu đựng của bố. Ông ấy đã nhốt bố lại. Dĩ nhiên, một người đàn ông đã trưởng thành và có lý trí chẳng thể nào chịu đựng nổi sự sỉ nhục như thế, thế nên, trốn thoát vào ban đêm, bố ra đi mà không để lại bất kỳ lời từ giã nào và từ đó đến nay chỉ gặp lại chú mình đúng một lần duy nhất.
Ít lâu sau khi chúng ta kết hôn, chúng ta nhận được một lá thư từ ông ấy, rất ngắn gọn và cay đắng, nói rằng bố có thể tự do bước đi trên con đường mình đã chọn mà không bị ai quấy rầy; rằng chúng ta đối với ông chẳng khác nào người dưng nước lã, và bản di chúc mới của ông đã để lại toàn bộ tài sản cho đứa con của một người họ hàng, một kẻ mang tên trùng với ông ta: Roger Ridley Congreve. Giờ đây ông ấy nói rằng khi nhìn thấy cáo phu của bố trên báo, ông đã cảm động và muốn đến giúp đỡ chúng ta, mặc dù con chẳng hiểu sao ông ấy lại biết chúng ta đang cần giúp."
"Mẹ thì biết, Olive ạ."
"Mẹ biết ư?"
"Vâng, thưa mẹ." Những ngón tay của Olive đan chặt vào nhau đầy căng thẳng và đôi mắt cô bừng lên ngọn lửa giận khi cô dời ánh nhìn từ đống lửa nhỏ trong lò lên gương mặt mẹ. "Con biết tất cả mọi chuyện, thưa mẹ. Mẹ có nhớ đêm con trò chuyện với bố trong phòng làm việc khoảng hai tháng trước không?"
"Có."
"Vâng, đêm đó bố đã kể cho con nghe rất nhiều điều về công việc làm ăn mà bố chưa từng nói với mẹ, vì bố bảo không muốn làm mẹ lo lắng trừ khi bắt buộc; bố có một khoản kỳ phiếu sáu ngàn đô la phải thanh toán trong vòng sáu mươi ngày, và bố đang tìm mọi cách để xoay sở mà không phải đụng đến số tiền của mẹ trong ngân hàng. Bố bảo nếu không trả nổi, cửa hàng sẽ mất, nhưng ngôi nhà là của chúng ta và tuyệt đối không được để mất vì những khoản nợ của bố.
Chỉ vài ngày trước, một bức thư được gửi đến, và bố chộp lấy nó vội vã đến mức con biết chắc đó là chuyện cực kỳ quan trọng; bức thư rất ngắn, và khi đọc xong, bố gục đầu xuống rên rỉ. Bố không hề biết con ở gần đó, và lúc ấy con đã không lên tiếng, nhưng bức thư đó cứ ám ảnh con mãi cho đến tận hôm qua, lúc mẹ tưởng con đang ngủ, con đã ra cửa hàng và tìm thấy nó trong ngăn kéo riêng của bố. Ôi mẹ ơi, thư của ông Congreve đấy ạ, ngắn ngủn và tàn nhẫn đến mức cay độc, ôi, cay đắng làm sao, và con đã xé nát nó ra thành trăm mảnh rồi đem đốt đi, định bụng sẽ không bao giờ kể cho mẹ nghe, ít ra là trong một thời gian nữa. Ông ta từ chối cho bố vay dù chỉ một xu, và bảo rằng ông ta chẳng thèm bận tâm nếu bố mất cả cơ nghiệp lẫn nhà cửa. Lúc đọc nó, con tin rằng mình suýt chút nữa đã có thể giết quách ông ta rồi.
Tối nay khi ông ta đến và đưa danh thiếp cho con, con đã ném nó thẳng vào mặt ông ta và bảo rằng con căm ghét ông ta!"
"Olive! Olive!"
"Con có, con có đấy, và con thấy hả dạ lắm; con cảm thấy nghẹt thở khi phải ngủ dưới một mái nhà với ông ta đêm nay, và con chẳng bao giờ muốn nhìn mặt ông ta thêm lần nào nữa. Con thà cày cuốc đến mòn cả móng tay còn hơn là để mẹ cầm dù chỉ một xu tiền của ông ta hay để ông ta giúp đỡ chúng ta dưới bất kỳ hình thức nào," Olive kích động kêu lên, suýt quên mất cả gia đình đang ngủ say vì sự phẫn nộ trong lòng.
Bà Dering đưa tay lên ôm đầu, hoàn toàn hoang mang trước tin tức bất ngờ, và Olive nhìn thấy, thấu hiểu cái vẻ lo lắng đầy sửng sốt đang hằn trên gương mặt mẹ.
"Bây giờ chúng ta nghèo lắm phải không mẹ?"
"Đúng vậy con ạ, đúng vậy; thực sự là mẹ đang vô cùng bối rối," bà Dering lo lắng thốt lên. "Con vừa bảo là sáu mươi ngày phải không, Olive?"
"Vâng thưa mẹ, thời hạn sẽ hết vào thứ Sáu tuần tới."
"Có thể như thế được sao? Chúng ta phải làm sao đây!"
"Chẳng lẽ việc để mất nó là điều duy nhất chúng ta có thể làm sao mẹ?" Olive hỏi.
"Mẹ đoán thế, nhưng quả thật mẹ chẳng thể suy nghĩ nổi, mọi thứ diễn ra quá đột ngột," và gương mặt đầy buồn bã, lo âu của bà đã phản chiếu chính xác những lời bà vừa nói.
"Con đã nghĩ về chuyện này từ lâu lắm rồi," Olive nói như thể trút được gánh nặng khi được nói lên suy nghĩ của mình. "Ngôi nhà là của chúng ta, và mẹ còn bốn ngàn trong ngân hàng. Con thấy ngần đó có vẻ hơi ít cho bảy người sinh sống, nhưng tất cả chúng ta đều khỏe mạnh, lành lặn và có thể lao động."
"Đúng thế, ai cũng khỏe mạnh, lành lặn trừ Jean," và ánh mắt bà Dering đượm vẻ xót xa hướng về khuôn mặt nhỏ nhắn đang say ngủ trên gối. "Con bé sẽ bị bỏ bê theo nhiều cách, nếu nhà cửa tan vỡ và tay chân, công sức của mỗi người đều phải bận bịu vì kẻ khác."
"Trời đất ơi," Olive đầy hối hận kêu lên. "Sao con lại có thể quên mất em ấy cơ chứ! Giờ thì lại có thêm một chuyện phải nghĩ ngợi rồi."
"Nhưng con không được suy nghĩ thêm gì nữa trong đêm nay, con yêu ạ, mẹ cũng thế, kẻo chúng ta chẳng còn chút sức lực nào cho công việc và những toan tính ngày mai. Đi ngủ đi con, và hãy nhớ rằng: Chúa sẽ không thử thách chúng ta vượt quá sức chịu đựng; chúng ta chỉ phải làm những gì tốt nhất có thể, và phần còn lại, Ngài sẽ mở lối cho chúng ta. Chúc con ngủ ngon, con yêu."
Sáng hôm sau, sau bữa điểm tâm, ông Congreve đứng đeo găng tay và săm soi sáu cô con gái từ dưới cặp lông mày rậm rạp, hung dữ của mình. Thoáng có vẻ gì đó gần như sự thích thú trong ánh nhìn dò xét khi nó lướt từ gương mặt này sang gương mặt khác.
Dù nghĩ gì trong đầu, ông không thốt thành lời mà chỉ chộp lấy cây gậy, rồi cúi người xuống chỗ Jean đang nằm trên ghế dài và thì thầm thứ gì đó vào tai con bé. Chắc hẳn đó phải là một điều kỳ diệu lắm, bởi vì Jean liền đứng dậy, cầm lấy khăn choàng cùng chiếc nạng rồi cùng ông rảo bước ra tận cổng. Tại đó, những cô con gái đang hết sức ngạc nhiên — những người vừa nhao cả ra cửa sổ — đã chứng kiến họ dừng lại. Cụ ông bế xốc Jean đặt lên trụ cổng, quàng khăn choàng lên đầu con bé và bắt đầu trò chuyện một cách nghiêm túc.
Kittie lùi lại phía sau, kinh ngạc kêu lên: "Các cậu có bao giờ thấy thế chưa! Tớ cứ tưởng con bé sợ ông ta cơ đấy!"

"Em ấy là người duy nhất được ông ấy nhìn bằng ánh mắt dịu dàng," Bea nói, trong giọng nói phảng phất chút hờn dỗi. "Từ trước đến nay ông ấy luôn hung dữ và kỳ quặc thế hả mẹ?"
"Lúc nào cũng vậy," bà Dering, người đang đứng quan sát từ một khung cửa sổ khác, đáp. "Ông ấy có một trái tim nhân hậu, nhưng lại sở hữu một tính khí cực kỳ bạo liệt mà dường như ông chẳng tài nào kìm chế nổi.
Nếu bị cản trở hay chọc tức, ông ấy chẳng từ một thủ đoạn nào, nhưng hầu như ngay sau đó, ông lại hối hận về những hành động bồng bột của mình, và thỉnh thoảng, nếu tâm trạng hứng khởi, chẳng có việc gì mà ông không chịu làm để chuộc lỗi."
Olive hiểu rằng lời giải thích ngắn gọn này là dành riêng cho mình, liền mím chặt môi lại. Ngay lập tức, Kate thốt lên: "Lúc được giới thiệu, cậu chẳng thèm nhìn ông ấy lấy một cái, Olive ạ; chứ nếu cậu mà thấy cái cách ông ấy cau mày trừng trừng nhìn cậu, cậu đã run như cầy sấy lên rồi."
"Tớ mặc kệ ông ấy nhìn thế nào hay cau mày dữ dội ra sao. Tớ không thích ông ấy, và tớ ước gì ông ấy quay quắt về lại Virginia cho rồi."
"Nếu không keo kiệt như một lão hà tiện, thế nào ông ấy cũng cho chúng ta ít quà, và biết đâu còn mời chúng ta đến thăm nhà ông ấy nữa chứ," Ernestine nói. Trông cô nàng có vẻ bơ phờ, tái nhợt vì khóc lóc quá nhiều và dữ dội, và dường như là người duy nhất không cố gắng tỏ ra vui vẻ vì lợi ích của những người khác.
Cụ ông bế Jean đặt lên trụ cổng.
"Tớ rất muốn biết nơi bố đã sống thời niên thiếu trông ra sao, nhưng tớ chẳng màng đến việc có mặt ông Congreve ở đó đâu," Bea nói. Sáng hôm ấy, cô bắt đầu trở nên ra dáng người lớn hơn thường lệ khi gánh vác thay mẹ nhiệm vụ pha cà phê.
Từ bên cửa sổ, Kittie reo lên: "Ông ấy đi rồi kìa! Giờ thì đến màn bật mí bí mật nhé! Jean ơi, ông ấy nói gì thế?"
"Tớ không được phép nói," Jean đáp, trông có vẻ vô cùng phấn khích nhưng cũng khá tái nhợt khi bước nhanh vào nhà. Sau đó, con bé lại khiến tất cả ngạc nhiên hơn nữa khi vùi mặt vào tà áo của bà Dering và oà khóc nức nở.
Kat từ trên ghế vùng đứng dậy, kích động hỏi: "Rốt cuộc ông ấy đã làm gì thế? Ông ấy mắng em à?—hay có khi ông ấy véo em hay làm gì rồi."
"Không, không có đâu," Jean vừa nói vừa run rẩy nhưng vẫn mỉm cười qua làn nước mắt. "Ông ấy rất tốt và tử tế, trông chẳng cau có tí nào như lúc ở trong nhà mình cả. Ông ấy bảo rằng cách đây rất nhiều năm, ông cũng có một cô con gái nhỏ y hệt như em, rồi ông còn hôn lên trán em nữa."
"Trời đất quỷ thần ơi!" Kat kêu lên, hoàn toàn bị cuốn đi bởi sự tò mò. "Mỗi thế thôi á, không còn gì khác nữa à?"
"Không, nhưng phần còn lại em không được kể lúc này đâu, chỉ là ông ấy bảo sẽ mang kẹo về cho em và em sẽ chia cho tất cả các chị."
Có lẽ vì đúng lúc ấy bà Dering quay mặt đi, nhận thấy việc kiềm chế cảm xúc trên khuôn mặt là điều bất khả thi; hoặc vì trông Jean quá đỗi đáng thương khi thốt ra lời hứa ngây thơ ấy; dù thế nào đi nữa, Ernestine bỗng bật khóc nấc lên, và chỉ giây lát sau, tất cả bọn họ đều oà khóc. Kittie lao đầu xuống ghế dài, giấu kín mặt như thể chẳng bao giờ muốn ngẩng lên nhìn ai nữa, và Kat cũng hùa theo hành động ấy trên chiếc ghế bập bênh.
Trong vài phút liền, tiếng khóc lóc ngập tràn cả căn phòng, rồi bà Dering lau khô nước mắt và cố gắng điều chỉnh lại giọng nói cho thật bình tĩnh.
"Các con ơi, các con có nghĩ rằng bố sẽ cảm thấy hạnh phúc nếu nhìn thấy chúng ta đau khổ và thảm hại thế này không?"
Một âm thanh nào đó trong giọng nói của mẹ đã đánh trúng sự chú ý và làm dịu đi những tiếng nức nở, ngoại trừ Ernestine, người vẫn tiếp tục khóc lóc tỉ tê.
"Nếu bố đi châu Âu, kiếm được một gia tài lớn và xây dựng một ngôi nhà thật hoành tráng, đẹp đẽ để tất cả chúng ta đến sum họp, liệu chúng ta có ngồi lì một chỗ mà khóc lóc rồi kêu ca rằng điều đó là không đúng không?"
Nghe đến đây, ngay cả Ernestine cũng lướt thướt lắng nghe một chút, còn Kittie ngước gương mặt đẫm lệ lên nhìn mẹ với vẻ ngỡ ngàng.
"Mẹ nghĩ là chúng ta sẽ không làm thế đâu, ngược lại, niềm hạnh phúc của chúng ta sẽ nóng lòng chờ đợi cho đến ngày khởi hành để được đoàn tụ với bố. Giờ đây, thay vì đến bất kỳ đất nước nào để xây dựng một tổ ấm, bố đã tự mình trở về nhà, trở về ngôi nhà tươi đẹp, huy hoàng vẫn luôn chờ đợi bố và đang chờ đón cả chúng ta; và chẳng phải thật tuyệt vời khi nghĩ xem bố sẽ vui mừng biết bao khi nhìn thấy chúng ta đến nơi sao — và có lẽ ngày đó cũng chẳng còn xa nữa đâu. Mẹ dường như có thể tưởng tượng ra bố đang hạnh phúc nhường nào vào tối nay, và mẹ sẽ rất buồn nếu cảm giác rằng chúng ta đang khiến bố phiền lòng khi cứ ngồi đây khóc lóc, hệt như thể chúng ta đang tiếc nuối niềm hạnh phúc tuyệt đối của ông ấy. Quả thực chúng ta vô cùng thương nhớ bố, nhưng việc bận rộn làm những điều mà chúng ta biết chắc bố sẽ tán thành và thích thú nếu ông còn ở lại với chúng ta sẽ làm cho khoảng thời gian chờ đợi này trôi qua nhanh hơn.
Các con gái của mẹ, các con thừa biết bố tự hào và yêu thương các con đến nhường nào; các con cũng rõ những thói hư tật xấu nào của mình từng khiến bố phiền lòng, thế nên hãy nỗ lực khắc phục chúng, và cố gắng trở thành những người phụ nữ cao quý, tuyệt vời mà bố vẫn luôn hằng cầu nguyện cho các con. Về phần mẹ, mẹ biết bố luôn tin tưởng mẹ trong việc nuôi dạy các con gái của chúng ta, và giờ đây khi bố đã về nhà và phó thác tất cả cho mẹ, các con không nghĩ đó là một sứ mệnh thiêng liêng gấp bội phần sao? Chẳng ai trong chúng ta có quyền phàn nàn về một đôi tay nhàn rỗi, và vì thế với những trái tim luôn bận rộn, chúng ta sẽ chẳng còn thời gian để than thân trách phận hay khóc lóc nữa. Nào, chúng ta hãy bắt tay vào công việc buổi sáng thôi, và hãy luôn vui vẻ, rạng rỡ nhất có thể nhé; hãy nhớ rằng: Chúa yêu thương chúng ta nhiều đến mức Ngài đã đặt một người thân yêu vô cùng quý giá của tất cả chúng ta vào ngôi nhà trên thiên đàng, để dẫu có lúc bị cám dỗ, chúng ta cũng không bao giờ có thể lãng quên nơi đó."
Khắp phòng vang lên tiếng cất giấu khăn tay, cùng rất nhiều quyết tâm được khắc ghi trên những gương mặt thiếu nữ vừa phải đối mặt với nỗi đau đầu tiên và thấy thật khó khăn để vượt qua nó bằng một đức tính kiên nhẫn. Khi tất cả lục tục rời khỏi phòng để thực hiện công việc buổi sáng, Bea nán lại phía sau, vòng tay ôm lấy cổ mẹ và ngước lên với đôi mắt ngấn lệ cùng một nụ cười đầy yêu thương.
"Mẹ ơi, mẹ thật là một chỗ dựa tinh thần lớn lao; mẹ nói về thiên đường và về bố hệt như thể họ chỉ ở ngay ngã rẽ góc đường thôi vậy, và khiến con có cảm giác như thể bố vẫn biết, vẫn quan tâm đến mọi việc chúng con làm, chẳng khác xưa là mấy. Con biết điều gì sẽ làm bố hạnh phúc nhất, đó là chúng con trở nên giống hệt mẹ, bởi vì bố đã yêu thương và tin tưởng mẹ một cách tuyệt đối cơ mà."
Quay lại mục lục