Sử Ký II. Liệt Truyện (Thượng)

Lượt đọc: 416 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 86 THÍCH KHÁCH LIỆT TRUYỆN

❊ ❊ ❊

Tào Mạt

Tào Mạt người nước Lỗ, nhờ có dũng lực nên được phụng sự Lỗ Trang công. Trang công chuộng sức mạnh. Tào Mạt làm tướng nước Lỗ, giao chiến với Tề, ba lần thua trận. Lỗ Trang Công sợ, bèn dâng đất Toại Ấp để cầu hòa. Vẫn cho Tào Mạt làm tướng.

Tề Hoàn công đồng ý cùng Lỗ hội minh ở đất Kha, sau khi Hoàn công và Trang Công ăn thề trên đàn, Tào Mạt cầm chủy thủ uy hiếp Tề Hoàn công, thuộc hạ bên cạnh Hoàn công không dám manh động. Hoàn công hỏi: “Nhà ngươi muốn gì?” Tào Mạt đáp: “Tề mạnh Lỗ yếu, mà đại quốc xâm lấn Lỗ đã quá lắm thay, nay thành nước Lỗ sụp sẽ đè lên đất Tề, ngài hãy liệu đi.” Hoàn Công bèn hứa trả hết các đất chiếm được cho Lỗ. Nói xong, Tào Mạt ném chủy thủ, xuống đàn, quay mặt về bắc đứng cùng quần thần, sắc mặt không đổi, nói năng như cũ. Hoàn công giận, muốn bội ước. Quản Trọng nói: “Không thể. Phàm tham lợi nhỏ tự cho làm vui, vứt bỏ tín nghĩa với chư hầu sẽ làm mất sự ủng hộ của thiên hạ, chẳng bằng trả đất cho Lỗ.” Thế là Hoàn công bèn cắt trả đất đã chiếm cho Lỗ, các đất Tào Mạt để mất trong ba lần thua đều được trả cho Lỗ.

Sáu mươi bảy năm sau, nước Ngô có việc của Chuyên Chư.

Chuyên Chư

Chuyên Chư người Đường Ấp nước Ngô. Ngũ Tử Tư trốn khỏi Sở sang Ngô, biết tài năng của Chuyên Chư. Ngũ Tử Tư sau khi yết kiến Ngô vương là Liêu, du thuyết về lợi ích việc đánh Sở. Công tử Quang nước Ngô nói: “Ngũ Viên kia cha và anh đều chết Sở mà Viên lại nói đánh Sở, đó là muốn báo thù riêng, không phải vì nước Ngô.” Ngô vương bèn thôi. Ngũ Tử Tư biết công tử Quang muốn giết Ngô vương Liêu, bèn nói: “Quang kia có chí hướng việc trong nước[1], chưa thể nói chuyện bên ngoài được.” Bèn tiến cử Chuyên Chư với công tử Quang.

Cha của Quang là Ngô vương Chư Phàn. Chư Phàn có ba em trai: thứ nhất là Dư Sái, nhì là Di Mạt, út là Quý tử Trát. Chư Phàn biết Quý tử Trát hiền năng nhưng không lập làm thái tử, theo thứ tự truyền cho ba em, muốn cuối cùng truyền quốc cho Quý tử Trát. Chư Phàn chết rồi, truyền ngôi cho Dư Sái. Dư Sái chết, truyền cho Di Mạt. Di Mạt chết, đáng lẽ truyền cho Quý tử Trát, Quý tử Trát trốn không chịu lên ngôi, người Ngô bèn lập con trai Di Mạt là Liêu lên ngôi. Công tử Quang nói: “Ví thử anh em nối nhau. Quý tử đáng được kế vị; như lấy con thì Quang này mới là con đích thừa tự, đáng được lập.” Nên thường ngầm nuôi mưu thần, tính cách lên ngôi.

Sau khi Quang có Chuyên Chư, tiếp đãi như thượng khách. Được chín năm, Sở Bình vương chết. Mùa xuân, Ngô vương Liêu muốn thừa dịp nước Sở có tang, sai hai em là công tử Cải Dư và Chúc Dung đem quân bao vây đất Tiềm của Sở; sai Diên Lăng Quý Tử sang nước Tấn, để xem động tĩnh của chư hầu. Sở phát binh chặn đường của tướng Ngô là Cái Dư và Chúc Dung, quân Ngô không còn đường về. Thế là công tử Quang nói với Chuyên Chư: “Không thể để lỡ thời cơ, không muốn thì sao có được? Vả Quang này mới là người nối ngôi đích thực, đáng được lên ngôi, Quý tử tuy đến, cũng không phế ta.” Chuyên Chư đáp: “Có thể giết được vương Liêu. Vương Liêu mẹ già con thơ, còn hai em cầm quân đánh Sở, Sở chẹn đường lui. Lúc này, nước Ngô ngoài bị Sở vây khốn, trong không có bề tôi cương liệt, như thế không làm gì được ta.” Công tử Quang dập đầu nói: “Thân của Quang là thân của ông vậy.”[2]

Tháng Tư, ngày Bính Tý, Quang cho giáp sĩ phục trong hầm nhà, chuẩn bị tiệc rượu mời vương Liêu. Vương Liêu sai lính dàn hàng từ cung đến nhà Quang, ở cổng, cửa, hai bên bậc thềm, đều là thân thích của vương Liêu. Lính đứng hầu, đều cầm kiếm dài. Rượu đã say, công tử Quang vờ bị đau chân, vào trong hầm nhà, sai Chuyện Chư giấu chủy thủ vào trong bụng cá rán mang lên dâng. Đến trước mặt vua, Chuyên Chư tách bụng cá, nhân đó lấy chủy thủ đâm vương Liêu, Liêu chết ngay. Tả hữu cũng giết Chuyên Chư, người của Ngô vương rối loạn. Công tử Quang cho quân mai phục ra đánh quân vương Liêu, giết toàn bộ, tự lập làm vua, đó là Hạp Lư. Hạp Lư bèn phong con của Chuyên Chư làm thượng khanh.

Hơn bảy mươi năm sau thì có việc của Dự Nhượng ở nước Tấn.

Dự Nhượng

Dự Nhượng người nước Tấn, trước đây từng phụng sự họ Phạm rồi họ Trung Hàng, nhưng không ai biết tiếng. Bỏ đi phụng sự Trí bá, Trí bá rất yêu quý và đề cao. Khi Trí bá đánh Triệu Tương tử, Triệu Tương tử cùng Hàn và Ngụy hợp mưu diệt Trí bá, sau khi diệt Trí bá bèn chia đất làm ba phần. Triệu Tương tử oán Trí bá nhất, lấy sơn sơn đầu Trí bá làm đồ đựng rượu. Dự Nhượng trốn vào trong núi, nói: “Than ôi! Kẻ sĩ chết vì tri kỷ, thiếu nữ tô điểm nhan sắc vì người mình yêu. Nay Trí bá biết ta, ta dù chết cũng nhất định báo thù, để đáp tạ Trí bá, có vậy hồn phách ta mới không hổ thẹn.” Bèn thay đổi họ tên, giả làm người đang chịu hình phạt, vào cung dọn nhà xí, trong mình giắt chủy thủ, muốn đâm chết Tương tử. Tương tử vào nhà xí, tâm chợt dao động, sai bắt hỏi người chịu hình quét dọn nhà xí, ra là Dự Nhượng, trong người mang dao, Dự Nhượng nói: “Muốn báo thù cho Trí bá!” Tả hữu định giết đi, Tương tử nói: “Đó là người có nghĩa, ta cẩn thận tránh đi là được. Vả Trí bá chết mà không con, thân cận muốn báo thù giúp, đó là hiền nhân trong thiên hạ vậy.” Cuối cùng thả đi.

Thời gian sau, Dự Nhượng lại sơn mình làm người hủi, nuốt than làm người câm, khiến không ai nhận ra hình dáng, đi ăn xin ngoài chợ. Vợ cũng không nhận ra chồng. Trên đường đi gặp người bạn, bạn nhận ra, hỏi: “Ông chẳng phải Dự Nhượng sao?” Đáp: “Chính ta đây.” Người bạn khóc nói: “Với tài của ông, khuất thân làm bề tôi thờ Tương tử, Tương tử ắt gần gũi tin tưởng. Khi đã gần gũi tin tưởng, ông làm điều mình muốn, chẳng phải dễ ư? Sao phải hủy hoại thân thể diện mạo, muốn làm thế mong báo thù Tương tử, chẳng cũng khó sao?” Dự Nhượng đáp: “Đã khuất thân làm bề tôi thờ người mà lại muốn giết, là mang hai lòng để thờ vua vậy. Và việc tôi làm cực khó khăn. Nhưng sở dĩ làm thế này, để bề tôi mang hai lòng thờ vua trong thiên hạ sau này phải hổ thẹn vậy.”

Dự Nhượng đi rồi, ít lâu sau, Tương tử ra ngoài, Dự Nhượng núp dưới cầu Tương tử sẽ qua. Tương tử đến cầu, ngựa sợ hãi, Tương tử nói: “Nhất định là Dự Nhượng rồi.” Sai người xét hỏi, quả là Dự Nhượng. Thế rồi Tương tử bèn trách Dự Nhượng: “Ngươi chẳng từng thờ họ Phạm, họ Trung Hàng ư? Trí bá diệt họ, ngươi không báo thù, trái lại khuất thân làm bề tôi Trí bá. Trí bá chết rồi, sao riêng ngươi thân thiết báo thù cho lão vậy?” Dự Nhượng đáp: “Tôi thờ họ Phạm, họ Trung Hàng, họ đối đãi tôi như người thường, nên tôi cũng báo đáp như người thường. Còn Trí bá đối đãi tôi như quốc sĩ, nên tôi báo đáp như cách của quốc sĩ.” Tương tử bùi ngùi than rồi khóc nói: “Hỡi ôi Dự Nhượng! Ông vì Trí bá, danh đã thành, còn quả nhân tha ông, cũng đã đủ. Ông hãy tự liệu đi, quả nhân không thả ông nữa?” Sai lính vây Dự Nhượng. Dự Nhượng nói: “Tôi nghe minh chúa không che cái tốt đẹp của người, còn tôi trung thì chết vì danh. Trước đây ngài đã tha cho tôi, thiên hạ không ai không khen là vua hiền. Việc hôm nay, tôi cố nhiên chịu chết, nhưng xin đánh vào chiếc áo của ngài, đặng thỏa ý phục thù, được thể chết không hối hận. Đó không phải điều dám mong, song cũng dám phô bày gan ruột!” Tương tử cho là đại nghĩa, bèn sai người cầm áo đưa cho Dự Nhượng. Dự Nhượng tuốt kiếm nhảy lên ba lần đâm vào áo, nói: “Ta báo được thù cho Trí bá rồi!" Xong dùng kiếm tự sát. Hôm chết, chí sĩ nước Triệu biết chuyện, thảy đều khóc.

Hơn bốn mươi năm sau, Có việc của Nhiếp Chính ở đất Chỉ.

Nhiếp Chính

Nhiếp Chính người làng Thâm Tỉnh đất Chỉ, vì giết người phải tránh kẻ thù, cùng mẹ và chị đến Tề, làm nghề đồ tể.

Lâu sau, Nghiêm Trọng tử ở Bộc Dương thờ Hàn Ai hầu, có hiềm khích với Tể tướng nước Hàn là Hiệp Lũy. Nghiêm Trọng tử sợ bị giết, bỏ trốn, tìm người có thể báo thù Hiệp Lũy. Đến Tề, người Tề có kẻ nói Nhiếp Chính là kẻ sĩ dũng cảm, vì tránh kẻ thù nên ẩn mình trong đám đồ tể. Nghiêm Trọng tử đến nhà xin gặp, qua lại mấy lần, sau chuẩn bị tiệc rượu dâng trước mặt mẹ Nhiếp Chính. Rượu say, Nghiêm Trọng tử dâng trăm dật vàng, chúc thọ mẹ Nhiếp Chính. Nhiếp Chính lấy làm lạ vì lễ hậu, cố từ chối Nghiêm Trọng tử. Nghiêm Trọng tử cố dâng tặng, Nhiếp Chính tại từ rằng: “Tôi may có mẹ già, nhà nghèo, sang đất khách làm nghề thịt chó, sớm tối có thức ngọt bùi phụng dưỡng mẹ. Việc phụng dưỡng được đầy đủ, không dám nhận ban tặng của Trọng tử.” Nghiêm Trọng tử tránh chỗ đông người, nhân đó nói với Nhiếp Chính: “Tôi có kẻ thù, nên qua nhiều nước chư hầu rồi, nhưng đến Tề, trộm nghe túc hạ là bậc cao nghĩa, cố ý dâng tặng trăm dật vàng, làm tiền chi dùng rau cháo cho lệnh mẫu, để được niềm vui giao du với túc hạ, há dám mong cầu gì đâu!” Nhiếp Chính nói: “Tôi sở dĩ khuất chí nhục mình làm đồ tể nơi chợ búa, thảy vì phụng dưỡng mẹ già; mẹ già còn, thân Chính này chưa dám hứa với người khác.” Nghiêm Trọng tử cố dâng vàng, cuối cùng Nhiếp Chính vẫn không chịu nhận. Nhưng Nghiêm Trọng tử vẫn trọn lễ của khách với chủ rồi đi.

Lâu sau, mẹ Nhiếp Chính chết. Táng đã xong, hết tang, Nhiếp Chính nói: “Ôi! Chính là người nơi chợ búa, khua dao mổ thịt; còn Nghiêm Trọng tử là khanh tướng chư hầu, không quản ngàn dặm xa, hạ mình kết giao với ta. Ta đối đãi ông ta, thực rất hời hợt, chưa có công lớn đáng được ban tặng, vậy mà Nghiêm Trọng tử dâng trăm dật vàng chúc thọ mẫu thân, ta tuy không nhận, nhưng đủ thấy ông ta rất biết Chính vậy. Người hiền năng hẳn vì oán hận chất chứa trong lòng mà gần gũi tin tưởng kẻ ở nơi xa, Chính này chẳng lẽ cứ lẳng lặng hay sao? Vả khi trước nhờ Chính, Chính lấy lý do mẹ già; nay mẹ đã trọn tuổi trời, Chính sẽ dốc sức vì tri kỷ.” Rồi bèn đi về tây đến Bộc Dương, gặp Nghiêm Trọng tử, nói: “Trước đây sở dĩ không hứa với Trọng tử, vì còn mẹ già; nay chẳng may mẹ đã trọn tuổi trời. Kẻ mà Trọng tử muốn báo thù là ai? Xin được làm việc đó!” Nghiêm Trọng tử nói ngọn ngành: “Kẻ thù của tôi là Hiệp Lũy, Tể tướng nước Hàn, Hiệp Lũy lại là chú út của vua Hàn, tông tộc đông mạnh, chỗ ở quân lính bảo vệ nghiêm mật, tôi muốn sai người giết, nhưng không ai có thể ra tay. Nay may mà túc hạ không bỏ, xin tăng cường ngựa xe tráng sĩ phụ giúp túc hạ.” Nhiếp Chính đáp: “Hàn và Vệ khoảng cách không xa lắm, nay giết Tể tướng của người, lại là thân thích của vua nước họ, tình thế không thể đem theo đông người, đông người sẽ sinh chuyện thị phi, sinh chuyện thị phi sẽ lộ chuyện, lộ ra thì Hàn sẽ coi Trọng tử là kẻ thù, há chẳng nguy thay!" Nhiếp Chính bèn từ chối mang theo xe ngựa, tùy tòng, chia tay, một mình lên đường.

Nhiếp Chính mang kiếm đến Hàn, Tể tướng nước Hàn là Hiệp Lũy đang ngồi trên phủ, lính vác kích đứng hầu rất đông. Nhiếp Chính xông thẳng vào, lên thềm đâm chết Hiệp Lũy, tả hữu đại loạn. Nhiếp Chính hô lớn, giết chết mấy chục người, rồi tự lột da mặt, khoét mắt, mổ bụng moi ruột mà chết.

Hàn đem thây Nhiếp Chính phơi ngoài chợ, treo thưởng để truy hỏi nhưng không ai biết. Thế rồi Hàn treo thưởng ngàn vàng cho ai nói kẻ giết Tể tướng Hiệp Lũy là ai. Lâu sau vẫn không ai biết.

Chị gái Chính là Vinh nghe người ta kể việc có người giết Tể tướng nước Hàn, không biết hung thủ là ai, người trong nước cũng không biết họ tên, phơi thây treo thưởng ngàn vàng, nghẹn ngào nói: “Đó là em trai tôi chăng? Ôi, Nghiêm Trọng tử biết em trai tôi đó!” Bèn vội sang Hàn, đến chợ, người chết quả đúng là Chính, bèn phủ phục bên thây khóc lóc thảm thiết, nói: “Người này là Nhiếp Chính ở làng Thâm Tỉnh đất Chỉ đó.” Người đi ngoài chợ đều nói: “Người này tàn sát Tể tướng nước tôi, nhà vua treo giải ngàn vàng cho ai biết họ tên, bà không nghe nói ư? Sao dám đến nhận người?” Vinh đáp rằng: “Có nghe. Nhưng sở dĩ Chính chịu ô nhục tự ẩn mình nơi chợ búa, vì mẹ già còn mạnh khỏe, thiếp chưa lấy chồng. Mẹ già đã trọn tuổi trời, thiếp đã gả chồng, Nghiêm Trọng tử bèn tìm em trai thiếp khi cùng khốn nhơ bẩn kết giao với nó, ấn trạch sâu dày, biết phải làm sao! Kẻ sĩ vốn chết vì tri kỷ, nay vì thiếp còn đây, nó tự hủy thân cắt đứt liên lụy, thiếp sao có thể vì sợ thân này bị giết, rốt cuộc hủy tên tuổi của hiền đệ mình được?” Người ở chợ nước Hàn cả sợ. Song, chị Chính gào với trời ba tiếng, đau đớn thảm thiết, chết bên cạnh Chính.

Tấn, Sở, Tề, Hàn nghe chuyện, đều nói: “Không riêng Chính giỏi, người chị cũng là liệt nữ vậy. Giả sử Chính biết chị mình không có chí nhẫn nhục, không đoái đến việc bị phơi thây, ắt vượt ngàn dặm hiểm nguy để hiển dương danh tiếng em mình, hai chị em đều chết ở chợ nước Hàn, thì chưa chắc đã dám đem thân trao cho Nghiêm Trọng tử vậy. Nghiêm Trọng tử cũng khá gọi là biết người nên mới tìm được kẻ sĩ như thế.”

Hơn hai trăm hai mươi năm sau có chuyện của Kinh Kha nước Tần.

Kinh Kha

Kinh Kha người nước Vệ, tiên tổ người Tề. Kinh Kha rời sang Vệ, người Vệ gọi là Khánh khanh; rồi sang Yên, người Yên gọi là Kinh khanh.

Kinh khanh thích đọc sách đánh kiếm, đem thuật của mình du thuyết Vệ Nguyên quân, Vệ Nguyên quân không dùng. Về sau, Tần đánh Ngụy, lập thành Đông Quận, dời thân thuộc của Vệ Nguyên quân đến đất Dã Vương.

Kinh Kha từng ngao du qua đất Du Thứ, cùng Cái Nhiếp bàn về kiếm, Cái Nhiếp giận lườm Kinh Kha. Kinh Kha đi ra, có người nói Cái Nhiếp gọi Kinh Kha lại. Cái Nhiếp nói: “Hồi nãy ta với hắn bàn về kiếm, có chỗ không được hài lòng, ta lườm hắn; thử đi mà xem, hẳn là đi rồi, không dám ở lại đâu.” Sai người đến xem, Kinh Kha quả đã đánh xe đi khỏi Du Thứ. Người đó về báo, Cái Nhiếp nói: “Chắc chắn đi thôi, hồi nãy ta lườm dọa hắn!”

Kinh Kha ngao du đến Hàm Đan, Lỗ Câu Tiễn cùng Kinh Kha đánh cờ, tranh nước đi, Lỗ Câu Tiễn giận quát Kinh Kha, Kinh Kha lẳng lặng trốn đi, không gặp lại nữa.

Kinh Kha đến Yên, thích thợ thịt chó và giỏi đánh đàn trúc Yên là Cao Tiệm Ly. Kinh Kha thích rượu, hằng ngày cũng đám thịt chó và Cao Tiệm Ly uống rượu ở chợ nước Yên, uống say, Cao Tiệm Ly đánh đàn trúc, Kinh Kha hát họa lại ở trong chợ, cùng nhau vui vẻ, rồi lại cùng khóc, coi như bên cạnh không người. Kinh Kha tuy giao du với đám sâu rượu, nhưng là người thâm trầm, thích đọc sách; khi đi du ngoạn chư hầu, đều kết giao với các hiền sĩ hào kiệt và trưởng giả ở đó. Kinh Kha đến Yên, xử sĩ nước Yên là Điền Quang tiên sinh cũng đối đãi tốt, biết Kinh Kha không phải người thường.

Ở được thời gian, đúng lúc thái tử Đan của nước Yên làm con tin ở Tần trốn về. Thái tử Đan nước Yên trước làm con tin Triệu, còn Tần vương là Chính sinh ở Triệu, lúc nhỏ vui chơi cùng Đan. Khi Chính lên làm vua Tần, Đan làm con tin ở Tần. Tần vương đối đãi với thái tử Đan nước Yên không tốt, nên Đan oán mà trốn về. Sau khi về nước, muốn tìm người báo thù Tần vương, nước nhỏ, không đủ sức. Sau, Tần ngày ngày đem quân ra phía đông Hào Sơn để đánh Tề, Sở, Tam Tấn, lấn dần chư hầu như tằm ăn lá dâu, rồi dần đến nước Yên, vua tôi nước Yên đều sợ họa đến mình. Thái tử Đan lo lắng việc đó, hỏi thầy Cúc Vũ, Vũ đáp: “Đất Tần khắp thiên hạ, uy hiếp các họ Hàn, Ngụy, Triệu, phía bắc có Cam Tuyền, Cốc Khẩu hiểm yếu vững chắc, phía nam có đất sông Kinh sống Vị màu mỡ, lại thêm sự giàu có của đất Ba đất Hán, bên phải có núi Lũng núi Thục, trái có Hàm Cốc và Hào Sơn hiểm trở, dân đông quân mạnh, vũ khí có thừa. Nếu Tần xuất quân, thì phía nam Trường thành, mạn bắc sông Dịch Thủy, không thể giữ yên được. Sao lại oán vì bị lăng nhục, muốn đụng vảy ngược của rồng vậy thay!” Đan nói: “Vậy phải làm sao?" Đáp rằng: “Xin vào suy tính đã.”

Được một thời gian, tướng Tần là Phàn Ư Kỳ đắc tội với Tần vương, trốn đến Yên, Thái tử thu nạp cho ở lại. Cúc Vũ can rằng: “Không được. Với sự hung bạo của Tần vương mà kết oán với Yên đã đủ ớn lạnh trong lòng, huống chi lại nghe Phàn tướng quân ở đây? Đó chính là ném thịt ra lối đi của hổ đói vậy, ắt họa không cứu vãn được! Tuy có Quản Trọng, Yến Anh cũng không bày mưu gì nổi. Xin Thái tử kíp cho Phàn tướng quân vào Hung Nô để khỏi tai tiếng. Xin phía tây ước định với Tam Tấn, nam liên kết với Tề, Sở, bắc giao hảo với Thiền vu, sau đó mới mưu tính được.” Thái tử nói: “Kế của Thái phó, mất nhiều ngày giờ, lòng ta rối ren, sợ không đợi được trong chốc lát. Và không chỉ như thế, Phàn tướng quân cùng khốn trong thiên hạ, gửi thân nơi Đan, Đan rốt cuộc không thể vì bị Tần mạnh bức bách mà vứt bỏ bạn giao hảo đáng thương, cho sang Hung Nô, đó cũng là lúc kết thúc số mạng Đan vậy. Xin Thái phó nghĩ lại.” Cúc Vũ nói: “Ôi, làm việc nguy hiểm mà muốn được yên, gây họa mà mong được phúc, kế nông mà oán sâu, liên kết một người mà không đoái mối nguy hại to lớn của quốc gia, đó gọi là 'tích oán nuôi họa' vậy. Phàm đem lông chim hồng hơ trên lò than, nhất định không còn gì nữa. Vả với sự hung hãn của Tần, phát tiết cơn giận, há nói xiết ư? Yên có Điền Quang tiên sinh, trí tuệ thâm sâu dũng cảm thâm trầm, có thể mưu tính cùng.” Thái tử nói: “Xin cậy Thái phó để được giao kết với Điền tiên sinh, được chăng?” Cúc Vũ đáp: “Kính vâng.” Rồi đi gặp Điền tiên sinh, nói: “Thái tử muốn mưu việc nước với tiên sinh đó.” Điền Quang nói: “Kính noi chỉ giáo.” Bèn đến gặp.

Thái tử nghênh đón, đi lùi dẫn đường, quỳ để sửa chiếu. Điền Quang yên vị, bên cạnh không ai, Thái tử rời chiếu đến thỉnh giáo, nói: “Yên và Tần không thể cùng đứng, xin tiên sinh lưu ý cho.” Điền Quang nói: “Thần nghe nói ngựa kỳ ngựa ký lúc thịnh thời, ngày ruổi rong nghìn dặm; tới khi già yếu, ngựa thường cũng chạy trước. Nay Thái tử nghe nói lúc Quang còn khỏe mạnh, không biết tôi tinh lực tiêu hao hết rồi. Dẫu rằng Quang không dám mưu tính việc nước, bạn tôi là Kinh khanh có thể sai được.” Thái tử hỏi: “Xin nhờ tiên sinh để kết giao Kinh khanh, được chăng?” Điền Quang đáp: “Kính vâng.” Bèn dậy, rảo bước ra. Thái tử tiễn đến cổng, nhắc rằng: “Điều Đan thưa và lời tiên sinh nói, là việc lớn của nước, xin tiên sinh chớ tiết lộ?” Điền Quang cúi người cười nói: “Vâng.” Lom khom đến gặp Kinh khanh, nói: “Quang kết bạn với ông, nước Yên không ai không biết. Nay Thái tử chỉ biết Quang lúc khỏe mạnh, không biết tôi hình dung đã tiều tụy, may được dạy rằng 'Yên và Tần không thể cùng đứng, xin tiên sinh lưu ý cho'. Quang trộm cho mình không thể đứng ngoài, giới thiệu tác hạ với Thái tử, mong túc hạ hạ cố qua cung Thái tử.” Kinh Kha nói: “Kính vâng chỉ giáo.” Điền Quang nói: “Tôi nghe, trưởng giả hành sự, không để người ta ngờ. Nay Thái tử nói với Quang điều nói ra là việc lớn của nước, xin tiên sinh đừng tiết lộ, là Thái tử ngờ Quang vậy. Làm việc mà để người ta ngờ mình, đó không phải bậc tiết nghĩa hào hiệp vậy.” Muốn tự sát để khích lệ Kinh khanh, nói: “Xin túc hạ kíp đến chỗ Thái tử, nói Quang đã chết, để tỏ rõ Quang không tiết lộ việc.” Nhân đó tự cắt cổ chết.

Kinh Kha đến gặp Thái tử, nói Điền Quang đã chết, rồi truyền đạt lời Quang nói. Thái tử với hai vái rồi quỳ, đi bằng đầu gối, nước mắt đầm đìa, lát sau mới nói: “Đan sở dĩ dặn Điền tiên sinh không nói là muốn hoàn thành mưu đại sự. Nay Điền tiên sinh lấy cái chết để tỏ mình không tiết lộ, há là tâm ý của Đan ư?” Kinh Kha ngồi yên vị, Thái tử lánh khỏi chiều dập đầu nói: “Điền tiên sinh không biết sự kém cỏi của Đan, cho được đến trước mặt, dám xin được tỏ bày, là trời thương xót Yên mà không vứt bỏ đứa con côi này vậy. Nay Tần có lòng tham lợi, ham muốn không biết thế nào cho đủ. Không chiếm được hết đất thiên hạ, khiến vua trong bốn biển thần phục thì không thỏa ý. Nay Tần đã bắt sống vua Hàn, chiếm hết đất Hàn. Lại cất quân xuống phía nam đánh Sở, bắc tiến đến Triệu; Vương Tiễn đem mấy chục vạn quân đến đất Chương đất Nghiệp, còn Lý Tín ra Thái Nguyên, Vân Trung. Triệu không thể chống lại Tần, ắt vào xưng thần, vào xưng thần thì họa đến Yên. Yên nhỏ yếu, nhiều lần khổ vì binh đao, nay xét đem sức cả nước cũng không cự nổi Tần. Chư hầu sợ phục Tần, không ai dám hợp tung. Đan có kế riêng ngu muội, cho là có dũng sĩ trong thiên hạ đi sứ Tần, lấy lợi lớn để nhử; vua Tần tham lam, tình thế ấy ắt được điều mình muốn. Nếu uy hiếp được vua Tần, khiến trả hết đất chiếm được của chư hầu, như việc Tào Mạt uy hiếp Tề Hoàn công, thì rất tốt; như không thể, nhân đó đâm chết y. Đại tướng của Tần cầm quân ở ngoài, trong nước có loạn vua tôi ngờ nhau, nhân đó chư hầu hợp tung, ắt phá được Tần. Đó là mong muốn lớn nhất của Đan, mà không biết ủy thác cho ai, chỉ xin Kinh khanh lưu ý.” Lâu sau, Kinh Kha nói: “Đó là việc lớn của nước, thần hèn kém, e không đủ khả năng gánh vác.” Thái tử bước đến trước mặt dập đầu, cố xin đừng từ chối, sau đó [Kinh Kha] chấp nhận. Thế rồi tôn Kinh khanh làm thượng khanh, ở phòng khách thượng hạng. Thái tử hằng ngày đến dưới cổng, khoản đãi bằng gỗ thái lao, không ngừng dâng thứ quý lạ, xe ngựa mĩ nữ, thỏa theo ý Kinh Kha, khiến Kinh Kha hài lòng.

Rất lâu sau, Kinh Kha chưa có ý ra đi. Tướng Tần là Vương Tiễn phá Triệu, bắt sống vua Triệu, thu hết đất đai, tiến quân lên bắc chiếm đất, đến biên giới phía nam nước Yên. Thái tử Đan sợ, bèn thỉnh cầu Kinh Kha rằng: “Quân Tần sớm tối vượt sông Dịch Thủy, dẫu muốn hầu túc hạ mãi, há có được chăng?” Kinh Kha nói: “Không cần Thái tử phải nói, thần cũng muốn xin yết kiến. Nay đi mà không có gì làm tin, vua Tần không cho đến gần. Phàn tướng quân là người vua Tần treo thưởng nghìn cân vàng, phong ấp vạn nhà. Nếu có đầu Phàn tướng quân cùng địa đồ đất Đốc Cang của Yên dâng lên Tần vương, Tần vương ắt vui mừng cầu kiến thần, thần sẽ được báo đáp Thái tử.” Thái tử nói: “Phàn tướng quân cùng khốn về với Đan, Đan không nỡ lòng vì việc riêng mà có ý tổn thương đến tôn trưởng, xin túc hạ nghĩ cách khác cho!”

Kinh Kha biết Thái tử không nỡ lòng, bèn tự gặp riêng Phàn Ư Kỳ, nói: “Tần đối với tướng quân có thể nói thâm độc, cha mẹ tông tộc đều bị giết hết. Nay nghe Tần treo thưởng đầu tướng quân nghìn cân vàng, phong ấp vạn nhà, tướng quân thấy sao?” Ư Kỳ ngẩng đầu lên trời than thở sụt sùi, nói: “Mỗi khi Ư Kỳ nghĩ đến điều đó, luôn đau đến tận xương tủy, nhưng không tìm ra kế gì.” Kinh Kha nói: “Nay chỉ một lời có thể giải trừ nỗi lo của Yên, báo được thù của tướng quân thì sao?” Ư Kỳ tiến đến trước nói: “Phải làm thế nào?" Kinh Kha nói: “Xin được đầu tướng quân để dâng vua Tần, vua Tần ắt vui mà gặp tôi, tôi tay trái cầm ống tay áo, tay phải đâm vào bụng hắn, vậy báo được thù của tướng quân và rửa được nỗi thẹn vì bị lăng nhục của Yên. Tướng quân há có ý gì chăng?” Phàn Ư Kỳ xốc tay áo tiến lên nói: “Đó là điều tôi ngày đêm nghiến răng nát ruột, nay mới được nghe chỉ giáo!” Bèn tự cắt cổ chết. Thái tử hay tin, đi xe ngựa đến, phục bên xác khóc vô cùng đau đớn. Nhưng việc đã rồi không thể làm gì khác, liền đem đầu Phàn Ư Kỳ niêm phong lại.

Thế rồi Thái tử tìm chủy thủ sắc bén trong thiên hạ, kiếm được chủy thủ của Từ phu nhân nước Triệu, trả giá trăm dật vàng, sai thợ đem tôi trong thuốc độc, dùng người để thử, rướm máu như sợi tơ, không ai không chết ngay. Bèn chuẩn bị hành trang cho Kinh Kha lên đường. Nước Yên có dũng sĩ Tần Vũ Dương, mười ba tuổi, giết người, không ai dám nhìn thẳng. Bèn lệnh Tần Vũ Dương làm phó. Kinh Kha đợi người đến, muốn cùng đi; người đó ở xa chưa đến, sắp sẵn hành lý cho. Lâu sau, chưa lên đường, Thái tử cho là chậm trễ, ngờ Kinh Kha hối hận đổi ý, lại thúc giục: “Thời gian đã hết, Kinh khanh há có ý gì chăng? Đan xin được sai Tần Vũ Dương đi trước.” Kinh Kha giận, quát Thái tử: “Sao Thái tử sai hắn đi trước? Đi mà không trở về, là trò trẻ con! Vả lại đem một dao chủy thủ vào Tần mạnh đầy bất trắc, cho nên tôi còn lưu lại, đợi người khách của tôi đến đi cùng. Nay Thái tử cho là chậm trễ, vậy xin từ biệt!” Bèn xuất phát.

Thái tử cùng tân khách biết việc đó, đều mặc áo đội mũ trắng đưa tiễn. Đến trên sông Dịch, tế thần đường[3] xong, liền xuất phát, Cao Tiệm Ly đánh đàn tranh, Kinh Kha họa lại hát theo điệu biến chủy[4], kẻ sĩ đều nhỏ lệ sụt sùi. Lại bước lên hát rằng: “Gió se sắt chừ sông Dịch lạnh, tráng sĩ một đi chừ không trở lại!” Lại hát bằng âm vũ khảng khái, kẻ sĩ đều trợn mắt, tóc dựng xiên lên mũ. Thế rồi Kinh Kha lên xe ra đi, không ngoái nhìn lại nữa.

Đến Tần, đem của cải đáng giá nghìn vàng, tặng sủng thần của Tần vương là quan Trung thứ tử Mông Gia. Gia vì Kinh Kha nói với Tần vương rằng: “Yên vương thực sự sợ oai của đại vương, không dám cất quân chống lại quân Tần, xin đem cả nước làm tôi nội phụ, xếp vào hàng chư hầu, dâng cống như các quận huyện, mong được phụng thờ gìn giữ tông miếu tiên vương. Sợ không dám tự tỏ bày, xin chém đầu Phàn Ư Kỳ, dâng địa đồ đất Đốc Cang nước Yên, bỏ vào hòm niêm phong lại, Yên vương dâng lên sân đình, sai sứ đến báo đại vương, chỉ chờ đại vương hạ lệnh.” Tần vương nghe vậy, cả mừng, mặc triều phục, bày lễ cửu tân, tiếp kiến sứ giả nước Yên ở cung Hàm Dương. Kinh Kha bưng hòm đựng đầu Phàn Ư Kỳ, còn Tần Vũ Dương bưng hàm chứa địa đồ, theo thứ tự tiến vào. Đến bệ rồng, Tần Vũ Dương sợ hãi biến sắc, quần thần lấy làm lạ. Kinh Kha quay lại cười Vũ Dương, tiến lên tạ lỗi: “Kẻ thô lậu nước man di phên giậu phía bắc, chưa từng thấy thiên tử, nên kinh sợ. Xin đại vương lượng thứ, khiến thần được tròn bổn phận sứ giả.” Tần vương bảo Kinh Kha: “Lấy địa đồ Vũ Dương đang cầm lên đây?” Kinh Kha lấy địa đồ dâng lên. Tần vương mở địa đồ, mở hết thì lộ dao chủy thủ. Kinh Kha nhân đó tay trái túm tay áo Tần vương, tay phải cầm dao chủy thủ chực đâm. Chưa chạm đến người, Tần vương kinh sợ, vội vùng dậy, tay áo đứt. Tần vương tuốt kiếm, kiếm dài, chỉ nắm bao kiếm. Đương lúc hoảng hốt, kiếm chặt, không tuốt ngay được. Kinh Kha đuổi Tần vương, Tần vương chạy quanh cột. Quần thần thảng thốt, không biết làm sao, mất cả phong thái bình thường. Theo pháp luật nước Tần, quần thần hầu vua trên điện, không được mang theo một tấc một thước binh khí nào, Lang trung cầm binh khí đều đứng dưới điện, không có chiếu triệu không được lên. Đương lúc cấp bách, không kịp gọi binh lính dưới điện, nên Kinh Kha đuổi theo Tần vương. Trong lúc hoảng hốt, quần thần không biết lấy gì đánh Kha, phải dùng tay không. Khi đó, thầy thuốc đứng hầu là Hạ Vô Thư lấy túi thuốc đem theo ném Kinh Kha. Tần vương đang chạy quanh cột, thảng thốt hoảng sợ, không biết làm sao, tả hữu bèn hô: “Đại vương đeo kiếm sau lưng!” Tần vương bèn tuốt kiếm đánh Kinh Kha, chém đứt đùi trái. Kinh Kha què chân, liền dùng chủy thủ ném Tần vương, không trúng, trúng ngay cột gỗ đồng. Tần vương lại đánh Kha, Kha bị tám vết thương. Kha tự biết việc không thành, dựa cột mà cười, ngồi xổm mà chửi: “Việc sở dĩ không thành, vì ta muốn để người sống rồi uy hiếp, đặng lấy cho được tờ khoán ước để hồi báo Thái tử.” Thế rồi tả hữu tiến lên giết Kha. Tần vương thất thần hồi lâu. Sau đó luận công ban thưởng quần thần theo thứ hạng khác nhau, ban cho Hạ Vô Thư hai trăm dật vàng, nói: “Vô Thư yêu ta, nên lấy túi thuốc ném Kinh Kha vậy.”

Thế rồi Tần vương cả giận, phái thêm quân tiến đến Triệu, lệnh quân Vương Tiễn đánh Yên. Tháng Mười, hạ được Kế Thành. Yên vương là Hỷ và bọn Thái tử Đan đem hết tinh binh sang phía đông giữ đất Liêu Đông. Tướng Tần là Lý Tín đuổi đánh Yên vương rất rát, vua nước Đại là Gia bèn gửi thư cho Yên vương Hỷ rằng: “Sở dĩ Tần truy bức Yên ráo riết, là vì Thái tử Đan. Nay nếu đại vương giết Đan dâng lên Tần vương, Tần vương ắt giải vây, nền xã tắc cũng may mắn được hưởng tế tự.” Sau Lý Tín truy đuổi Thái tử Đan, Đan ẩn ở Diễn Thủy, Yên vương bèn sai sứ chém Thái tử Đan, muốn dâng cho Tần. Tần lại tiến quân đánh Yên. Năm năm sau, Tần diệt được Yên, bắt sống Yên vương Hỷ.

Năm sau, Tần thôn tính được thiên hạ, xưng là hoàng đế. Thế rồi Tần truy bắt môn khách của Thái tử Đan và Kinh Kha, đều trốn. Cao Tiệm Ly thay tên đổi họ, thành người làm thuê, ẩn thân ở đất Tống Tử. Lâu sau, làm việc khổ cực, nghe khách trên nhà chủ đánh đàn trúc, dùng dằng không sao đi được. Mỗi khi mở miệng, liền nói: “Người kia chỗ gảy hay, chỗ gảy dở.” Người theo hầu nói với chủ: “Kẻ kia làm thuê lại hiểu âm nhạc, trộm nói việc đàn hay đàn dở.” Chủ nhà gọi đến, bảo lên nhà đánh đàn trúc, mọi người khen giỏi, tặng rượu. Thế rồi Cao Tiệm Ly nghĩ mình ẩn trốn mãi trong cảnh khốn quẫn, bèn lui xuống, mở hòm trang phục, lấy đàn trúc và quần áo đẹp, lại đổi dung mạo bước lên nhà. Cử tọa đều kinh ngạc, bước xuống hành lễ, tôn làm thượng khách, bảo gảy đàn trúc và hát, khách không ai không sa nước mắt mà về. Vùng Tống Tử thay nhau tôn làm khách, tin truyền đến Tần Thủy Hoàng. Tần Thủy hoàng triệu kiến, có người biết, bèn nói: “Đó là Cao Tiệm Ly.” Tần Thủy hoàng tiếc Ly giỏi đánh đàn trúc, nên tha tội chết, rồi làm mù mắt. Sai đánh đàn trúc, chưa từng không khen hay. Dần dần Tần Thủy hoàng tiến lại gần Cao Tiệm Ly. Cao Tiệm Ly lấy chì đổ vào trong đàn trúc, Tần Thủy hoàng càng tiến đến gần hơn, Cao Tiệm Ly giơ đàn trúc đánh Tần Thủy hoàng, không trúng. Thế rồi Thủy hoàng bèn giết Cao Tiệm Ly, trọn đời không thân cận người nước chư hầu nữa.

Lỗ Câu Tiễn nghe chuyện Kinh Kha hành thích Tần vương, nói riêng rằng: “Ôi chao, tiếc thay Kinh Kha không giỏi kiếm thuật. Ta thực không biết người quá đỗi! Trước đây ta quát hắn, hắn liền cho ta không phải người cùng chí hướng!”

Thái sử công bàn rằng: Người đời nói về chuyện Kinh Kha, khen Thái tử Đan có mệnh trời, “trời mưa thóc, ngựa mọc sừng” thực là nói quá. Lại nói Kinh Kha đả thương Tần vương, đều sai cả. Trước kia Công Tôn Quý Công, Đổng Sinh giao du với Hạ Vô Thư, đều biết chuyện đó, nói lại với tôi như kể trên đây. Từ Tào Mạt đến Kinh Kha là năm người, nghĩa cử hoặc thành công, hoặc không thành, nhưng họ lập chí đều rõ ràng, không làm nhục chí mình, tên truyền đời sau, đâu phải truyền xằng.

[1] Ý nói muốn tranh đoạt ngôi vua.

[2] Ý nói nếu xảy ra gì, công tử Quang sẽ lo liệu cho thân nhân của Chuyên Chư, giống như Chuyên Chư còn sống.

[3] Tục thời cổ, trước khi lên đường đi xa thì làm lễ tế thần đường, gọi là tế "tổ 祖".

[4] Biến chủy: một trong năm âm điệu thời cổ, là âm điệu của sự bi tráng.

Phạm Văn Ánh (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.