Khuất Nguyên
Khuất Nguyên tên là Bình, cùng họ vua Sở, làm chức Tả đồ[1] thời Sở Hoài vương. Ông biết rộng nhớ nhiều, hiểu rõ lẽ trị loạn, giỏi về từ lệnh. Khi vào triều thì cùng Sở vương bàn việc nước, ban hiệu lệnh; khi ra ngoài thì tiếp đãi tân khách, ứng đối chư hầu. Sở vương rất tín nhiệm.
Thượng Quan Đại Phu ngang hàng, tranh sủng nên trong lòng ghét tài ông. Hoài vương sai Khuất Nguyên chế định pháp lệnh, Khuất Bình mới làm bản thảo, chưa xong, Thượng Quan Đại Phu thấy vậy muốn cướp lấy, Khuất Bình không cho, nhân đó gièm rằng: “Đại vương sai Khuất Bình chế định pháp lệnh, mọi người không ai không biết, mỗi lệnh ban ra, Bình tự khoe công minh, cho là ngoài ta không ai làm nổi!” Sở vương giận rồi xa lánh Khuất Bình.
_h10.jpg)
Khuất Bình giận vua nghe không sáng suốt, để lời sàm nịnh che lấp trí sáng, khiến kẻ gian tà hại đến việc công, không dung nạp người chính trực, cho nên ưu sầu u uẩn rồi làm sách Ly tao. Ly tao chính là ưu sầu vì bị xa lánh vậy. Trời là khởi đầu của người; cha mẹ là gốc của người. Người cùng quẫn thì trở về gốc, vì thế khi khốn khổ, mệt mỏi cùng cực, chẳng ai không gọi trời; khi gặp bi thương thống khổ, chẳng ai không gọi cha mẹ. Khuất Bình đi thẳng theo chính đạo, kiệt trung tận trí phụng sự vua mình, bị kẻ sàm nịnh ly gián, có thể gọi là cùng quẫn vậy. Tín mà bị ngờ, trung mà bị báng, há không oán chăng? Ly tao do Khuất Bình viết, đại để xuất phát từ niềm oán giận. Thơ “Quốc phong” hiếu sắc mà không dâm, thơ “Tiểu nhã” ai oán mà không loạn[2]. Như Ly tao, gặp được cả hai vậy. Trên xưng tụng Đế Cốc, dưới nói Tề Hoàn Công, giữa thuật việc Thành Thang, Vũ vương, để phúng thích sự đời. Nêu rõ sự lớn lao của đạo đức, cái quán xuyến trong đạo lý trị loạn, không gì không thấu triệt. Văn rất gọn, lời lại sâu, chí thuần khiết, đức hạnh liêm, văn tả việc nhỏ mà hàm nghĩa lớn lao, dẫn việc gần gũi mà ý nghĩa sâu rộng. Chí ông thuần khiết, nên hay nói những loài hoa thơm; đức hạnh thanh liêm, nên chết rồi vẫn không được dung. Thân ở chốn sình lầy, như con ve lột xác thoát khỏi nhơ bẩn, ngao du ngoài chốn bụi trần, không bị dính bùn nhơ của thế tục, thanh bạch trong trẻo không nhiễm hôi tanh. Suy từ chí ấy, có thể rạng tỏ cùng nhật nguyệt vậy.
Khuất Bình bị truất, sau đó Tần muốn đánh Tề, Tề với Sở hợp tung, Huệ vương lo lắng, bèn lệnh Trương Nghi vờ bỏ Tần, mang nhiều tiền của sang hạ mình thờ Sở, nói: “Tần rất ghét Tề, nhưng Tề và Sở hợp tung, nếu Sở có thể tuyệt giao với Tề, Tần nguyện dâng sáu mươi dặm đất Thương, Ư”. Sở Hoài vương tham lam tin lời Trương Nghi, liền tuyệt giao với Tề, sai sứ đến Tần nhận đất. Trương Nghi lừa rằng: “Nghi và Sở vương giao ước sáu dặm, chứ không nghe sáu trăm dặm.” Sứ giả nước Sở tức giận trở về báo với Hoài vương. Hoài vương nổi giận, dấy đại quân đánh Tần. Tần phát binh đánh Sở, cả phá quân Sở ở sông Đan, sông Tích, chém tám vạn thủ cấp, bắt sống tướng Sở là Khuất Cái, chiếm đất Hán Trung của Sở. Hoài vương đem hết quân trong nước tiến sâu vào đánh Tần, giao chiến tại Lam Điền. Ngụy hay tin, đánh úp Sở, kéo đến đất Đặng. Quân Sở sợ, từ Tần rút về. Còn Tề rốt cuộc vì giận nên không cứu Sở, Sở cực kỳ nguy khốn.
Năm sau, Tần cắt đất Hán Trung cho Sở để cầu hòa. Sở vương nói: “Không cần được đất, chỉ cần Trương Nghi là hả dạ rồi.” Trương Nghi nghe vậy, bèn nói: “Dùng một Nghi mà được đất Hán Trung, thần xin sang Sở.” Trương Nghi sang Sở, lại dùng hậu lễ đút lót bề tôi đương quyền là Cận Thượng, rồi bày quỷ kế lung lạc sủng thiếp Trịnh Tụ của Hoài vương. Hoài vương lại nghe theo Trịnh Tụ, thả Trương Nghi về. Bấy giờ Khuất Bình đã bị xa lánh, không được phục chức, đi sứ sang Tề, trở về can Hoài vương: “Sao không giết Trương Nghi?” Hoài vương hối hận, đuổi theo Trương Nghi nhưng không kịp.
Về sau, chư hầu cùng đánh Sở, đại phá được, giết tướng Sở là Đường Muội.
Bấy giờ Tần Chiêu vương kết thông gia với Sở vương, muốn gặp mặt Hoài vương. Hoài vương định đi, Khuất Bình nói: “Tần là nước hổ lang, không thể tin được, không đi thì hơn.” Con nhỏ của Hoài vương là Tử Lan khuyên đi: “Sao có thể khiến Tần không vui.” Hoài vương quyết đi. Vào Vũ Quan, Tần phục quân cắt đường lui, nhân đó giữ Hoài vương để đòi cắt đất. Hoài vương giận, không chịu. Trốn sang Triệu, Triệu không chứa. Trở lại Tần, cuối cùng chết ở Tần, được mang về Sở mai táng.
Con trưởng là Khoảnh Tương vương lên ngôi, phong cho em là Tử Lan làm Lệnh doãn. Người Sở đổ lỗi cho Tử Lan trong việc khuyện Hoài vương sang Tần để rồi không về được.
Khuất Bình ghét việc đó, tuy bị xua đuổi, nhưng luôn nghĩ đến Sở, lòng lo cho Hoài vương, không sao quên được, muốn trở về, hy vọng nhà vua tỉnh ngộ, phong tục được thay đổi. Ông muốn bảo vệ nhà vua, chấn hưng đất nước, nên muốn xoay chuyển cục diện, trong một thiên ba lần nhắc đến chí hướng đó. Cuối cùng không biết làm sao, nên không thể về được, từ đó có thể thấy sau rốt Hoài vương vẫn không tỉnh ngộ. Người làm vua dù tài trí hay ngu muội, hiền năng hay kém cỏi, không ai không muốn có trung thần phụ giúp, cất nhắc người hiền năng phò tá, nhưng chuyện nước mất nhà tan cứ nối tiếp, còn bậc vua thánh trị nước nhiều đời không thấy, vì cái gọi là trung mà không phải trung, cái gọi là hiền mà không phải hiền vậy. Hoài vương không biết trung thần, cho nên trong bị Trịnh Tụ mê hoặc, ngoài bị Trương Nghi dối lừa, xa lánh Khuất Bình, tin tưởng Thượng Quan Đại Phu và Lệnh doãn Tử Lan. Quân thua cắt đất, mất liền sáu quận, thân làm khách rồi chết ở Tần, bị thiên hạ chê cười, là họa của việc không biết người vậy. [Kinh] Dịch viết: “Giếng trong mà chẳng ăn, để lòng ta thương xót, có thể múc nước mà dùng. Vua sáng, thảy đều được phúc.”[3] Vua không sáng, há được phúc ru?
Lệnh doãn Tử Lan hay chuyện cả giận, sai Thượng Quan Đại Phu bài xích Khuất Nguyên với khoảnh Tương vương, Khoảnh Tương vương giận, đày đi xa.
Khuất Nguyên đến bên bờ sông, xõa tóc vừa đi vừa ngâm nga, vẻ mặt tiều tụy, dáng hình khô héo. Ông chài trông thấy thì hỏi: “Ngài chẳng phải Tam Lư đại phu đấy ư? Sao lại đến nông nỗi này?” Khuất Nguyên đáp: “Đời đục cả riêng mình ta trong, người say cả riêng mình ta tỉnh, nên bị xua đuổi.” Ông chài nói: “Bậc thánh nhân, không bị ngưng trệ vào vật mà có thể thay đổi theo đời. Đời đục cả, sao không nương dòng mà dâng sóng? Người say cả, sao không ăn bã húp rượu nhạt? Cớ sao ôm ngọc cẩn, cầm ngọc du[4], tự khiến người ta đuổi đi?” Khuất Nguyên đáp: “Ta nghe nói, người mới gội đầu ắt phủi mũ, người mới tắm ắt phủi quần áo, con người đâu chịu đem tấm thân trong sạch cho vật làm nhơ bẩn đâu! Thà gieo mình xuống sông, chôn thây bụng cá chứ không để phẩm cách thanh cao bị đời vấy bẩn!"
Bèn làm bài phú “Hoài sa”, lời như sau:
[Phiên âm:]
Đào đào mạnh hạ hề, thảo mộc mãng mãng.
Thương hoài vĩnh ai hề, cốt tồ nam thổ.
Huyễn hề yểu yểu, khổng tĩnh u mặc.
Oan kết vu chẩn hề, ly mẫn chi trường cúc;
Phủ tình hiệu chí hề, phủ truất dĩ tự ức.
***
Ngoan phương dĩ vi viên hề, thường độ vị thế;
Dịch sơ bản do hề, quân tử sở bỉ.
Chương hoạch chức mặc hề, tiến độ vị cải;
Nội trực chất trong hề, đại nhân sở thịnh.
Xảo tượng bất chước hề, thục sát kỳ quỹ chính?
Huyền văn u xứ hề, mông vị chi bất chương;
Ly Lâu vị đệ hề, cổ dĩ vị vô minh.
Biến bạch nhi vi hắc hề, đảo thượng dĩ vi hạ.
Phượng hoàng tại nô hề, kê trĩ tường vũ.
Đồng nhu ngọc thạch hề, nhất khái nhi tương lượng.
Phù đảng nhân chi bỉ đố hề, khương bất tri ngô sở tang.
***
Nhậm trọng tải thịnh hề, hãm trệ nhi bất tế;
Hoàn cẩn ác du hề, cùng bất đắc dư sở thị.
Ấp khuyển quần phệ hề, phệ sở quái dã;
Phỉ tuấn nghi kiệt hề, cố dung thái dã.
Văn chất sơ nội hề, chúng bất tri ngô chi dị thái;
Tài phác ủy tích hề, mạc tri dư chi sở hữu.
Trọng nhân tập nghĩa hề, cẩn hậu dĩ vi phong;
Trùng Hoa bất khả ngộ hề, thục tri dư chi thung dung!
Cổ cố hữu bất tịnh hề, khởi tri kỳ cố dã?
Thang, Vũ cửu viễn hề, mạc bất khả mộ dã.
Trừng vi cải phẫn hề, ức tâm nhi tự cường;
Ly mẫn nhi bất thiên hề, nguyện chí chi hữu tượng.
Tiến lộ bắc thứ hề, nhật muội muội kỳ tương mộ;
Hàm ưu ngu ai hề, hạn chi dĩ đại cố.
Loạn viết:
Hạo hạo Nguyên, Tương hề, phân lưu cốt hề.
Tu lộ u phất hề, đạo viễn hốt hề.
Tằng ngâm hằng bi hề, vĩnh thán khái hề.
Thế ký mạc ngô tri hề, nhân tâm bất khả vị hề.
Hoài tình bão chất hề, độc vô thất hề.
Bá Nhạc ký một hề, ký tương yên trình hề?
Nhân sinh bẩm mệnh hề, các hữu sở thác hề.
Định tâm quảng chí, dư hà úy cụ hề?
Tằng thương viên ai, vĩnh thán vị hề.
Thế hỗn bất ngô tri, tâm bất khả vị hề.
Tri tử bất khả nhượng hề, nguyện vật ái hề.
Minh dĩ cáo quân tử hề, ngô tương dĩ vi loại hề.
[Dịch nghĩa:]
Tháng Năm ấm nóng chừ, cây cỏ xanh rậm.
Lòng mãi bi thương chừ, vội đến phương nam.
Tầm mắt mịt mờ, bốn bề vắng ngắt.
Oan kết đớn đau chừ, thống khổ cùng khốn;
Nhủ lòng xét chí chừ, kìm nén oan khuất.
❀ ❀ ❀
Đẽo vuông làm tròn chừ, phép thường chưa bỏ.
Thay lối ban đầu chừ, quân tử khinh bỉ.
Vạch rõ mực thước chừ, chưa đổi phép cũ;
Chính trực đôn hậu chừ, đại nhân xưng tụng.
Thợ khéo không đẽo chừ, ai xét khuôn mẫu đúng?
Vệt sáng trong tối chừ, kẻ đui rằng chẳng rõ;
Ly Lâu[5] ghé trông chừ, người mù nói không thấy.
Thay trắng thành đen chừ, đảo trên xuống thành dưới.
Phượng hoàng trong lồng chừ, gà đồng nhảy múa.
Ngọc đá lộn chung chừ, đánh đồng rồi cân đo.
Ôi, hùa nhau cùng ganh ghét, đâu hay điều tốt của ta.
❀ ❀ ❀
Mang nặng chở đầy chừ, chìm đắm khó vượt sông;
Ôm ngọc cẩn du chừ, mà khốn cùng khôn bày tỏ.
Chó trong ấp sủa ran, sủa vì thấy lạ;
Hủy báng tuấn kiệt chừ, vốn dạ người thường.
Trong ngoài tầm thường chừ, chúng chẳng biết tài lạ của ta;
Gỗ lạt chất đống chừ, chẳng ai hay cái ta có.
Chồng nhân chất nghĩa chừ, trau dồi lòng trung hậu;
Trùng Hoa[6] không thể gặp chừ, ai hay ta tự thong dong.
Xưa nay vốn khác biệt chừ, đâu hay duyên cố chứ?
Thang, Vũ xa xôi chừ, mịt mờ khôn truy mộ.
Thôi hận, hết oán chừ, kìm lòng tự gắng gỏi;
Ưu sầu mà không đổi chừ, những mong truyền khuôn thước.
Nhằm đường phương bắc chừ, trời ảm đạm sắp về tối;
Bỏ hết buồn đau chừ, cái chết đến nơi rồi.
Lời kết:
Mênh mang Nguyên, Tương chừ[7], chia dòng cuộn chảy.
Đường dài u ám chừ, nẻo xa mịt mờ.
Ngâm dài sầu lắm chừ, than thở mãi chừ.
Đời đã chẳng biết ta chừ, lòng người chẳng thể nói chừ.
Ôm ấp nỗi niềm chừ, riêng khôn sánh chừ.
Bá Nhạc đã chết chừ, ký ruổi được chăng chừ?[8]
Nhân sinh có mệnh chừ, thảy có sắp đặt chừ.
Định tâm lập chí, còn chi lo sợ chừ?
Đau thương chồng chất, mãi thở than chừ.
Đời đục chẳng biết ta, lòng không thể dò chừ.
Biết chết không thể tránh chừ, xin chớ tiếc chừ.
Nói rõ cùng quân tử chừ, ta muốn chung chí hướng chừ.
Thế rồi ôm đá tự trầm mà chết ở sông Mịch La. Sau khi Khuất Nguyên chết, Sở có bọn Tống Ngọc, Đường Lặc, Cảnh Sai, đều thích văn từ, nổi tiếng thi phú, tuy đều theo ngôn từ uyển chuyển hàm súc của Khuất Nguyên, song rốt cuộc không ai dám thẳng thắn can gián. Về sau, Sở ngày càng yếu, mấy chục năm nữa thì bị Tần diệt.
Hơn trăm năm từ sau khi Khuất Nguyên tự trầm ở sông Mịch La, nhà Hán có Giả sinh, làm Thái phó cho Trường Sa vương, qua Tương Thủy, viết văn ném xuống sông để điếu Khuất Nguyên.
Giả Nghị
Giả sinh tên là Nghị, người Lạc Dương. Mười tám tuổi, làu thông thi thư, nổi tiếng khắp quận. Ngô Đình úy lúc làm Thái thú Hà Nam, nghe danh ông tài giỏi, triệu làm môn hạ, rất được yêu quý. Lúc Hiếu Văn hoàng đế mới lên ngôi, nghe nói Thái thú Hà Nam Ngô công giỏi cai trị bậc nhất thiên hạ, vốn là đồng hương với Lý Tư nên thường theo học, bèn trưng dụng làm Đình úy. Đình úy bèn nói Giả sinh tuổi trẻ, tinh thông các sách của bách gia chư tử. Văn đế triệu vào triều cho làm quan Bác sĩ.
Bấy giờ Giả sinh hơn hai mươi tuổi, là người trẻ nhất [trong các Bác sĩ]. Mỗi khi chiếu lệnh nghị bàn, các lão tiên sinh không biết trả lời ra sao, Giả sinh ứng đối được hết, ai nấy đều thấy giống ý mình muốn nói. Các bác sĩ đều cho Giả sinh tài năng, mình không bằng. Hiếu Văn để yêu quý, cất nhắc vượt cấp, trong một năm lên đến chức Thái trung đại phu.
Giả sinh cho nhà Hán hưng khởi tính đến Hiếu Văn đế đã hơn hai mươi năm, thiên hạ hòa hợp, cần thay lịch pháp, đổi màu sắc phục, định rõ pháp chế, xác lập chức quan, chấn hưng lễ nhạc, bèn thảo hết thảy nghi thức, pháp độ, màu chuộng vàng, dùng số năm, định rõ tên các chức quan, thay đổi toàn bộ pháp độ của triều Tần. Hiếu Văn đế mới lên ngôi, tỏ ra khiêm nhượng, chưa thi hành ngay. Việc thay đổi và chế định luật lệnh, cùng quy định bắt các chư hầu thảy đều phải đến nước phong, chủ trương đều do Giả sinh đề xuất. Thế nên thiên tử nghị bàn, cho Giả sinh ở tước vị công khanh. Bọn Giang, Quán, Đông Dương hầu, Phùng Kính thảy đều ganh ghét, bèn gièm Giả sinh rằng: “Người ở Lạc Dương, tuổi nhỏ học sơ, ý muốn chuyên quyền, làm rối mọi sự.” Vì thế, thiên tử sau cũng xa lánh, không theo kiến nghị của Giả sinh, rồi cho Giả sinh làm Thái phó cho Trường Sa vương.
Giả sinh từ biệt lên đường, nghe nói Trường Sa trũng ẩm, tự cho mình thọ không được lâu, lại bị biển trích đến đó, trong lòng không vui. Đến khi qua sông Tương Thủy, làm bài phú điếu Khuất Nguyên, lời như sau:
[Phiên âm:]
Cộng thừa gia huệ hề, sĩ tội Trường Sa.
Trắc văn Khuất Nguyên hề, tự trầm Mịch La.
Tháo thác Tương lưu hề, kính điếu tiên sinh.
Tào thế võng cực hề, nãi vẫn quyết thân.
Ô hô ai tai, phùng thì bất tường!
Loan phượng phục thoán hề, si kiêu cao tường.
Tháp nhung tôn hiển hề, sàm du đắc chí;
Hiền thánh nghịch duệ hề, phương chính đảo thực.
Thế vị Bá Di tham hề, vị Đạo Chích liêm;
Mạc da vị đốn hề, diên đao vi tiêm.
Hu ta mặc mặc hề, sinh chi vô cố!
Oát khí Chu đỉnh hề, bảo khang hồ,
Đằng giá bãi ngưu hề, tham kiển lư;
Ký thùy lưỡng nhĩ hề, phục diêm xa.
Chương phủ tiến lũ hề, tiệm bất khả cửu;
Ta khổ tiên sinh hề, độc ly thử cữu!
Tấn viết:
Dĩ hĩ, quốc kỳ mạc ngã tri,
Độc nhân uất hề kỳ thùy ngữ?
Phượng phiêu phiêu kỳ cao thệ hề,
Phù cố tự súc nhi viễn khứ.
Tập cửu uyên chi thần long hề,
Vật thêm tiềm dĩ tự trân.
Di dung được dĩ ẩn xứ hề,
Phù khởi tòng nghĩ dữ điệt dẫn?
Sở quý thánh nhân chi thần đức hề,
Viễn trọc thế nhi tự tàng.
Sử kỳ ký khả đắc hệ ky hề,
Khởi vân dị phù khuyển dương!
Ban phân phân kỳ ly thử vưu hề,
Diệc phu tử chi cô dã!
Si cửu châu nhi tương quân hề,
Hà tất hoài thử đô dã?
Phượng hoàng tường vu thiên nhận chi thượng hề,
Lãm đức huy nhi hạ chi;
Kiến tế đức chi hiểm trưng hề,
Dao tăng cách thệ nhi khứ chi.
Bỉ tầm thường chi ô độc hề,
Khởi năng dung thôn chu chi ngư!
Hoành giang hồ chi chiên đàm hề,
Cố tưởng chế ư nghĩ lâu.
[Dịch nghĩa:]
Cùng nhận ân huệ chừ, tội đày Trường Sa.
Nghe nói Khuất Nguyên chừ, nhảy sông Mịch La.
Nhờ dòng Tướng chảy chừ, kính điếu tiên sinh.
Gặp đời khốn cùng chừ, nên hại mất thân.
Hỡi ôi xót thay, gặp thời chẳng lành!
Loan phượng ẩn núp chừ, diều quạ liệng nhanh.
Thấp kém hiện quy chừ, a dua đắc chí;
Hiền thanh long đong chừ, chính trung lộn nhào.
Đời bảo Bá Di tham chừ, bảo Đạo Chích liêm;
Mạc da[9] là cùn chừ, dao chì rằng sắc.
Ôi chao không may chừ, sống mà mang họa!
Vứt đỉnh nhà Chu chừ, quý vỏ bầu,
Cưỡi con bò gầy chừ, dùng lừa què,
Kỳ rủ đôi tai chừ, kéo xe muối[10].
Mũ làm giày êm chừ, ngâm dễ rách;
Thương xót tiên sinh chừ, riêng chịu tội này.
Hỏi rằng:
Thôi rồi, quốc nhân nào biết ta,
Riêng u uất chừ, ai thấu tỏ?
Phượng liệng bay tít tầng cao chừ,
Vốn tự lui mà xa khuất.
Noi rồng thiêng nơi vực thẳm chừ,
Lặn thật sâu để giữ mình.
Che giấu kín để ẩn cư chừ,
Há học giống kiến cùng nòi giun?
Đáng quý phẩm đức của thánh nhân chừ,
Lánh ô trọc, tự giấu mình.
Nếu kỳ ký[11] dễ ràng buộc được chừ,
Hà nói khác nòi chó dê?
Bao rối ren rồi mắc phải họa ấy chừ,
Cũng bởi lỗi tiên sinh vậy!
Trông chín châu[12] mà chọn chúa chừ,
Nhớ chi hoài kinh đô đó?
Phượng hoàng liệng trên cao tít nghìn nhận chừ,
Thấy minh chúa thì đáp xuống;
Thấy điềm tiểu nhân âm hiểm chừ,
Tung cánh thêm cao mà vút đi.
Kia ngòi nhơ bẩn tầm thường chừ,
Há dung được cá lớn nuốt thuyền!
Cá lớn mà rời sông hồ chừ,
Ắt bị kiến kia bâu cắn.
Giả sinh làm Thái phó cho Trường Sa vương được ba năm, có con quạ bay vào nhà Giả sinh, đậu ở góc nhà. Người Sở gọi con quạ là “phục”. Giả sinh đã bị biếm trích đến Trường Sa, Trường Sa ẩm thấp, tự cho mình sống không được thọ, bi thương ai oán, bèn làm phú để tự khuây, lời phú như sau[13]:
[Phiên âm:]
Đan át chi tuế hề, tứ nguyệt mạnh hạ,
Canh Tý nhật thi hề, phục tập dư xá,
Chỉ vu tọa ngung, mạo thậm nhàn hạ.
Dị vật lai tập hề, tư quái kỳ cố,
Phát thư chiêm chi hề, sách ngôn kỳ độ.
Viết: “Dã điểu nhập xứ hề, chủ nhân tương khứ.”
Thỉnh vấn vu phục hồ: “Dư khứ hà chi?
Cát hồ cáo ngã, hung ngôn kỳ tai.
Yêm số chi độ hề, ngữ dư kỳ kỳ.”
Phục nãi thán tức, cử thủ phấn dực,
Khẩu bất năng ngôn, thỉnh đối dĩ ý.
***
Vạn vật biến hóa hề, cố vô hưu tức.
Oát lưu nhi thiên hề, hoặc thôi nhi hoàn.
Hình khí chuyển tục hề, biến hóa nhi thiện.
Vật mục vô cùng hề, hồ khả thăng ngôn!
Họa hề phúc sở ỷ, phúc hề họa sở phục;
Ưu hỉ tụ môn hề, cát hung đồng vực.
Bỉ Ngô cường đại hề, Phù Sai dĩ bại;
Việt thê Cối Kê hề, Câu Tiễn bá thế.
Tư du toại thành hề, tốt bị ngũ hình;
Phó Duyệt tà mị hề, nãi tướng Vũ Đinh.
Phù họa chi dữ phúc hề, hà dị củ triền.
Mệnh bất khả thuyết hề, thục tri kỳ cực?
Thủy kích tắc hạn hề, thỉ kích tắc viễn.
Vạn vật hồi bạc hề, chẩn đãng tương chuyển.
Vân chưng vũ giáng hề, thác mậu tương phân.
Đại chuyên bán vật hề, dưỡng loát vô ngân.
Thiên bất khả dữ lự hề, đạo bất khả dữ mưu.
Trị số hữu mệnh hề, ô thức kỳ thì?
***
Thả phù thiên địa vị lô đề, tạo hóa vi công;
Âm dương vị thán hề, vạn vật vị đồng.
Hợp tán tiêu tức hề, an hữu thường tắc;
Thiên biến vạn hóa hề, vị thủy hữu cực.
Hốt nhiên vi nhân hề, hà túc khống bác;
Hóa vi dị vật hề, hựu hà túc hoạn!
Tiểu tri tự tư hề, tiện bỉ quý ngã;
Thông nhân đại quan hề, vật vô bất khả.
Tham phù tuẫn tài hề, liệt sĩ tuẫn danh;
Khoa giả tử quyền hề, phẩm thứ phùng sinh.
Truột bách chi đồ hề, hoặc xu tây đông;
Đại nhân bất khúc hề, ức biến tề đồng.
Câu sĩ hệ tục hề, hoản như tù câu;
Chí nhân di vật hề, độc dữ đạo câu.
Chúng nhân hoặc hoặc hề, hiếu ổ tích ý;
Chân nhân đàm mạc hà, độc dữ đạo tức.
Thích trí di hình nề, siêu nhiên tự táng;
Liêu khoách hốt hoang hề, dữ đạo cao tường.
Thừa lưu tắc thể hề, đắc để tắc chỉ;
Túng khu ủy mệnh hề, bất tư dữ kỷ.
Kỳ sinh nhược phù hề, kỳ tử nhược hưu;
Đạm hồ nhược thâm uyên chi tĩnh,
Phiếm hồ nhược bất hệ chi chu.
Bất dĩ sinh cố tự bảo hề, dưỡng không nhi phù;
Đức nhân vô lụy hề, tri mệnh bất ưu.
Tế cố đệ giới hề, hà túc dĩ nghi.
[Dịch nghĩa:]
Vào năm Đinh Mão chừ, tháng Tư giữa hạ,
Chiều ngày Canh Tý chừ, nhà ta đầy quạ,
Đậu cạnh chỗ ngồi, dáng rất nhàn nhã.
Chim kia đến đậu chừ, việc này thực lạ,
Mở sách xem quẻ chừ, lời đoán nói rõ.
Rằng: “Chim nội bay vào chừ, chủ đi xa đó.”
Xin hỏi quạ kia chừ: “Ta sẽ đi đâu?
Lành báo ta biết, hung vì lẽ chi?
Định số lâu mau chừ, nói ta hạn kỳ?”
Quạ bèn than thở, cất đầu tung cánh.
Chẳng thốt nên lời, cũng xin tỏ ý.
❀ ❀ ❀
Muôn vật biến hóa chừ, vốn không ngừng nghỉ.
Xoay vần biến đổi chừ, có khi quay về.
Hình khí tiếp nối chừ, biến hóa tựa ve.
Thâm sâu khôn cùng chừ, khó nói bằng lời!
Họa chừ chỗ phúc dựa, phúc chừ chỗ họa núp[14];
Lo, mừng họp chung chừ, cát hung cùng chốn.
Nước Ngô lớn mạnh chừ, Phù Sai đại bại;
Việt khốn ở Cối Kê chừ, Câu Tiễn xưng bá.
Lý Tư thành công chừ, sau phải ngũ hình;
Phó Duyệt thân tù chừ, phò trợ Vũ Đinh[15].
Ôi, họa cùng phúc chừ, nào khác mối dây.
Mệnh sao nói được chừ, ai người thấu đây?
Nước vọt hung bạo, tên buông vút bay.
Muôn vật qua lại chừ, ầm ầm hoán chuyển.
Mây lên mưa xuống chừ, biến hóa nào hay.
Trời xoay muôn vật chừ, lớn rộng vô ngần.
Trời không thể lường xét chừ, đạo không thể tính toan.
Nhanh chậm có số chừ, đầu hay lúc nào?
❀ ❀ ❀
Vả lại trời đất là lò chừ, tạo hóa là thợ;
Âm dương là than chừ, muôn vật là đồng.
Hợp tan tiêu trưởng chừ, đâu có phép thường;
Muôn ngàn biến hóa chừ, chưa từng kết thúc.
Bỗng dưng thành người chừ, chẳng phải quý tiếc?
Hóa thành giống lạ chừ, đâu cần lo lắng!
Có chút thông minh chừ, rẻ người quý mình.
Làm người thông đạt chừ, ta vật nào khác.
Tham chết vì của chừ, sĩ chết vì danh;
Ham vinh chết vì quyền chừ, úy tử tham sinh.
Lũ lo nghèo chừ, đôn đáo tây đông;
Đại nhân chẳng khuất chừ, muôn biến xem đồng.
Kẻ mắc tục lụy chừ, khác nào tù nhân;
Chí nhân bỏ vật chừ, riêng noi theo đạo.
Chúng nhân u mê chừ, yêu ghét chứa chất;
Chân nhân đạm bạc chừ, riêng theo đạo đức.
Bỏ trí bỏ hình chừ, tự quên, siêu thoát;
Xa rộng mênh mang chừ, cùng đạo bay liệng.
Nương dòng mà trôi chừ, tới bờ dừng nghỉ,
Buông thân tùy mệnh chừ, mình không thiên vị.
Sống tựa nổi trôi chừ, chết như ngơi nghỉ.
Bình lặng như vực tĩnh thẳm sâu chừ,
Nổi trội như con thuyền không buộc.
Không vì sống mà thấy quý chừ, chuộng rỗng mà nổi.
Có đức không lụy chừ, biết mệnh không lo.
Vướng vất nhỏ bé chừ, sao đủ để nghi.
Hơn một năm sau, Giả sinh được triệu kiến. Hiếu Văn đế đang thụ lộc tế thần[16], ngồi ở điện Tuyên Thất[17] [để tiếp kiến]. Vua nhân cảm kích việc quỷ thần, bèn hỏi về gốc của quỷ thần. Giả sinh liền nói rõ nguồn cơn. Đến nửa đêm, Văn để tiến đến trước chiếu[18]. Tiếp kiến xong, Văn đế nói: “Ta lâu không gặp Giả sinh, tự cho mình giỏi hơn, nay mới hay là không bằng.” Không lâu sau, phong Giả sinh làm Thái phó cho Lương Hoài vương. Lương Hoài vương là con nhỏ của Văn đế, được sủng ái, thích sách vở, nên Văn đế sai Giả sinh làm thầy dạy.
Văn đế lại phong bốn người con của Hoài Nam Lệ vương đều được tước hầu. Giả sinh can, cho là họa dấy từ đấy. Giả sinh nhiều lần dâng sớ, nói có chư hầu được phong liền mấy quận, đó không phải chế độ thời cổ, có thể bớt đi. Văn đế không nghe.
Được mấy năm, Hoài vương cưỡi ngựa, ngã ngựa chết, không người nối dõi. Giả sinh tự thương vì mình làm thầy không vẹn chức phận, khóc lóc hơn một năm, cũng chết. Giả sinh chết khi ba mươi ba tuổi. Đến khi Hiếu Văn đế băng hà, Hiếu Vũ hoàng đế lên ngôi, cất nhắc hai cháu nội của Giả sinh làm đến Quận thú, trong đó Giả Gia ham học nhất, kế thừa gia nghiệp, có thư qua lại với ta. Đến thời Hiếu Chiêu đế, được liệt vào hàng Cửu khanh.
Thái sử công bàn rằng: Ta đọc Ly tao, Thiên vấn, Chiêu hồn, Ai Dĩnh[19], buồn với chí hướng của Khuất Nguyên. Đến Trường Sa, xem nơi Khuất Nguyên tự trầm, chưa từng không sa nước mắt, ngỡ như thấy người xưa. Đến khi xem lời Giả sinh điếu, lại thấy lạ vì với tài như Khuất Nguyên, du thuyết chư hầu, nước nào chẳng dung, đâu đến nỗi thế? Đọc “Phục điểu phú”, coi sống chết như nhau, xem nhẹ việc đi ở, rồi bỗng nhiên vứt bỏ cách nghĩ trước đây.
[1] Tả đồ: chức quan phụ trách việc can gián nhà vua.
[2] Quốc phong, Tiểu nha: đều là các phần trong Kinh Thi.
[3] Lấy chữ từ hào từ quẻ Tỉnh trong Kinh Dịch.
[4] Ngọc cẩn và ngọc du là hai thứ ngọc đẹp.
[5] Ly Lâu: tương truyền là một người rất sáng mắt thời cổ, có thể đứng cách trăm bước vẫn thấy rõ những vật nhỏ như mảy lông.
[6] Trùng Hoa: tức đế Thuấn, được đế Nghiêu truyền ngôi, cùng đế Nghiêu được coi là các bậc đế vương mẫu mực thời thượng cổ.
[7] Sông Nguyên và sông Tương, Sông Nguyên: khởi nguồn từ phía đông Định Đông của Quý Châu, chảy vào hồ Động Đình ở Hồ Nam. Sông Hương: khởi nguồn từ phía đông Linh Lăng của Hồ Nam, theo hướng bắc chảy vào hồ Động Đình. Đây là khu vực Khuất Nguyên bị lưu đày.
[8] Bá Nhạc: tương truyền là người xem tướng ngựa cổ. Ý cả câu: Bá Nhạc chết, không còn ai nhận ra được ngựa ký [thiên lý mã] nữa.
[9] Mạc da: cùng Can tương, đều là các thanh bảo kiếm, được coi như thần khí thời thượng cổ.
[10] Ký: tức ngựa ký, một loại thiên lý mã. Cả câu ý nói ngựa ký ngày đi ngàn dặm, là giống ngựa tuyệt quý mà lại bắt đi kéo xe muối nặng nề.
[11] Kỳ và ký đều là các loại ngựa quý, ngày đi ngàn dặm (thiên lý mã).
[12] Chín châu: chỉ cả thiên hạ.
[13] Tức bài "Phục điểu phu” – bài phú về con quạ.
[14] Dẫn theo lời của Lão tử trong sách Đạo đức kinh, coi phúc và họa luôn đi với nhau, nương tựa vào nhau.
[15] Phó Duyệt xuất thân là một nô lệ. Vua nhà Ân là Vũ Đinh mơ thấy mình gặp thánh nhân, bèn đi tìm, gặp được Phó Duyệt. Sau, Phó Duyệt phò giúp Vũ Đinh lập nên đại nghiệp, được hậu thế xưng tụng.
[16] Nguyên là "thụ ly". Theo điển chế nhà Hán, sau khi làm lễ tế trời đất, nhà vua sai người đến tế, hoặc các quận trong nước sau khi tế xong, đều phải mang thịt tế về dâng nhà vua, để tỏ ý là nhà vua được nhận phúc từ thần, gọi là "thụ ly".
[17] Điện Tuyên Thất trong cung Vị Ương của nhà Hán.
[18] Ý nói Giả Nghị trình bày thuyết phục, Văn đế nhích đến trước chiếu Giả Nghị lúc nào không hay.
[19] Dĩnh: tức Dĩnh đô, kinh đô nước Sở. Cũng có chỗ phiên là "Sính".