Sử Ký II. Liệt Truyện (Thượng)

Lượt đọc: 399 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 70 TRƯƠNG NGHI LIỆT TRUYỆN

❊ ❊ ❊

Trương Nghi người nước Ngụy. Ban đầu cùng Tô Tần theo học Quỷ Cốc tiên sinh, về học thuật, Tô Tần tự nhận mình không bằng Trương Nghi.

Trương Nghi học xong liền du thuyết chư hầu. Từng uống rượu cùng Tướng quốc nước Sở, sau Tướng quốc nước Sở bị mất ngọc bích, môn hạ có ý nghi ngờ Trương Nghi, nói: “Trương Nghi nghèo mà không có phẩm hạnh, hẳn y lấy trộm viên ngọc của tướng quân.” Cùng bắt Trương Nghi, đánh mấy trăm roi, [Nghi] không nhận, đành thả. Vợ Nghi nói: “Ối giời ơi! Ông không đọc sách du thuyết thì phải chịu nỗi nhục này không?” Trương Nghi bảo vợ: “Nhìn xem lưỡi ta còn không?" Vợ cười đáp: “Lưỡi còn.” Nghi nói: “Đủ rồi.”

Tô Tần đã thuyết Triệu vương rồi ước định hợp tung, nhưng e Tần đánh chư hầu, [chư hầu] hủy bỏ minh ước, nghĩ không có ai sai đến nước Tần, bèn phái người khuyên Trương Nghi: “Khi trước ông và Tô Tần là chỗ thân thiết, nay Tô Tần đã nắm quyền, sao ông không qua chơi, để thỏa nguyện của mình?” Thế rồi Trương Nghi liền đến Triệu, đưa danh thiếp cầu kiến Tô Tần. Tô Tần dặn thuộc hạ không thông báo, lại sai giữ chân Trương Nghi mấy ngày liền. Sau đó, [Tô Tần] gặp Trương Nghi, cho ngồi dưới thềm nhà, ban thức ăn của tôi tớ. Nhân đó còn nhiếc mắng: “Tài năng như ngươi mà khốn đốn nhục nhã đến thế này. Ta há không thể nói để ngươi được giàu sang, nhưng ngươi không đáng được thế.” Nói rồi đuổi đi. Trương Nghi đến gặp, nghĩ là bạn bè cũ, mong nhờ cậy, không ngờ bị sỉ nhục, giận lắm, nghĩ chư hầu không nước nào phụng sự được, chỉ Tần mới làm khó được Triệu, bèn sang nước Tần.

[Sau khi Trương Nghi sang Tần], Tô Tần nói với môn khách của mình rằng: “Trương Nghi là bậc hiền sĩ thiên hạ, ta e cũng không bằng. Nay ta may mắn được trọng dụng trước, còn người nắm được quyền bính ở Tần chỉ có thể là Trương Nghi thôi. Nhưng ông ta nghèo, không có gì để tiến thân. Ta sợ ông ta ham lợi nhỏ mà không thỏa chí, nên triệu đến để làm nhục, đặng khích ông ta. Người hãy vì ta âm thầm phụng sự ông ta.” Rồi nói với Triệu vương, ban cho tiền vàng ngựa xe, sai người lén theo Trương Nghi, ngủ cùng quán trọ, dần dà tiếp cận, dâng ngựa xe tiền vàng, [Nghi] muốn dùng gì, chi cấp cho nhưng không nói sự thực. Trương Nghi nhờ thế được yết kiến Tần Huệ vương. Huệ vương phong làm khách khanh, cùng bàn mưu đánh chư hầu.

Môn khách của Tô Tần bèn từ biệt ra đi. Trương Nghi nói: “Nhờ ông, tôi được vinh hiển, đang muốn báo ơn, sao lại đi vậy?” Người đó đáp: “Tôi không biết ngài, biết ngài là Tô quân. Tô quân lo Tần đánh Triệu, hỏng mất tung ước, cho là không ngại chẳng ai nắm quyền bính ở Tần được, nên chọc giận ngài, sai tôi ngầm chu cấp cho ngài chi dùng, đặng hoàn thành mưu kế của Tô quân. Nay ngài đã được trọng dụng, tôi xin về báo lại.” Trương Nghi nói: “Ôi chao, trong cái thuật của ta mà không biết, rõ ràng ta không bằng Tô quân rồi! Ta mới được dùng, sao có thể âm mưu gì với Triệu? Nhờ ông tạ ơn Tô quân, Tô quân nắm quyền, Nghi đâu dám nói. Vả Tô quân còn, Nghi đâu làm được gì?” Trương Nghi làm Tướng quốc nước Tần, viết tờ hịch kể tội Tướng quốc nước Sở: “Khi trước ta uống rượu cùng ngươi, ta không trộm ngọc mà người đánh ta. Ngươi khéo giữ lấy nước, kẻo ta trộm mất thành.”

Nước Thư và nước Thục đánh nhau, cả hai đều cấp báo với Tần. Tần Huệ vương muốn xuất quân đánh Thục, nhưng cho đường hẹp khó đi, lại sợ Hàn thừa cơ đánh lén; Tần Huệ vương muốn đánh Hàn trước, đánh Thục sau, e bất lợi; muốn đánh Thục trước, sợ Hàn thừa cơ Tần trống trải đến đánh úp, do dự chưa quyết. Tư Mã Thác và Trương Nghi tranh luận trước mặt Huệ vương. Tư Mã Thác muốn đánh Thục, Trương Nghi nói: “Chẳng bằng đánh Hàn.” Huệ vương nói: “Xin được nghe ý ông.”

Nghi nói: “Thân với Ngụy, tốt với Sở, đem quân tiến xuống Tam Xuyên, cắt đường vào cửa Thập Cốc, chẹn đường Đồn Lưu, để Ngụy cắt đường Nam Dương, Sở kéo đến Nam Trịnh, Tần đánh Tân Thành và Nghi Dương để kéo đến ngoại vi Đông Chu và Tây Chu, hỏi tội Chu vương, xâm lấn đất của Sở và Ngụy. Chu tự biết không thể cứu vãn, ắt giao báu vật cửu đỉnh ra. Chiếm lấy cửu đỉnh, thu lấy bản đồ, sổ sách, bức thiên tử để ra lệnh cho thiên hạ, thiên hạ ai dám không nghe, đó là nghiệp vương vậy. Nay nước Thục xa tít phía tây, là hạng nhung địch[1], quân dân vất vả mà chẳng đủ thành danh, được đất của họ cũng không đủ gọi là lợi. Thần nghe nói tranh danh ở triều, tranh lợi ở chợ. Nay Tam Xuyên và nhà Chu là triều và chợ của thiên hạ, đại vương không tranh ở chỗ đó, mà tranh giành với nước nhung địch, như thế cách nghiệp vương xa lắm.”

Tư Mã Thác nói: “Không phải thế. Thần nghe nói, người muốn nước giàu chuộng việc mở rộng đất đai, người muốn quân mạnh chuộng việc làm giàu cho dân, người muốn vương giả chuộng việc thi ân bố đức. Ba điều đó đủ nghiệp vương cũng thành. Nay đại vương nước nhỏ dân nghèo, nên thần xin làm việc dễ trước. Xét lẽ, Thục là nước xa xôi phía tây, nhưng đứng đầu nhung địch, có loạn Kiệt, Trụ[2]. Đem Tần đánh Thục, ví như lùa đàn sói đuổi bầy dê. Được đất của họ đủ để mở rộng nước, chiếm lấy của cải đủ để làm giàu cho dân, mạnh cho quân, không tổn thương dân chúng thì họ thần phục. Hạ một nước mà thiên hạ không cho là tàn bạo, lợi cả phía tây mà thiên hạ không cho là tham. Nhờ ta cất quân một lần mà được cả danh lẫn thực, còn có tiếng là ngăn bạo dẹp loạn. Nay đánh nước Hàn, uy hiếp thiên tử, đó là tiếng xấu, chưa chắc đã được lợi, lại mang tiếng bất nghĩa, vả đánh vào chỗ thiên hạ không muốn, nguy thay. Thần xin trình bày rõ: nhà Chu là tông thất của thiên hạ; Tề là đồng minh với Hàn. Chu tự biết mình mất cửu đỉnh, Hàn tự biết mình mất Tam Xuyên, tất hợp sức hai nước để mưu tính, dựa vào Tề và Triệu rồi cầu cứu Sở và Ngụy, đem đỉnh giao cho Sở, lấy đất giao cho Ngụy, đại vương sao ngăn được. Cho nên thần nói là nguy vậy. Chẳng bằng đánh Thục vẹn toàn.”

Huệ vương nói: “Phải, quả nhân xin nghe ông.” Rốt cuộc dấy binh đánh Thục. Tháng Mười, chiếm được, bèn vỗ yên Thục, giáng Thục vương xuống tước hầu, rồi sai Trần Trang làm Tướng quốc nước Thục. Thục đã thuộc Tần, Tần càng thêm mạnh, thêm giàu, càng khinh chư hầu.

Tần Huệ vương năm thứ mười, sai công tử Hoa cùng Trương Nghi bao vây Bồ Dương, buộc đầu hàng. Nghi nhân đó nói Tần trả đất ấy cho Ngụy, rồi phái công tử Diêu đi làm con tin Ngụy. Nghi nhân đó nói với Ngụy vương: “Tần vương đãi ngộ Ngụy thật trọng hậu, Ngụy không thể nào không có lễ đáp.” Ngụy bèn đem Thượng Quận, Thiếu Lương nhập [vào Tần] để tạ ơn Tần Huệ vương. Huệ vương bèn phong Trương Nghi làm Tướng quốc, đổi tên Thiếu Lương thành Hạ Dương.

Nghi làm Tướng quốc nước Tần bốn năm, ủng hộ Huệ vương xưng vương. Được một năm, làm võ tướng nước Tần, chiếm lấy đất Thiểm, dựng lũy ở Thượng Quận.

Hai năm sau, phái Trương Nghi đến Khiết Tang lập minh ước với các tướng Tề, Ngụy. Từ phía đông trở về, thôi chức Tướng quốc, vì Tần sang làm Tướng quốc nước Ngụy, muốn lệnh cho Ngụy phụng thờ Tần trước để chư hầu noi theo. Ngụy vương không theo lời Nghi. Tần vương giận, đánh chiếm Khúc Ốc và Bình Chu của Ngụy, lại ngầm hậu đãi Trương Nghi rất nhiều. Trương Nghi thẹn, không có gì báo đáp. Lưu lại nước Ngụy, bốn năm nữa thì Ngụy Tương vương chết, Ai vương lên thay. Trương Nghi lại thuyết Ai vương, Ai vương không nghe. Thế là Trương Nghi ngầm bảo Tần đánh Ngụy. Ngụy đánh với Tần, thua trận.

Năm sau, Tề lại đánh bại Ngụy ở Quan Tân. Tần lại muốn đánh Ngụy, trước đánh bại quân Hàn do Thân Sai chỉ huy, chém được tám vạn thủ cấp, chư hầu khiếp sợ. Trương Nghi lại thuyết Ngụy vương:

“Nước Ngụy đất vuông không đến nghìn dặm, lính không đến ba mươi vạn. Bốn phía bằng phẳng, chư hầu khắp nơi đi xe đến được, không bị núi cao sông sâu ngăn trở. Từ Trịnh đến Đại Lương chỉ hơn hai trăm dặm, xe ngựa hay người đi bộ, không tốn sức đã tới nơi. Phía nam Đại Lương là biên giới nước Sở, tây là biên giới nước Hàn, bắc là biên giới nước Triệu, đông là biên giới nước Tề, sĩ tốt trấn giữ bốn phía biên giới không dưới mười vạn. Địa thế Đại Lương, thực là chiến trường vậy. Phía nam Đại Lương giao hảo với Sở chứ không giao hảo Tề, vậy Tề tấn công phía đông; đông giao hảo Tề mà không giao hảo Triệu, vậy Triệu tiến đánh phía bắc; không hợp với Hàn, Hàn đánh phía tây; không thân với Sở, Sở đánh phía nam. Đó là con đường chia năm xẻ bảy vậy.

Vả việc hợp tung của chư hầu, là để yên xã tắc, tôn quân chủ, mạnh quân binh, nổi thanh danh vậy. Nay, người theo hợp tung hợp nhất thiên hạ, giao ước thành anh em, giết ngựa trắng để ăn thề trên Hoàn Thủy, cùng nhau giữ vững. Nhưng thân như anh em ruột có khi còn tranh tiền của, lừa gạt lẫn nhau, huống chi chút mưu thừa của Tô Tần, rõ ràng không thể thành công được.

Xét lẽ, đại vương không thờ Tần, Tần sẽ kéo quân xuống đánh Hà Ngoại, chiếm đất Quyển, Diễn, Yên, Toan Táo; uy hiếp Vệ chiếm Dương Tấn, thì Triệu không thể xuống phía nam, Triệu không thể xuống phía nam còn Lương không thể lên phía bắc, Lương không thể lên phía bắc thì đường hợp tung bị cắt đứt, đường hợp tung bị cắt đứt mà đại vương muốn nước mình không nguy cũng không thể được. Tần dọa được Hàn sẽ tấn công Lương, Hàn sợ Tần, Tần và Hàn là một, Lương diệt vong có thể đứng mà trông trong phút chốc. Vì thế thần lo thay cho đại vương vậy.

Kế sách cho đại vương, chẳng gì bằng thờ Tần. Thờ Tần thì Sở và Hàn ắt không dám khinh động, không còn mối lo Sở và Hàn, đại vương có thể kê cao gối ngủ, nước ắt không phải lo nữa.

Vả nước mà Tần muốn làm suy yếu không nước nào bằng Sở, có thể làm Sở suy yếu chẳng nước nào bằng Lương. Sở tuy có tiếng rộng giàu nhưng thực chất trống không, binh lính tuy nhiều nhưng lâm trận hay bỏ chạy, không bền gan chiến đấu. Đem hết quân Đại Lương xuống phía nam đánh Sở, chắc chắn sẽ thắng. Cắt đất Sở mà thêm vào Lương, khiến Sở yếu thì Tần thích chí, chuyển hóa thành an, là việc tốt vậy. Đại vương không nghe thần, Tần đem giáp sĩ sang đông chinh phạt, [lúc ấy] dù muốn thờ Tần, cũng không được nữa.

Lại như người theo hợp tung, phần nhiều nói mạnh nhưng không đáng tin, thuyết được một chư hầu liền phong hầu, nên đám du thuyết trong thiên hạ chẳng ai không ngày đêm khoa chân múa tay, nghiến răng trợn mắt nói về tiện ích của hợp tung, để thuyết các ông vua. Các ông vua cho lời biện bác của họ hay rồi bị dắt theo thuyết đó, bảo sao không bị mê hoặc.

Thần nghe nói, chứa nhiều lông, thuyền sẽ chìm, chất nhiều vật nhẹ, trục xe sẽ gãy, miệng nhiều người khiến vàng tan, tích lời xấu làm xương cốt tiêu tan. Nên xin đại vương thẩm xét kế sách, ban cho hài cốt này được lánh xa nước Ngụy.”

Thế rồi Ai vương phản bội tung ước, thông qua Trương Nghi kết thân với Tần. Trương Nghi về Tần, lại làm Tướng quốc. Ba năm sau, Ngụy phản bội Tần để theo hợp tung. Tần liền đánh Ngụy, chiếm được Khúc Ốc. Năm sau, Ngụy lại thờ Tần.

Tần muốn đánh Tề, Tề và Sở hợp tung, thế là Trương Nghi sang làm Tướng quốc nước Sở. Sở Hoài vương nghe tin Trương Nghi đến, dành riêng một quán thượng hạng, đích thân đón tiếp, nói: “Nơi đây đất nước hẻo lánh, ngài có gì dạy bảo chăng?” Trương Nghi nói với Sở vương: “Nếu đại vương thực lòng nghe theo thần, hãy đóng quan ải tuyệt giao với Tề, thần xin hiến sáu trăm dặm đất Thương và Ư, sai con gái vua Tần làm người hầu quét dọn cho đại vương, Tần và Sở lấy vợ gả con, mãi mãi là nước anh em. Như thế phía bắc làm yếu Tề còn phía tây ích lợi cho Tần, không kế nào tiện hơn thế.” Sở vương cả mừng đồng ý. Quần thần chúc mừng, riêng Trần Chẩn chia buồn. Sở vương giận hỏi: “Quả nhân không dấy binh mà được sáu trăm dặm đất, quần thần đều chúc mừng, riêng người chia buồn, vì sao?" Trần Chẩn đáp rằng: “Không phải vậy. Theo thần, đất Thương và Ư không thể lấy được, Tề và Tần sẽ hợp sức, Tề và Tần hợp sức thì tai họa kéo đến vậy.” Sở vương hỏi: “Dựa vào đâu dám nói thế?” Trần Chẩn đáp: “Sở dĩ Tần coi trọng Sở, vì có Tề. Nay đóng cửa ải tuyệt giao với Tề thì Sở cô độc. Sao Tần trọng nước cô độc, mà cắt cho sáu trăm dặm đất Thương, Ư được? Trương Nghi đến Tần, ắt phản đại vương. Phía bắc tuyệt giao với Tề, phía tây sinh họa với Tần, quân hai nước kia cùng kéo đến. Kế hay cho đại vương chẳng gì bằng ngầm hợp tác với Tề nhưng ngoài làm bộ tuyệt giao, sai người theo Trương Nghi. Nếu cắt đất cho ta, tuyệt giao với Tề cũng chưa muộn; nếu không cắt đất cho ta, thì ta ngầm bàn kế với Tề.” Sở vương nói: “Xin Trần tử ngậm miệng đừng nói nữa, đợi quả nhân được đất đã.” Bèn đem ấn tướng quân trao cho Trương Nghi, lót tay [Trương Nghi] rất hậu. Thế rồi đóng cửa ải, tuyệt giao với Tề, sai một tướng quân đi theo Trương Nghi.

Trương Nghi đến Tần, vờ đứt dây ngã xe ngựa, ba tháng không vào chầu. Sở vương nghe tin, nói: “Trương Nghi nghĩ quả nhân chưa quyết tuyệt giao với Tề chăng?” Bèn sai dũng sĩ đến Tống, mượn binh phù của Tống, lên phía bắc chửi mắng Tề vương. Tề vương cả giận, cam hạ mình dựa vào Tần. Tần và Tề liên kết, Trương Nghi bèn vào chầu, bảo sứ nước Sở rằng: “Thần có sáu dặm đất phong, xin đem dâng cho đại vương ngài.” Sứ nước Sở nói: “Thần theo mệnh vua nhận sáu trăm dặm đất Thương và Ư, chứ không nghe sáu dặm.” Về báo với Sở vương, Sở vương cả giận, phát binh đánh Tần. Trần Chẩn nói: “Chẩn có thể mở miệng nói chưa? Đánh, chẳng bằng làm ngược, cắt đất cho Tần, hợp quân với Tần để đánh Tề, thế là ta cắt đất cho Tần mà nhận bồi thường ở Tề vậy, như thế nước của đại vương mới có thể bảo tồn.” Sở vương không nghe, rốt cuộc phát binh, sai tướng quân Khuất Cái đánh Tần. Tần và Tề cùng tấn công Sở, chém tám vạn thủ cấp, giết Khuất Cái, chiếm đất Đan Dương, Hán Trung. Sở lại tăng thêm quân đánh úp Tần, kéo đến Lam Điền, đánh nhau to, quân Sở đại bại, thế là Sở cắt hai thành để nghị hòa với Tần.

Tần muốn đem đất phía ngoài Vũ Quan để đổi đất Kiềm Trung của Sở. Sở vương nói: “Không muốn đổi đất, muốn có Trương Nghi rồi sẽ dâng đất Kiềm Trung.” Tần vương muốn sai Trương Nghi đi, không đành nói ra. Trương Nghi bèn xin đi. Huệ vương nói: “Sở vương kia giận ông phụ ước chuyện đất Thương và Ư, nên phải giết được ông mới cam tâm.” Trương Nghi nói: “Tần mạnh Sở yếu, thần thân với Cận Thượng, Thượng được hầu hạ Sở phu nhân Trịnh Tụ, Tụ nói gì [Sở vương] cũng nghe. Vả thần cầm cờ tiết, vâng lệnh đại vương đi sứ nước Sở, Sở sao dám giết. Giả như có giết thần mà Tần được đất Kiềm Trung, đó là ước nguyện của thần.” Bèn đi sứ Sở. Trương Nghi vừa đến liền bị Sở Hoài vương bỏ tù, định giết đi. Cận Thượng nói với Trịnh Tụ: “Phu nhân có biết mình sắp không được đại vương sủng ái chăng?” Trịnh Tụ hỏi: “Sao vậy?” Cận Thượng đáp: “Tần vương yêu quý Trương Nghi, không muốn Trương Nghi đi sứ. Nay sắp đem sáu huyện ở Thượng Dung cho Sở, lấy mỹ nhân dâng cho Sở, lấy người hát hay trong cung đưa sang làm người hầu. Sở vương coi trọng đất đai, đề cao nước Tần, mỹ nhân nước Tần ắt được quý trọng, phu nhân bị gạt ra. Chẳng bằng nói với đại vương thả ông ta ra.” Thế là Trịnh Tụ ngày đêm nói với Hoài vương rằng: “Bề tôi ai nấy ra sức vì chủ. Nay đất chưa cắt cho Tần, Tần sai Trương Nghi đến, là tôn trọng đại vương. Đại vương chưa tiếp đãi mà đòi giết Trương Nghi, Tần ắt cả giận mà tấn công Sở. Mẹ con thiếp xin rời đến Giang Nam, không để bị Tần tàn sát.” Hoài vương sau đó hối hận, bèn thả Trương Nghi, dùng hậu lễ đối đãi như trước.

Trương Nghi ra tù, chưa đi, nghe tin Tô Tần chết, bèn nói với Sở vương:

“Đất Tần bằng nửa thiên hạ, quân mạnh bằng bốn nước xung quanh, có dải Hoàng Hà hiểm trở, bốn phía ải lũy kiên cố. Hơn trăm vạn quân hổ bôn, ngàn cỗ xe, vạn chiến mã, lương thảo chất cao tựa núi. Pháp lệnh đã rõ ràng, sĩ tốt vui vẻ dấn thân vào chỗ chết, chúa sáng lại nghiêm, tướng trí lại dũng, tuy không xuất binh, chỉ lấy vùng đất hiểm Thường Sơn, tất bẻ gãy sống lưng thiên hạ, thiên hạ kẻ nào phục tùng sau thì diệt vong trước. Vả lại hợp tung, không khác gì lùa đàn dê đánh mãnh hổ, mãnh hổ đấu với dê chẳng xem cũng rõ. Nay đại vương không kết giao mãnh hổ lại đi kết giao đàn dê, thần trộm cho kế của đại vương sai lầm vậy.

Phàm nước mạnh trong thiên hạ, không Tần thì Sở, không Sở thì Tần, hai nước giao tranh, thế không thể đứng chung. Đại vương không theo Tần, Tần đem quân xuống chiếm Nghi Dương, đường lên Thượng Địa nước Hàn không thông. [Tần kéo] xuống Hà Đông, chiếm Thành Cao, Hàn ắt vào xưng thần, nước Lương nghe hơi gió đã chấn động. Tần đánh phía tây Sở, Hàn và Lương đánh phía bắc, xã tắc sao không nguy được?

Vả người theo hợp tung tụ hội nước nhỏ đánh nước cực mạnh, không liệu thế địch lại khinh suất giao chiến, nước nghèo mà còn nhiều lần cất quân, là thuật nguy vong vậy. Thần nghe nói, quân chẳng bằng người, chớ nên khiêu chiến; thóc không bằng người, không giữ được lâu. Xét lẽ, người theo hợp tung toàn nói suông, đề cao khí tiết của chủ mình, nói đến lợi mà không xét tới hại, rốt cuộc có họa từ Tần, chẳng kịp làm gì cho mình. Cho nên xin đại vương tính toán kỹ.

Tần phía tây có đất Ba đất Thục, thuyền lớn chở lương, khởi từ Vấn Sơn, theo sông đi xuống, tới Sở là hơn ba nghìn dặm. Dùng thuyền lớn chở quân lính, một thuyền chở được năm mươi người và lương ăn trong ba tháng, xuôi dòng đi xuống, một ngày đi được hơn ba trăm dặm, tuy số dặm nhiều, nhưng không phí sức trâu ngựa, chưa đến mười ngày đã áp sát Hãn Quan. Hãn Quan kinh động, từ biên giới sang phía đông thành nào cũng phải phòng thủ, Kiềm Trung và Vu Quận không phải của vua nữa. Tần cất quân ra Vũ Quan, xuống phía nam đánh, thì đất phía bắc [Sở] bị cắt đứt. Quân Tần tấn công nước Sở, nguy khó chỉ trong ba tháng, còn Sở đợi chư hầu tiếp cứu mất hơn nửa năm, tình thế không theo kịp nhau. Xét lẽ, cậy sự cứu viện từ nước yếu, quên cái họa của Tần hùng mạnh, là điều thần lo thay cho đại vương vậy.

Đại vương từng giao chiến với người Ngô, đánh năm thắng ba, sĩ tốt tinh nhuệ đều đã chết; riêng giữ thành mới chiếm, bảo vệ dân đã đủ khổ. Thần nghe nói người có công lớn dễ gặp nguy nan, dân bị mỏi mệt tất oán người trên. Xét lẽ, giữ công lớn dễ nguy mà ôm lòng đối chọi nước Tần hùng mạnh, thần trộm thấy nguy thay cho đại vương.

Vả sở dĩ mười lăm năm Tần không kéo quân ra Hàm Cốc để tấn công Tề và Triệu là có âm mưu hợp nhất thiên hạ. Sở từng xung đột Tần, đánh nhau ở Hán Trung, người Sở bị thua, liệt vị tước hầu cầm ngọc khuê bị chết tới hơn bảy mươi người, thế là mất Hán Trung. Sở vương cả giận, dấy binh đánh úp Tần, giao chiến ở Lam Điền. Đó gọi là hai hổ tranh đấu vậy. Xét lẽ, Tần và Sở suy yếu, Hàn và Ngụy lấy sự toàn vẹn áp chế phía sau, tính ra không gì nguy hơn thế. Xin đại vương tính toán kỹ càng.

Tần đem quân xuống đánh Dương Tấn của Vệ, ắt mở toang lồng ngực thiên hạ. Đại vương đem hết quân tấn công Tống, chưa đến mấy tháng có thể lấy được, lấy Tống rồi tiến sang phía đông, mười hai chư hầu trên sông Tứ đều thuộc về đại vương.

Phàm Tô Tần – người chủ xướng thiên hạ cần dùng tín ước kết hợp tung bảo vệ vững chắc cho nhau – được phong Vũ An quân, Tướng quốc nước Yên, rồi ngầm cùng Yên vương tính mưu đánh phá Tề, chia nhau đất đai; Tô Tần vờ mắc tội, chạy khỏi Yên sang Tề, Tề vương nhân đó phong làm Tướng quốc; ở được hai năm mới biết, Tề vương cả giận, dùng xe xé xác Tô Tần ngoài chợ. Xét lẽ, dùng một Tô Tần trá ngụy mà muốn trị lý thiên hạ, hợp nhất chư hầu, không thành đã quá rõ ràng.

Nay Tần với Sở bờ cõi tiếp nhau, hai nước hình thế gần gụi. Đại vương thực nghe theo thần, thần xin khiến Thái tử nước Tần sang Sở làm con tin, Thái tử nước Sở sang Tần làm con tin, xin đem con gái vua Tần sang làm người hầu hạ quét tước, đem đô ấp vạn nhà làm ấp thang mộc, mãi kết thành nước anh em, trọn đời không đánh lẫn nhau. Thần cho là không kế nào tiện hơn kế ấy vậy.”

Bấy giờ Sở vương đã được Trương Nghi, phải cắt đất Kiềm Trung cho Tần, định bụng đồng ý, Khuất Nguyên can rằng: “Trước đây đại vương bị Trương Nghi lừa dối, nay Trương Nghi đến, thần cho là đại vương sẽ nấu chết hắn; nay đã không nỡ giết, lại nghe theo tà thuyết, không được đâu.” Hoài vương nói: “Đồng ý với Nghi mà được Kiềm Trung, mối lợi tốt vậy, không thể đồng ý rồi lại bội ước.” Cho nên rốt cuộc đồng ý với Trương Nghi, kết thân Với Tần.

Trương Nghi rời Sở, nhân đó đến Hàn, thuyết Hàn vương rằng:

“Đất Hàn hiểm trở, dân sống trên núi, ngũ cốc chỉ có đỗ và lúa mạch, thức ăn của dân chúng đại để có cơm đỗ, canh rau hoắc. Mất mùa một năm, dân đến tấm mẳn cũng không đủ no. Đất rộng không quá chín trăm dặm, lương tích trữ không đủ hai năm. Ước tính quân lính của đại vương, cả thảy không quá ba mươi vạn, gồm cả đám khuân vác, tạp dịch. Trừ quân trấn giữ biên giới đồn lũy các nơi, chẳng qua không quá hai chục vạn mà thôi. Nước Tần trên trăm vạn quân, hơn nghìn cỗ xe, hàng vạn ngựa chiến, đám quân hổ bôn dũng mãnh đấu trần xông xáo, cầm kích hăng hái, nhiều không kể xiết. Ngựa nước Tần tốt, quân binh thì đông, khoảng cách giữa chân trước ngựa với vó sau cách xa ba tầm, nhiều không sao kể xiết. Quân sĩ Sơn Đông mặc giáp đội trụ để nghênh chiến, quân Tần bỏ giáp cởi trần xông vào quân địch, tay trái giữ đầu địch, tay phải bắt sống địch. Xét lẽ, quân Tần với quân Sơn Đông, giống như Mạnh Bôn đấu với phường nhát gan; So về sức vóc, cũng như Ô Hoạch đấu với đám con trẻ vậy. Xét lẽ, đem dũng sĩ như Mạnh Bôn, Ô Hoạch đi đánh nước yếu không thần phục, khác nào dùng sức nặng ngàn cân đè trên quả trứng, ắt không thể may mắn [thoát được].

Quần thần các nước chư hầu không liệu định nước mình đất hẹp, lại nghe lời ngon ngọt của người theo hợp tung, cùng tô vẽ nhau, đều phấn chấn nói 'nghe theo kế của tôi sẽ mạnh như bá chủ thiên hạ.' Không quan tâm đến lợi ích lâu dài của xã tắc mà nghe theo lời nói trong giây lát, khiến chúa mình lầm lẫn, không lỗi nào hơn thế.

Đại vương không thờ Tần, Tần đem quân xuống chiếm Nghi Dương, chặt đứt Thượng Địa của Hàn, đông lấy Thành Cao và Huỳnh Dương, thì cung Hồng Đài, vườn Tang Lâm không còn của đại vương nữa. Vây khốn Thành Cao, cắt đứt Thượng Địa, đất nước của đại vương bị chia cắt. Trước thờ Tần thì yên, không thờ Tần thì nguy. Ôi, tạo nên tai họa mà cầu được phúc báo, kế nông mà oán sâu, chống Tần mà thuận theo Sở, tuy muốn không mất cũng không được.

Cho nên kế cho đại vương, không gì bằng theo Tần. Tần muốn làm suy yếu không nước nào bằng Sở, có thể làm Sở suy yếu không nước nào khác ngoài Hàn, không phải vì Hàn mạnh hơn Sở, mà vì địa thế vậy. Nay đại vương ngoảnh mặt về tây mà thờ Tần để đánh Sở, Tần vương ắt mừng. Xét lẽ đánh Sở để lợi về đất, chuyển họa mà làm Tần vui, không kế nào tiện hơn thế.”

Hàn vương theo kế của Trương Nghi. Trương Nghi về báo, Tần Huệ vương phân phong cho Nghi năm ấp, hiệu là Vũ Tín quân. Sai Trương Nghi sang phía đông, thuyết Tề Mẫn vương rằng:

“Nước mạnh trong thiên hạ không nước nào hơn Tề, đại thần dân chúng giàu có yên vui. Thế nhưng, người dâng kế cho đại vương, đều là cách nói trong nhất thời, không xét đến lợi ích trăm đời. Người theo hợp tung nói với đại vương, ắt cho 'Tề phía tây có Triệu hùng mạnh, nam có Hàn và Lương. Tề là nước gần biển, đất rộng dân đông, quân mạnh binh hùng, tuy có trăm Tần, có làm gì được Tề đâu.' Đại vương cho thuyết đó hay, mà không xét bản chất đích thực. Người theo hợp tung cấu kết bè đảng, không ai không coi hợp tung là hay. Thần nghe nói, Tề và Lỗ đánh nhau ba trận Lỗ thắng cả ba, đất nước nguy vong đi liền theo đó, tuy có danh nghĩa chiến thắng, nhưng thực lại là mất nước. Sao thế? Vì Tề lớn Lỗ nhỏ vậy. Nay Tần với Tề, cũng giống Tề với Lỗ vậy. Tần và Triệu đánh nhau trên sông Hoàng Hà và sông Chương, đánh hai trận Triệu thắng cả hai; đánh nhau ở dưới Bà Ngô, đánh liền hai trận, lại thắng cả Tần. Sau bốn trận đánh, sĩ tốt nước Triệu chết mấy mươi vạn, chỉ còn Hàm Đan, tuy mang danh chiến thắng nhưng nước bị phá rồi. Sao vậy? Vì Tần mạnh Triệu yếu vậy.

Nay Tần và Sở gả con lấy vợ, là nước anh em. Hàn dâng đất Nghi Dương, Lương góp vùng Hà Ngoại, Triệu vào Miễn Trì chầu, cắt Hà Gian thờ Tần. Đại vương không thờ Tần, Tần xua Hàn và Lương đánh phía nam Tề, toàn bộ quân Triệu vượt sông Thanh Hà, nhắm đến Bác Quan thì Lâm Truy, Tức Mặc không còn là đất của đại vương nữa. Một ngày kia đất nước bị tấn công, dẫu muốn thờ Tần cũng không được nữa. Cho nên xin đại vương hãy tính cho kỹ vậy.”

Tề vương nói: “Nước Tề xa xôi hẻo lánh, ẩn cư tận cùng Đông Hải, chưa từng nghe đến lợi ích lâu dài của xã tắc.” Bèn đồng ý với Trương Nghi.

Trương Nghi rời Tề, sang phía tây thuyết Triệu vương:

“Tần vương tệ ấp sai sứ thần dâng kế sách ngu muội lên đại vương. Đại vương thống lãnh thiên hạ chống Tần, khiến mười lăm năm quân Tần không dám ra khỏi cửa Hàm Cốc. Uy của đại vương lan khắp Sơn Đông, tệ ấp e sợ khiếp hãi, chỉnh giáp rèn binh, chỉnh đốn ngựa xe, tập cưỡi ngựa bắn cung, ra sức làm ruộng, tích trữ lương thảo, giữ gìn bốn phương, sống trong buồn sợ, không dám khinh động, chỉ vì đại vương có ý trách lỗi vậy.

Nay đem sức của đại vương, cất quân Ba, Thục, chiếm lấy Hán Trung, bao vây Lưỡng Chu, di dời cửu đỉnh, giữ bến Bạch Mã. Tần tuy xa nơi hẻo lánh, nhưng lòng buồn giận đã lâu. Nay Tần có đám giáp rách binh tan, quân ở Miễn Trì, xin vượt sông Hà, băng qua sông Chương, chiếm lấy Bà Ngô, hội quân dưới Hàm Đan, xin giao chiến ngày Giáp Tý, để chấn chỉnh việc vua Trụ nhà Ân, kính sai sứ thần báo trước đại vương.

Phàm Tô Tần chủ hợp tung được nhà vua tin tưởng. Tô Tần mê hoặc chư hầu, đổi trắng thành đen, lấy đen làm trắng, muốn phản nước Tề, tự khiến bị dùng xe xé xác ngoài chợ. Rõ ràng thiên hạ không thể hợp nhất. Nay Sở và Tần là nước anh em, còn Hàn và Lương xưng làm bề tôi phên giậu phía đông, Tề hiến đất có nhiều cá và muối, là chặt đứt tay phải của Triệu vậy. Ôi, tay phải đã đứt còn đòi đấu với người, mất hết bè đảng thì trơ trọi một mình, muốn không gặp nguy há có được chăng?

Nay Tần phái ba tướng quân: tướng thứ nhất, chẹn ngang Ngọ Đạo, báo Tề sai dấy binh vượt Thanh Hà, đóng quân phía đông Hàm Đan; tướng thứ hai, đóng ở Thành Cao, xua quân Hàn và Lương đóng ở Hà Ngoại; tướng thứ ba, đóng tại Miễn Trì. Hẹn bốn nước hợp nhất đánh Triệu, Triệu bị phá, ắt bồn nước chia nhau đất đai. Cho nên, không dám che giấu tình báo cho đại vương biết trước. Thần trộm nghĩ kế cho đại vương, không gì bằng gặp Tần vương ở Miễn Trì, gặp nhau rồi cùng ước định lời thề, yêu cầu án binh không được tấn công. Xin đại vương hãy quyết định kế sách.”

Triệu vương nói: “Thời tiên vương ta, Phụng Dương quân chuyên quyền cậy thế, dối lừa tiên vương, tự chuyên chính sự, quả nhân do sư phó dạy, không được mưu tính việc nước. Tiên vương qua đời, quả nhân tuổi nhỏ, cũng mới lên ngôi, trong lòng vốn đã trộm ngờ, cho rằng một lòng theo hợp tung mà không thờ Tần, không phải lợi ích lâu dài của đất nước. Ta sẽ thay đổi tâm ý, cắt đất tạ lỗi chuyện cũ để thờ Tần. Đang định chuẩn bị xe ngựa lên đường, đúng lúc được nghe chỉ bảo sáng rõ của sứ giả.” Triệu vương đồng ý với Trương Nghi. Trương Nghi ra đi.

[Trương Nghi] lên phía bắc tới nước Yên, thuyết Yên Chiêu vương rằng:

“Nước đại vương thân cận không nước nào bằng Triệu. Xưa Triệu Tương tử từng gả chị gái cho vua nước Đại, ý muốn chiếm Đại, hẹn vua nước Đại gặp nhau ải Cú Chú. Bèn lệnh thợ làm muôi vàng, có phần chuôi dài, có thể cầm đánh người khác. [Triệu Tương tử] uống rượu với vua Đại, ngầm sai đầu bếp: 'Rượu đã vui say, dâng canh nóng lên, ngược cán muôi lại để đánh nó.' Thế là nhân lúc rượu vui say, canh được dâng lên, đầu bếp múc canh, nhân quay ngược cán muối, đánh giết vua Đại, óc bắn đầy đất. Người chị nghe tin, nhân mài chiếc trâm liền tự đâm mình, nên nay có núi Ma Kê (mài trâm). Vua nước Đại chết, thiên hạ không ai không nghe.

Ôi, Triệu vương độc ác bất kể thân sơ, đại vương đã thấy rõ, thế mà còn cho là có thể kết thân ư? Triệu dấy binh đánh Yên, rồi vây kinh đô nước Yên, uy hiếp đại vương, đại vương cắt mười thành để tạ tội. Nay Triệu vương đã vào chầu ở Miễn Trì, hiến đất Hà Gian cho Tần. Nay đại vương không thờ Tần, Tần đem quân xuống Vân Trung, Cửu Nguyên, đuổi Triệu đánh Yên, thì Dịch Thủy, Trường Thành không còn là của đại vương nữa.

Lúc này Triệu cũng như quận huyện của Tần vậy, không dám khinh suất cất quân. Nay đại vương thờ Tần, vua Tần ắt vui, Triệu không dám vọng động, thế là tây có Tần hùng mạnh tiếp viện, nam không phải ôm mối lo Tề, Triệu, vậy xin đại vương hãy tính cho kỹ.”

Yên vương nói: “Quả nhân là man di nơi xa xôi hẻo lánh, đàn ông tuy to cao mà như đứa con trẻ, lời nói chưa đủ chọn được kế thỏa đáng. Nay may được thượng khách chỉ giáo, xin quay mặt về tây thờ Tần, hiến năm thành cuối dãy Hằng Sơn.” Yên vương nghe theo Trương Nghi. Nghi quay về báo, chưa đến Hàm Dương thì Tần Huệ vương chết, Vũ vương lên ngôi. Vũ vương từ hồi làm Thái tử đã không thích Trương Nghi, đến khi lên ngôi, quần thần gièm Trương Nghi rằng: “Không thể tin dùng, chỉ chuyên bán nước để mong chủ hài lòng. Nếu Tần lại trọng dụng, e thiên hạ chê cười.” Chư hầu nghe nói Trương Nghi bị [Tần] Vũ vương xa lánh, đều phản bội liên hoành, quay về hợp tung.

Tần Vũ vương năm đầu, quần thần ngày đêm oán ghét Trương Nghi không thôi, lời trách móc của Tề lại vang đến. Trương Nghi sợ bị giết, bèn nói với Tần Vũ vương: “Nghi có ngu kế, xin dâng đại vương.” Tần vương hỏi: “Kế gì?" Nghi đáp: “Kế sách cho xã tắc nước Tần, khi phương đông có biến lớn, sau đại vương có thể cắt được nhiều đất. Nay nghe nói Tề vương rất ghét Nghi, Nghi ở đâu ắt dây quân đánh đó. Nên Nghi xin đem thân hèn kém này đến Lương, Tề ắt đem quân đánh Lương. Quân Lương và Tề dàn trận đánh nhau dưới thành mà không thể thu quân, đại vương lén đánh nước Hàn, vào Tam Xuyên, đem quân ra Hàm Cốc mà không cần đánh, kéo đến Chu thì ắt đồ tế phải đem ra. Cậy danh thiên tử, lấy các địa đồ, sách vở, là nghiệp vương vậy.” Tần vương cho là phải, bèn sắm đủ ba mươi cỗ binh xa, cho Nghi sang Lương. Quả nhiên Tề dấy quân đánh Lương. Lương Ai vương sợ. Trương Nghi nói: “Đại vương chớ lo, thần xin khiến Tề bãi binh.” Bèn sai xá nhân Phùng Hỷ sang Sở, mượn danh sứ giả sang Tề, nói với Tề vương: “Đại vương rất ghét Trương Nghi, thế nhưng đại vương ủy thác cho Nghi ở Tần là hậu đãi đấy?” Tề vương hỏi: “Quả nhân ghét Nghi, Nghi ở đâu sẽ đem quân đánh đó, sao lại nói là ủy thác cho Nghi?” Đáp rằng: “Đó là đại vương ủy thác cho Nghi vậy. Xét lẽ, Nghi đi khỏi [Tần], ước hẹn Tần vương rằng: 'Kế sách cho xã tắc nước Tần, khi phương đông có biến lớn, sau đại vương có thể cắt được nhiều đất. Nay nghe nói Tề vương rất ghét Nghi, Nghi ở đâu ắt dây quân đánh đó. Nên Nghi xin đem thân hèn kém này đến Lương, Tề ắt đem quân đánh Lương. Quân Lương và Tề dàn trận đánh nhau dưới thành mà không thể thu quân, đại vương lén đánh nước Hàn, vào Tam Xuyên, đem quân ra Hàm Cốc mà không cần đánh, kéo đến Chu thì ắt đồ tế phải đem ra. Cậy danh thiên tử, lấy các địa đồ, sách vở, là nghiệp vương vậy.' Tần vương cho là phải, sắm đủ ba mươi cỗ binh xa cho Nghi sang Lương. Nay Nghi ở Lương, đại vương quả nhiên đánh Lương, ấy là đại vương trong khiến nước suy yếu ngoài đánh nước đồng minh, mở rộng cho địch mà tự chuốc nguy hiểm, còn khiến Tần vương tin tưởng Trương Nghi hơn. Nên thần mới gọi là 'ủy thác cho Nghi’ vậy.”

Tề vương nói: “Phải.” Bèn sai bãi binh.

Trương Nghi làm Tướng quốc nước Ngụy được một năm, chết ở nước Ngụy.

Trần Chẩn

Trần Chẩn là kẻ sĩ du thuyết, cùng Trương Nghi phụng sự Tần Huệ vương, đều được quý trọng, tranh giành sủng ái, Trương Nghi nói xấu Trần Chẩn với Tần vương: “Chẩn coi trọng của cải, xem nhẹ đi sứ giữa Tần và Sở, vốn hai nước có quan hệ bang giao. Nay Sở không thêm thân Tần mà thân Chẩn, Chẩn toan tính cho bản thân nhiều, nghĩ đến đại vương lại ít. Vả Chẩn muốn bỏ Tần sang Sở, đại vương có nghe việc ấy chăng?” Tần vương hỏi Trần Chẩn: “Ta nghe nói ông muốn bỏ Tần sang Sở, có việc ấy chăng?" Chẩn đáp: “Có.” Tần vương nói: “Lời Nghi nói quả nhiên chính xác.” Chẩn nói: “Không phải chỉ riêng Trương Nghi biết, những kẻ sĩ hành đạo đều biết. Xưa kia Tử Tư trung thành với vua mà thiên hạ tranh nhau làm bề tôi, Tăng Sâm giữ đạo hiếu với cha mẹ mà thiên hạ nguyện làm con. Cho nên bán kẻ hầu mà kẻ hầu chẳng cần rời làng đã có người mua về, đó là người hầu tốt; đuổi vợ ra khỏi nhà mà người vợ đó lại lấy người ở trong làng, đó là người vợ tốt. Nay Chẩn bất trung với đại vương, sao Sở lại cho Chẩn là trung thành được? Và kẻ trung thần mà bị ruồng bỏ, Chẩn không đến Sở thì biết về đâu?” Tần vương cho lời Chẩn là phải, bèn đối đãi tử tế.

[Chẩn] ở Tần một năm, Tần Huệ vương rốt cuộc vẫn cho Trương Nghi làm Tướng quốc, Trần Chẩn liền sang Sở. Sở chưa trọng dụng, sai Thần Chẩn đi sứ sang Tần. Qua đất Lương, Chẩn muốn yết kiến Tê Thủ. Tê Thủ từ tạ không gặp. Chẩn nói: “Tôi có việc mới đến, sao ngài không gặp Chẩn, Chẩn sẽ đi, không đợi đến hôm khác đâu.” Tê Thủ gặp, Trần Chẩn hỏi: “Sao ngài thích uống rượu vậy?" Tế Thủ đáp: “Rỗi việc thôi.” Hỏi: “Tôi sẽ làm cho ngài có nhiều việc, được không?” Tê Thủ hỏi: “Làm sao?" Đáp: “[Tướng quốc nước Ngụy] Điền Nhu hợp tung các nước chư hầu, Sở vương nghi ngờ, chưa tin ông ta. Ông hãy nói với Sở vương: 'Thần và vua các nước Yên, Triệu vốn có qua lại, mấy lần sứ thần đến, nói không có việc gì sao không gặp, xin đại vương cho thần lên đường.' Đại vương tuy đồng ý với ông, ông cũng đừng xin nhiều xe, chỉ dùng ba mươi cỗ xe, bày hàng trước sân, nói phao lên là sẽ sang Yên và Triệu.” Yên và Triệu nghe tin, chạy xe đến báo vua nước họ, sai người nghiênh đón Tê Thủ. Sở vương hay tin cả giận, nói: “Điền Nhu có ước định với quả nhân, thế mà Tê Thủ lại đến Yên, Triệu, ấy là lừa dối ta vậy.” Vì giận nên không nghe kiến nghị [của Điền Nhu] nữa. Tề nghe nói Tê Thủ lên phía bắc, sai người đem chính sự ủy thác cho. Tê Thủ bèn lên đường, việc của Tướng quốc ba nước đều do Tê Thủ định đoạt. Chẩn bèn sang Tần.

Hàn, Ngụy đánh nhau, một năm chưa dứt. Tần Huệ vương muốn tiếp cứu, bèn hỏi tả hữu, người nói cứu là hơn, người nói không cứu thì hơn, Huệ vương chưa quyết được. Đúng lúc Trần Chẩn đến Tần, Huệ vương hỏi: “Ông bỏ quả nhân sang Sở, có nhớ gì quả nhân không?” Trần Chẩn đáp: “Đại vương nghe chuyện Trang Tích nước Việt chưa?” Vua đáp: “Chưa nghe.” Chẩn nói: “Trang Tích người Việt, làm quan đến tước cầm ngọc khuê nước Sở, không lâu liền đổ bệnh. Sở vương nói: 'Tích vốn người quê mùa nước Việt, nay làm quan đến tước cầm ngọc khuê ở Sở, giàu sang rồi, còn nghĩ đến Việt không?' Trung tạ[3] đáp: 'Phàm khi ốm, người ta hay nghĩ về chuyện đã qua. Trang Tích nhớ Việt thì nói tiếng nước Việt, không nhớ Việt thì nói tiếng nước Sở.' Sai người đến nghe xem, Trang Tích đang nói tiếng nước Việt. Nay thần tuy bị đuổi sang Sở, há có thể không nói tiếng Tần ư?” Huệ vương nói: “Phải. Nay Hàn và Ngụy đánh nhau, đầy năm chưa dứt, có người bảo nên cứu, người nói không nên cứu, quả nhân chưa quyết, mong ngài tính kế cho chủ mình rồi, hãy tính kế giúp quả nhân.” Trần Chẩn đáp: “Có ai từng đem chuyện Biện Trang tử đâm hổ nói với đại vương chưa? Biện Trang tử muốn đâm hổ, đứa nhỏ trong quán ngăn lại, nói: “Hai con hổ định ăn thịt con trâu, miếng ngon ắt phải tranh nhau, tranh nhau tất phải đánh nhau, đánh nhau khiến con lớn bị thương, con nhỏ bị chết, chỉ còn con bị thương thì đâm nó, ra tay một lần được cả hai hổ? Biện Trang tử cho là phải, đứng chờ. Lát sau, hai hổ quả nhiên đấu nhau, con lớn bị thương, con nhỏ bị chết. Biện Trang tử nhằm con bị thương mà đâm, ra tay một lần được hai con hổ. Nay Hàn và Ngụy đánh nhau, đầy năm chưa thôi, như thế ắt nước lớn bị thương, nước nhỏ thì mất, nhắm nước bị thương mà đánh, ra tay một lần giành được hai nước. Việc đó cũng như Biện Trang tử đâm hổ vậy. Chủ của thần và đại vương có gì khác đâu.” Huệ vương nói: “Phải.” Thế rồi không cứu. Nước lớn quả nhiên bị thương, nước nhỏ diệt vong, Tần dấy binh tiến đánh, chế ngự đại cục. Đó là kế của Trần Chẩn vậy.

Công Tôn Diễn

Tê Thủ, người Âm Tấn nước Ngụy, tên Diễn, họ Công Tôn. Ông không thiện cảm với Trương Nghi.

Trương Nghi vì Tần mà đến Ngụy, Ngụy vương phong làm Tướng quốc. Tê Thủ thấy bất lợi, nên sai người nói với Công Thúc nước Hàn: “Trương Nghi đã liên kết Tần và Ngụy, ông ta nói: 'Ngụy đánh Nam Dương, Tần đánh Tam Xuyên.' Ngụy vương sở dĩ quý trọng Trương Nghi, vì muốn được đất Hàn vậy. Vả Nam Dương của Hàn đã mất, sao ngài không giao cho để Diễn lập công, như thế quan hệ giữa Tần và Ngụy có thể sứt mẻ. Vậy Ngụy ắt đánh Tần mà bỏ Nghi, nhận Hàn cho Diễn làm Tướng quốc.” Công Thúc cho là tiện, nhân đó giao cho Tê Thủ để lập công. Quả nhiên [Tê Thủ] được làm Tướng quốc nước Ngụy, Trương Nghi phải rời đi.

Vua nước Nghĩa Cừ vào chầu nước Ngụy. Tê Thủ nghe nói Trương Nghi lại làm Tướng quốc nước Tần, đâm ra ghen ghét. Tê Thủ bèn nói với vua Nghĩa Cừ: “Đường xa không trở lại được, vậy xin nói rõ sự tình.” Rồi bảo: “Trong nước vô sự, Tần đốt phá quấy nhiễu nước ngài; trong nước xảy ra chuyện, Tần nhẹ đường sứ giả mà trọng đường tài vật để thờ vua nước ngài.” Sau, năm nước đánh Tần, Trần Chẩn bảo Tần vương: “Vua nước Nghĩa Cừ là vua hiền trong các nước man di, chẳng bằng hối lộ để ông ta yên tâm.” Tần vương nói: “Phải.” Bèn đem nghìn xấp gấm vóc, trăm mỹ nữ tặng vua Nghĩa Cừ. Vua Nghĩa Cừ triệu quần thần đến bàn: “Đây chính là điều Công Tôn Diễn từng nói chăng?” Bèn dấy binh tập kích Tần, cả phá quân Tần ở dưới lý Bá.

Sau khi Trương Nghi chết, Tê Thủ làm Tướng quốc nước Tần, từng đeo ấn tín Tướng quốc năm nước, làm trưởng minh ước.

Thái sử công bàn rằng: Tam Tấn nhiều kẻ sĩ quyền biến, những kẻ hợp tung, liên hoành, làm mạnh nước Tần đại để đều người Tam Tấn. Xét lẽ, việc Trương Nghi làm còn quá đáng hơn Tô Tần, nhưng người đời lại ghét Tô Tần, vì ông ta chết trước, Nghi còn vạch rõ sở đoản của Tô Tần đặng phụ giúp cho thuyết của mình, hoàn thành đường lối liên hoành. Nói tóm lại, hai người thực là những kẻ sĩ đảo điên nguy hại cho nước vậy!

[1] Người Trung Quốc xưa cho mình là văn minh, các nước xa xôi ở phía bắc gọi là “địch", nam là "man", đông là "di", tây là "nhung", đều bị coi là man di, lạc hậu.

[2] Kiệt và Trụ đều là các bạo chúa đời cuối thời Hạ và cuối đời Thương. Đây ý nói vua các nước này độc ác, tàn hại dân chúng chẳng khác gì Kiệt và Trụ khi xưa.

[3] Trung tạ: cũng viết là "Trung xạ", là quan thị ngự, hầu hạ bên cạnh vua.

Phạm Văn Ánh (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.