Việc tàu thuyền Đại Đường tiến vào Đại Tây Dương khởi nguồn từ việc Đại Đường thiết lập đại sứ quán tại châu Âu cùng lãnh sự quán tại các quốc gia nơi đây.
Theo chân các nhà ngoại giao Đại Đường tiến vào châu Âu, một lượng lớn khí giới Đại Đường cũng được chuyển đến, trang bị cho các đội quân châu Âu để chống lại người Thát Đát.
Số khí giới này đều được vận chuyển bằng tàu thuyền Đại Đường.
Do đó, việc tàu thuyền Đại Đường tiến quân ồ ạt vào Đại Tây Dương có mối liên hệ trực tiếp với việc người Thát Đát tấn công châu Âu.
Thời điểm đó, người châu Âu nhận thấy tàu hơi nước của người Đại Đường không bị ảnh hưởng bởi mùa vụ hay hải lưu, có thể ngược xuôi tuyến đường Đại Tây Dương quanh năm suốt tháng. Để nhanh chóng nhận được lượng lớn khí giới từ Đại Đường, họ đã chấp nhận và ủng hộ tàu thuyền Đại Đường tiến vào Đại Tây Dương.
Thế nhưng, có những việc một khi đã bắt đầu thì sẽ không thể kiểm soát được nữa.
Ít nhất đó không phải là điều người châu Âu có thể kiểm soát.
Ban đầu chỉ là những con tàu vận chuyển khí giới, nhưng chẳng bao lâu sau, những con tàu chở đầy hàng hóa khác cũng tiến vào Đại Tây Dương, chạy thẳng từ Nam Phi tới các cảng biển châu Âu.
Tiếp đó, sau khi Đế quốc Đại Đường thiết lập thuộc địa tại vùng duyên hải phía Đông Bắc Mỹ, việc ra vào Đại Tây Dương lại càng trở nên quang minh chính đại.
Điều này không chỉ khiến vài bản hiệp định ký kết năm xưa trực tiếp trở thành tờ giấy lộn, mà còn mang lại một hệ lụy vô cùng quan trọng khác.
Đó chính là thương thuyền Đại Đường trên Đại Tây Dương, nhờ vào trọng tải lớn hơn, tốc độ nhanh hơn, chi phí vận hành thấp hơn, và điều quan trọng hơn cả là không bị ảnh hưởng bởi gió mùa hay hải lưu, có thể xuất phát ngược xuôi các vùng biển vào bất cứ thời điểm nào trong năm.
Chưa kể những thương nhân hàng hải Đại Đường này còn trực tiếp nắm giữ các loại hàng hóa từ Đại Đường cũng như vùng ven biển Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
Chẳng cần vài năm sau, khi các thương nhân hàng hải của Đế quốc Đại Đường lái thương thuyền tiến vào, rồi trực tiếp đi tới cảng biển các nước, họ gần như đã độc chiếm hoàn toàn giao thương đường biển từ Nam Phi của Đại Đường sang châu Âu.
Như vậy chưa nói đến những ảnh hưởng khác, nhưng trên tuyến đường biển từ châu Âu tới vùng duyên hải phía Tây châu Phi, về cơ bản đã trở thành sân chơi của thương thuyền Đại Đường, các tàu buôn quốc gia khác rất khó lòng cạnh tranh nổi.
Khi thương thuyền Đại Đường trên tuyến đường này ngày một nhiều, để bảo vệ chúng khỏi sự đe dọa của cướp biển, chiến hạm của Hải quân Đại Đường cũng bắt đầu tiến hành tuần tra và hộ tống.
Thế là, người Bồ Đào Nha rơi vào tình cảnh vô cùng khó xử.
Cảng biển rõ ràng là của họ, nhưng tàu thuyền qua lại phần lớn đều là tàu của Đại Đường; không chỉ là thương thuyền, mà ngay cả chiến hạm cũng vào nghỉ ngơi, tiếp tế, thậm chí đồn trú lâu dài.
Còn một điểm khiến người Bồ Đào Nha khó chịu hơn nữa!
Đó là thương nhân Đại Đường không thích nộp thuế!
Theo quan niệm phổ biến hiện nay của các nước châu Âu, tàu thuyền đến cảng của mình neo đậu nghỉ ngơi tiếp tế, dù không tiến hành giao dịch tại cảng, thì thường vẫn sẽ thu thuế dựa trên trọng tải tàu hoặc hình thức khác.
Thế nhưng, thương thuyền Đại Đường lại không làm như vậy!
Bởi vì ở Đại Đường, đối tượng chịu thuế không phải là bản thân con tàu, mà là hành vi giao dịch hàng hóa.
Cho nên tàu thuyền Đại Đường ra vào cảng trong nước hay cảng ở lãnh thổ hải ngoại, ngoại trừ các thương thuyền từ trong nước quay về phải nộp thuế nhập khẩu cho số hàng trên tàu, còn lại các thương thuyền vận tải nội địa thì thông thường không cần nộp thuế nhập khẩu.
Bởi vì những hàng hóa này thường đã được thu thuế ngay từ khi xuất xưởng, trong giai đoạn vận chuyển chỉ thu thuế dựa trên thu nhập vận tải của công ty hàng hải, tới giai đoạn tiêu thụ thì sẽ thu thuế các công ty bán hàng, bao gồm các nhà phân phối và bán lẻ.
Thế nhưng, hành vi tàu thuyền chở hàng vào cảng là không cần nộp bất cứ loại thuế nào.
Thông thường chỉ thu phí dịch vụ cảng biển mà thôi.
Nhưng các quốc gia khác rõ ràng có hệ thống thuế khác với Đại Đường, người Bồ Đào Nha tại các cảng thuộc địa hải ngoại này thường sẽ căn cứ vào kích thước tàu để thu thuế.
Vấn đề nảy sinh là tàu Đại Đường thường quá khổ, nên khoản thuế này không hề nhỏ.
Vì vậy, các thương nhân Đại Đường phản kháng dữ dội.
Đế quốc còn không thu thuế chúng ta, lũ man di các ngươi mà cũng dám thu thuế chúng ta sao?
Mặc dù các loại thuế của Đế quốc không trực tiếp như vậy, mà chủ yếu là thuế ẩn, tính ra thường vẫn rất cao, nhưng Đế quốc có đội kiểm tra thuế mà.
Cho nên tại vùng kiểm soát của Đế quốc, thương nhân của Đế quốc nộp thuế rất tự nguyện, dù sao thì Bộ Thuế cũng quá "khủng".
Nhưng ở hải ngoại, lũ man di thổ dân các ngươi lại muốn đám sĩ phu chúng ta nộp thuế? Mẹ kiếp, ngươi tưởng ngươi là đội kiểm tra thuế chắc!
Người đâu, khai hỏa!
Dạy cho lũ thổ dân này biết thế nào là lễ nghi Hoa Hạ!
Trước khi Đại Đường thành lập, các thương nhân hàng hải thời Minh vốn chưa bao giờ có ý thức nộp thuế. Sau khi Đại Đường thành lập, thương nhân hàng hải Đại Đường trong nước đương nhiên răm rắp tuân thủ, nhưng ở hải ngoại thì vẫn không có ý thức nộp thuế đó.
Nhất là khi các thương nhân được trang bị thương thuyền vũ trang hơi nước, họ càng không thèm đếm xỉa tới lũ thổ dân kia.
Người Bồ Đào Nha bi đát phát hiện ra rằng, tuyến đường này càng ngày càng tấp nập, nhưng thuế thu được tại các cảng dọc đường lại càng ngày càng ít!
Nếu cưỡng chế thu thuế, người ta chỉ cần vài phút là khai hỏa, thậm chí đôi khi còn có chiến hạm Đại Đường tới đòi lại công đạo!
Cuối cùng không còn cách nào khác, đành phải nhắm mắt làm ngơ.
Những điều kể trên đều khiến người Bồ Đào Nha có một cảm xúc vô cùng đặc biệt đối với các cảng thuộc địa ven bờ biển phía Tây châu Phi.
Họ biết những nơi này rất quan trọng và có thể mang lại lợi nhuận rất lớn.
Nhưng vấn đề là họ không thể thu được đủ lợi nhuận thực tế từ những nơi này.
Vì vậy khi các nhà ngoại giao của Đế quốc Đại Đường hỏi liệu có thể bán những thuộc địa này không, thú thật là họ cũng có chút dao động.
Tất nhiên, điều kiện tiên quyết là phải thu được lợi nhuận thỏa đáng.
Có đủ tiền, họ mới dao động.
Bởi vì có tiền rồi, họ mới có thể tiếp tục vũ trang quân đội để kháng cự người Thát Đát tại châu Âu, cũng mới có tiền xây dựng thuộc địa Brazil của họ tại Nam Mỹ.
Dù là người Bồ Đào Nha hay người Tây Ban Nha, hoàng gia và quý tộc của họ đều đã bắt đầu cân nhắc đường lui.
Nếu không cản được người Thát Đát ở châu Âu, họ sẽ không ở lại chờ chết, mà sẽ chạy sang châu Mỹ.
Người Tây Ban Nha có vùng Mexico và Inca, còn người Bồ Đào Nha có Brazil.
Trái lại, Pháp và các quốc gia lục địa châu Âu khác thì không còn đường lui, chỉ có thể dốc sức kháng cự người Thát Đát.
Chuyện mua thuộc địa cũng không thể gấp gáp trong một sớm một chiều, ngay cả Hải quân Đế quốc – bên đề xuất việc này – cũng giữ tâm thế được thì tốt, không được thì thôi.
Dù sao người Bồ Đào Nha ở châu Phi cũng chỉ đến thế mà thôi, nếu Hải quân Đế quốc muốn ra vào bất cứ cảng nào của người Bồ Đào Nha, lẽ nào họ còn dám từ chối?
So với vùng duyên hải phía Tây châu Phi bên Đại Tây Dương, hiện nay Hải quân Đế quốc càng muốn tìm một căn cứ hải quân ổn định hơn gần eo biển Gibraltar, một căn cứ có thể giúp Hải quân Đế quốc kiểm soát tốt hơn cửa ngõ chiến lược nối liền Đại Tây Dương và Địa Trung Hải này.
Nơi hẹp nhất của eo biển này chỉ vỏn vẹn mười ba km, nếu xây một pháo đài, với tầm bắn của đại bác rãnh xoắn nòng lớn hiện nay, đủ sức phong tỏa hơn phân nửa vùng biển. Nếu xây pháo đài ở cả hai bờ Bắc Nam, thì đủ sức phong tỏa hoàn toàn eo biển này.
Nếu triển khai một hạm đội tại đây, quy mô không cần quá lớn cũng có thể phối hợp với pháo đài phòng thủ ven bờ để trực tiếp phong tỏa eo biển.
Mặc dù hiện tại Đế quốc Đại Đường thực ra không hứng thú gì với Địa Trung Hải, nhưng Hải quân Đế quốc thì có!
Sự hứng thú của Hải quân Đế quốc bắt nguồn từ việc họ thích xây dựng pháo đài tại mọi vị trí trọng yếu chiến lược, sau đó kiểm soát nó.
Bởi vì so với việc kiểm soát trực tiếp đại dương bao la vô tận, thì kiểm soát trực tiếp các eo biển quan trọng lại đơn giản hơn, kinh tế hơn và hiệu quả hơn nhiều.
Mà kiểm soát được eo biển Gibraltar là trực tiếp kiểm soát toàn bộ cửa ngõ ra vào Đại Tây Dương của Địa Trung Hải, lợi ích nhiều vô kể.
Đây không phải lần đầu Hải quân Đế quốc Đại Đường làm chuyện tương tự, thực tế thì nhiều căn cứ quân sự hay pháo đài của Hải quân Đế quốc Đại Đường ở hải ngoại đều được xây dựng tại những nơi có vị trí chiến lược như vậy.
Ví dụ như eo biển Malacca, Hải quân Đế quốc rất coi trọng, eo biển này đã được Đế quốc coi là tiền tuyến phòng thủ chiến lược trên biển.
Kiểm soát nơi này, cộng thêm eo biển Sunda, là đủ để chặn đứng hoàn toàn hạm đội của bất kỳ kẻ địch nào từ Ấn Độ Dương tiến công.
Ngoài những vị trí trọng yếu chiến lược gần bản thổ Đế quốc này, Hải quân Đế quốc còn thiết lập một căn cứ hải quân quy mô vô cùng lớn trên đảo Ceylon để kiểm soát Ấn Độ Dương.
Lại thiết lập căn cứ hải quân và pháo đài tại Hormuz thuộc Vịnh Ba Tư để kiểm soát Vịnh Ba Tư.
Lại thiết lập căn cứ hải quân và pháo đài tại Aden để kiểm soát Biển Đỏ và vùng biển Vịnh Aden.
Thậm chí họ còn thu vào tay vùng cực Nam của Nam Mỹ – nơi mà người châu Âu hiện nay vẫn chưa đặt chân tới – vùng đất mà người châu Âu gọi là eo biển Magellan. Hải quân Đại Đường thấy nơi này quan trọng, là con đường duy nhất liên kết Thái Bình Dương và Đại Tây Dương (nếu không đi vòng qua Ấn Độ Dương), nên từ những năm trước đã tổ chức nhân lực chạy tới nơi này thiết lập một căn cứ.
Tuy nhiên, môi trường tự nhiên ở đây khá khắc nghiệt nên quy mô căn cứ hiện tại vẫn còn khá nhỏ.
Hải quân Đại Đường say mê kiểm soát các trọng điểm chiến lược khắp nơi, eo biển Gibraltar này đương nhiên cũng không nằm ngoài kế hoạch.
Tất nhiên, người phụ trách việc này đương nhiên không phải là những nhân vật lớn ở tận bản thổ, một eo biển nhỏ bé ở châu Âu thôi, chưa tới lượt những người đó phải bận tâm.
Việc đẩy mạnh chuyện này luôn do phía Hạm đội thứ Bảy phụ trách, nói chính xác hơn là do Hạm đội châu Âu trực thuộc Hạm đội thứ Bảy đảm nhiệm.
Cadiz, Tây Ban Nha, khu sứ quán Đế quốc Đại Đường tại châu Âu.
Trong khu sứ quán sừng sững một tòa nhà ba tầng bằng bê tông cốt thép cao hơn mười mét, tòa nhà này chính là nơi đặt Bộ tư lệnh Hạm đội châu Âu của Hải quân Đế quốc.
Thiếu tướng Nhậm Tử An lúc này đang làm việc trong văn phòng của mình. Ông đang xem công văn do Bộ tư lệnh Hạm đội thứ Bảy gửi tới. Công văn cho thấy Bộ tư lệnh sẽ điều động tuần dương hạm "Tân Kim Sơn" cùng hai tàu hộ vệ tham gia vào biên chế tác chiến của Hạm đội châu Âu.
Tuy nhiên đây không phải là tăng viện cho ông, mà thuộc về luân chuyển định kỳ!
Đến lúc đó, một tàu tuần dương và một tàu hộ vệ đã phục vụ được một năm trong Hạm đội châu Âu sẽ được điều động quay về Nam Phi để bảo dưỡng.
Do chiến lược hiện nay của Đại Đường đều là chiến hạm hơi nước bằng thép, yêu cầu bảo dưỡng chiến hạm khá cao, ở hải ngoại nhiều nơi thực sự không có cách nào để bảo dưỡng, cho nên Hải quân Đại Đường đành phải áp dụng chính sách luân chuyển này.
Để chiến hạm thực hiện bảo dưỡng tại một số căn cứ hải quân lớn có khả năng bảo dưỡng chiến hạm, sau khi bảo dưỡng xong xuôi mới điều động tới các vùng biển thực hiện nhiệm vụ.
Hiện tại, Hải quân Đế quốc Đại Đường ở vùng biển châu Âu không có lấy một cảng nào có thể cung cấp dịch vụ bảo dưỡng cho chiến hạm hơi nước, chỉ có thể quay về Nam Phi để bảo dưỡng.
Tại các lãnh thổ hải ngoại, một số căn cứ hải quân lớn của Hải quân cũng được coi là nơi duy nhất có đầy đủ các loại thiết bị cơ khí hiện đại ở lãnh thổ hải ngoại, đây là quyết định bắt buộc phải đưa ra nhằm cung cấp việc bảo dưỡng cho chiến hạm của Hải quân.
Còn những nơi khác thì vẫn cứ là muốn tìm một con ốc vít cũng vô cùng khó khăn.
Đợi tàu mới tới, mình cũng phải triển khai kế hoạch thôi, không thể kéo dài thêm được nữa!