Sử Ký II. Liệt Truyện (Thượng)

Lượt đọc: 416 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 87 LÝ TƯ LIỆT TRUYỆN

❊ ❊ ❊

Lý Tư người đất Thượng Sài nước Sở. Lúc còn trẻ, làm viên lại nhỏ trong quận, thấy trong nhà xí chỗ mình có con chuột ăn thứ bẩn thỉu, gần người và chó, thường hay kinh sợ. Tư vào kho, thấy chuột trong kho ăn thóc gạo tích chứa trong đó, ở trong kho lớn, không thấy nó sợ người và chó. Thấy vậy, Lý Tư bèn than: “Người hiền năng hay kém cỏi cũng như con chuột vậy, do chỗ nào mà thôi.”

Bèn theo Tuân Khanh học về thuật đế vương. Học đã thành, xét thấy Sở vương không đủ để thờ, còn sáu nước đều yếu, không phải chỗ có thể lập công danh sự nghiệp, muốn sang phía tây đến Tần. Từ biệt Tuân Khanh rằng: “Tư nghe gặp thời cơ không để mất, nay nước muôn cỗ xe đang tranh giành nhau, kẻ du thuyết chủ trì chính sự. Hiện Tần vương muốn thôn tính thiên hạ, xưng đế mà cai trị, cũng là lúc kẻ áo vải rong ruổi, là thời cơ cho kẻ du thuyết. Kẻ ở chỗ thấp hèn mà không nắm bắt, cũng như cầm thú thấy thịt thì ăn, mang mặt người gượng đi đấy thôi. Cho nên nhục không gì lớn bằng thấp hèn, bi ai không gì bằng cùng quẫn. Ở mãi địa vị thấp hèn, trong chỗ khốn quẫn, ghét đời chê lợi, tự cho mình không thèm làm, đó không phải ý của kẻ sĩ. Do đó Tư sẽ sang tây du thuyết Tần vương.”

Đến Tần, đúng lúc Trang Tương vương chết, Lý Tư bèn làm xá nhân của Tướng quốc nước Tần là Văn Tín hầu Lã Bất Vi; Bất Vi cho là hiền năng, trao chức quan lang. Nhân đó Lý Tư được du thuyết, khuyên Tần vương rằng: “Kẻ tầm thường hay để lỡ thời cơ. Người lập công lớn là do biết dựa kẽ hở rồi bạo dạn mà làm. Xưa kia Tần Mục công xưng bá, cuối cùng không tiến về đông thâu tóm sáu nước, sao vậy? Vì chư hầu còn đông, đức nhà Chu chưa suy, nên Ngũ bá thay nhau dấy lên, tôn thờ nhà Chu. Từ Tần Hiếu công đến nay, nhà Chu suy vi, chư hầu thôn tính lẫn nhau, phía đông Hàm Cốc thành ra sáu nước, Tần thừa thắng sai khiến chư hầu cũng được sáu đời rồi. Nay chư hầu thần phục Tần, giống như quận huyện của Tần. Dựa vào sự hùng cường của Tần, sự hiền minh của đại vương, đủ để diệt chư hầu, hoàn thành đế nghiệp, nhất thống thiên hạ, dễ như quét bụi trong bếp vậy, đó là thời cơ muôn đời có một. Nay chần chừ không kíp nắm bắt, chư hầu mạnh lên, liên kết hợp tung, thì dẫu giỏi như Hoàng Đế cũng không thể thôn tính được.” Tần vương bèn phong Lý Tư làm Trưởng sử, nghe theo kế sách, ngầm sai mưu sĩ mang vàng ngọc đi du thuyết chư hầu. Những danh sĩ ở chư hầu có thể dùng của cải mua chuộc sẽ đưa lễ hậu liên kết; ai không chịu thì dùng kiếm sắc giết đi. Sau khi thực hiện kế ly gián vua tôi các nước, Tần vương sai tướng giỏi tấn công. Tần vương phong Tư làm khách khanh.

Đúng lúc Trịnh Quốc người Hàn đến ly gián Tần, liên quan việc đào kênh tưới tiêu, việc bị phát giác. Tổng thất đại thần nước Tần đều nói với Tần vương: “Người nước chư hầu đến thờ Tần, đại để là vì chúa họ mà đến du thuyết để ly gián Tần thôi, xin đuổi hết tân khách đi.” Lý Tư cũng trong số bị đuổi. Tư dâng thư nói:

“Thần nghe quan lại bàn việc đuổi tân khách, trộm cho là sai lầm. Xưa Mục công cầu kẻ sĩ, phía tây thu dụng Do Dư tại đất Nhung, phía đông được Bách Lý Hề ở đất Uyển, đón Kiển Thúc ở đất Tống, vời được Phi Báo, Công Tôn Chi ở Tấn. Năm người đó không sinh ở Tần, mà Mục công dùng họ, chiếm hai mươi nước, thành bá chủ ở Tây Nhung.

Hiếu công dùng sách lược của Thương Ưởng, thay đổi phong tục, khiến dân sung túc, đất nước mạnh giàu, trăm họ vui vẻ khi được trưng dụng, chư hầu thần phục, bắt được tướng Sở và Ngụy, chiếm ngàn dặm đất, đến nay yên trị hùng cường.

Huệ vương dùng kế của Trương Nghi, hạ đất Tam Xuyên, tây chiếm đất Ba đất Thục, bắc thu phục Thượng Quận, nam lấy đất Hán Trung, bao quát chín tộc người Di, khống chế đất Yên đất Dĩnh, đồng chiếm Thành Cao hiểm trở, cắt lấy phần đất màu mỡ, phá tan hợp tung sáu nước, khiến họ ngoảnh mặt về tây thờ Tần, công truyền đến nay.

Chiêu vương được Phạm Thư, phế truất Nhương hầu, đuổi Hoa Dương, khiến vương thất hùng mạnh, chẹn đường kẻ lạm quyền, chiếm chư hầu như tằm ăn lá dâu, khiến Tần thành đế nghiệp. Bốn vị vua ấy, đều nhờ công của tân khách. Từ đó mà xét, khách đâu phụ gì Tần!

Ví phỏng bốn vị vua ấy đều cự tuyệt tân khách, không chịu thu nạp, xa lánh kẻ sĩ chẳng dùng họ, là khiến nước không thực sự giàu lợi, Tần cũng không có tiếng là nước lớn mạnh vậy.

Nay bệ hạ chiếm ngọc đẹp Côn Sơn, có ngọc châu Tùy hầu, ngọc bích họ Hòa, rủ châu minh nguyệt, đeo kiếm Thái A, cưỡi ngựa Tiêm ly, dựng cờ Thúy phượng, dựng trống Linh đà. Các báu vật ấy, Tần không có thứ nào, nhưng bệ hạ lại thích, tại sao vậy?

Nếu phải là thứ sinh ra ở Tần mới được, thì ngọc bích dạ quang không được tô điểm ở triều đình, vật làm bằng sừng tê ngà voi không được thưởng ngoạn, mĩ nữ nước Trịnh, Vệ không được sung vào hậu cung, tuấn mã Quyết đề không được nuôi ngoài chuồng, vàng thiếc Giang Nam không được dùng, màu xanh đỏ của Tây Thục không được chọn.

Đồ dùng trang sức cho hậu cung, phi tần, đặng thỏa lòng đẹp dạ, êm tai thích mắt, đều phải xuất xứ ở Tần mới được, thì trâm bằng ngọc đất Uyển, khuyên tai Phụ cơ, the lụa Đông A, các đồ điểm tô bằng gấm vóc không được dâng tiến, còn thiếu nữ nước Triệu yểu điệu xinh đẹp theo phong tục trở nên tao nhã không được đứng bên cạnh vậy.

Xét lẽ, việc gõ hũ khua vò, đánh đàn tranh, vỗ đùi mà hát hú ô ô thích tai, đúng là thanh âm nước Tần; các loại Trịnh, Vệ, Tang Gian, Chiêu, Ngu, Vũ, Tượng là nhạc của nước khác. Nay bỏ việc gõ hũ khua vò mà tìm đến nhạc Trịnh, Vệ, dẹp đàn tranh mà lấy nhạc Chiêu, Ngu, vậy là tại sao? Thấy sảng khoái thích ý mà thôi. Nay dùng người lại không như vậy. Không xét phải trái, chẳng bàn cong ngay, không phải người Tần liền bỏ, cứ khách là đuổi. Vậy coi trọng sắc, nhạc, châu, ngọc, mà coi khinh người dân vậy. Đó không phải cách vươn lên chế phục chư hầu.

Thần nghe đất rộng sẽ nhiều thóc, nước lớn thì người đông, quân mạnh thì binh dũng. Vì thế, núi Thái Sơn không từ hòn đất nhỏ, mới lớn như vậy; sông bể không từ dòng nước bé, mới sâu đến thế; vương giả không đuổi dân chúng, mới làm sáng được cái đức của mình. Vì thế, đất không chia bốn phương, dân không nề nước khác, bốn mùa tươi đẹp, quỷ thần giáng phúc, là lý do khiến Ngũ đế, Tam vương vô địch vậy. Nay vứt bỏ dân chúng, giúp thêm nước địch, tống khứ tân khách để chư hầu nên nghiệp lớn, khiến kẻ sĩ trong thiên hạ lui gót, không dám hướng về tây, dừng bước không vào Tấn, đó gọi là 'Trao vũ khí vào tay giặc, cấp lương thảo cho giặc cướp' vậy.

Phàm vật không sản sinh ở Tần, nhưng thực quý hiếm rất nhiều, kẻ sĩ không sinh ra ở Tần, nhưng nguyện trung thành rất đông. Nay đuổi khách nhằm giúp nước địch, tổn hại dân mình để làm lợi kẻ thù, trong tự làm suy yếu, ngoài kết oán chư hầu, muốn nước không nguy, cũng không thể được.”

Tần vương liền bãi lệnh đuổi khách, phục chức cho Lý Tư, lại dùng kế của Tư. [Lý Tư] làm quan đến chức Đình úy. Hơn hai mươi năm, [Tần] thôn tính được thiên hạ, tôn chúa làm Hoàng đế, phong Tư làm Thừa tướng. San phẳng thành quách các quận huyện, nấu chảy đồ binh khí, để tỏ ra không dùng đến nữa. Khiến Tần không phong một thước đất, không lập con em làm vương, không cho công thần làm chư hầu, là nhằm khiến sau này không phải lo đánh lẫn nhau.

Tần Thủy hoàng năm thứ ba mươi tư, bày tiệc rượu ở cung Hàm Dương, bọn Bác sĩ bộc xạ Chu Thanh Thần tụng ca uy đức Thủy hoàng. Thuần Vu Việt người Tề tiến lên can rằng: “Thần nghe nói, thời Ân Chu làm vua hơn nghìn năm, phong con em công thần để họ giúp mình. Nay bệ hạ có bốn biển, mà con em là đám thất phu, ví sau này xảy ra họa Điền Thường, Lục khanh, không có bề tôi phụ bật, lấy gì ứng cứu? Việc không theo lối cổ mà được lâu dài là điều chưa từng nghe vậy. Nay bọn Thanh Thần ra mặt a dua khiến sai lầm của bệ hạ thêm nặng, đó không phải kẻ tôi trung.” Thủy hoàng hạ lệnh cho Thừa tướng bàn nghị, Thừa tướng cho thuyết đó sai lầm, truất bỏ lời [Thuần Vu Việt] nói, rồi dâng thư rằng:

“Khi xưa thiên hạ phân tán hỗn loạn, không ai đưa về một mối, cho nên chư hầu cùng nổi lên, lời nói đều theo xưa khiến hại đến nay, điểm chuốt lời suông làm rối sự thực, ai nấy coi sở học riêng mình là hay, để rồi bài bác khuôn phép thánh thượng đặt ra. Nay bệ hạ thâu tóm thiên hạ, phân biệt trắng đen, định ngôi tôn quý; nhưng kẻ học cái riêng cùng bài bác chế độ pháp luật, giáo hóa, nghe lệnh ban xuống đều đem sở học riêng ra bàn nghị, vào thì trong bụng bài bác, ra thì trao đổi ngoài ngõ, chê vua để lấy danh tiếng, làm khác để tỏ mình cao, lôi kéo người dưới để hủy báng. Như thế không cấm đoán thì trên là uy của vua suy giảm, dưới sẽ kết bè kéo đảng. Cấm là hơn. Thần đề nghị ai tàng trữ Thi, Thư cùng văn của bách gia, đều bãi bỏ hết. Lệnh trong ba mươi ngày mà không bỏ thì xử thích chữ vào mặt đày làm lao dịch đắp thành. Các sách không bỏ là sách về y dược, bói toán, trồng cây. Nếu ai muốn học, lấy viên lại làm thầy.” Thủy hoàng chấp nhận kiến nghị, cho thu hủy Thi, Thư cùng sách của bách gia, làm trăm họ ngu tối, khiến thiên hạ không còn lấy việc xưa hủy báng nay. Làm sáng pháp độ, chế định luật lệnh, đều bắt đầu từ Thủy hoàng. Chữ dùng chung một lối. Xây dựng ly cung, biệt quán khắp thiên hạ. Năm sau, lại tuần thú, ngoài đánh dẹp Tứ di, đều có Tư góp sức.

Con trai cả của Tư là Do làm Thái thú Tam Xuyên, các con trai đều lấy công chúa nước Tần, con gái thảy được gả cho các công tử nước Tần. Thái thú Tam Xuyên Lý Do xin về Hàm Dương. Lý Tư bày tiệc rượu tại nhà, trăm quan đều đến chúc thọ, ngoài cổng ngoài sân xe ngựa hàng ngàn cỗ. Lý Tự bùi ngùi than rằng: “Than ôi! Ta nghe thầy Tuân Khanh nói: 'Việc kỵ nhất là quá thịnh.' Xét Tư là kẻ áo vải ở Thượng Cái, là kẻ đầu đen nơi xóm ngõ, hoàng thượng không biết ta vốn kém cỏi, cất nhắc lên đến mức này. Ngày nay địa vị bề tôi không còn ai trên, có thể nói giàu sang tột bậc. Vật cực sẽ suy, ta chưa biết kết cục thế nào đâu!”

Thủy hoàng năm thứ ba mươi bảy, tháng Mười, xuất du ra núi Cối Kê, men biển lên phía trên, mạn bắc đến tận Lang Da. Thừa tướng Lý Tư, Trung xa phủ lệnh Triệu Cao cùng giữ ấn tín ngọc tỷ đều được đi theo. Thủy hoàng có hơn hai mươi người con, con trưởng Phù Tô vì lời can gián thẳng thắn, bị sai đi giám sát quân ở Thượng Quận, Mông Điềm làm tướng. Con nhỏ Hồ Hợi được yêu quý, xin theo, vua đồng ý. Các con khác không ai theo.

Tháng Bảy năm ấy, Thủy hoàng đến Sa Khưu, bệnh nặng, sai Triệu Cao viết thư gửi công tử Phù Tô: “Đem quân trao cho Mông Điềm, về chịu tang ở Hàm Dương, lo lễ an táng.” Thư đã dán, chưa trao cho sứ giả thì Thủy hoàng băng hà. Thư cùng ngọc tỷ đều ở chỗ Triệu Cao, chỉ con trai Hồ Hợi, Thừa tướng Lý Tư, Triệu Cao cùng năm sáu sủng thần biết Thủy hoàng đã băng hà, các bề tôi khác không ai hay biết. Lý Tư cho rằng Hoàng thượng băng hà ở ngoài, không có Thái tử thực thụ, cố giấu kín. Đặt Thủy hoàng vào trong xe có rèm kín, trăm quan tâu việc và dâng đồ ăn như trước, có viên quan trong xe chuẩn y các lời tâu.

Triệu Cao nhân đó giữ bức thư đóng dấu ngọc tỷ trao cho Phù Tô, rồi bảo công tử Hồ Hợi rằng: “Hoàng thượng băng hà, không có chiếu phong vương cho các con mà ban thư cho riêng con trưởng. Con trưởng đến, lập tức lên ngôi hoàng đế, còn ngài không có tấc đất nào, phải làm sao đây?" Hồ Hợi đáp: “Vốn dĩ là thế. Ta nghe nói, vua sáng suốt biết bề tôi, cha sáng suốt hiểu con mình. Cha mất đi, không phong cho các con, biết nói sao được?” Triệu Cao nói: “Không phải. Lúc này nắm quyền thiên hạ, còn hay mất ở ngài cùng Cao này và Thừa tướng thôi, xin ngài tính cho. Vả lại khiến người làm bề tôi và bị người coi là bề tôi, khống chế người hay bị người khống chế, há nói là giống nhau sao?” Hồ Hợi đáp: “Phế anh lập em, đó là bất nghĩa; không phụng di chiếu của cha mà sợ chết, đó là bất hiếu; tài hèn sức mạn, gượng dựa công của người khác, đó kém cỏi. Ba việc trái đức, thiên hạ không phục, chuốc nguy đến thân, xã tắc không được thờ tự nữa.” Cao nói: “Thần nghe Thành Thang, Vũ vương giết vua mình, thiên hạ khen là nghĩa, không cho là bất trung. Vua nước Vệ giết cha mình, Vệ khen là có đức, Khổng tử chép việc đó, không cho là bất hiếu. Xét lẽ, làm việc lớn không nệ vào tiểu tiết, đức thịnh không nhường cho ai, làng xóm thảy có lề thói riêng, trăm quan mỗi người một chức phận. Cho nên chú ý việc nhỏ mà quên việc lớn, sau ắt tai hại; hồ nghi do dự, sau ắt hối hận. Quyết đoán dám làm, quỷ thần phải tránh, sau sẽ thành công. Xin ngài chấp thuận!” Hồ Hợi ngậm ngùi than rằng: “Nay vua mất chưa phát tang, tang lễ chưa trọn, há đem việc ấy cầu cạnh Tướng quốc?” Triệu Cao đáp: “Thời cơ thời cơ, chốc lát không kịp tính toán, như mang lương phóng ngựa, chỉ e lỡ dịp.”

Hồ Hợi nghe theo lời Cao, Cao nói: “Không bàn với Thừa tướng, e việc không thể thành, thần xin vì ngài bàn với Thừa tướng việc ấy.” Cao bèn nói với Thừa tướng Lý Tư rằng: “Hoàng thượng băng hà, ban thư cho con trưởng về chịu tang ở Hàm Dương rồi lập làm người thừa kế. Thư chưa gửi, nay hoàng thượng băng, chưa có ai biết. Thư gửi con trưởng cùng ngọc tỷ đều ở chỗ Hồ Hợi, lập Thái tử là ở miệng quân hầu và Cao thôi. Việc phải làm thế nào?” Tư đáp: “Sao dám nói lời 'mất nước'! Đó không phải việc bề tôi bàn nghị” Cao nói: “Quân hầu tự xét tài năng ai so được với Mông Điềm? Công cao ai so được với Mông Điềm, mưu kế sâu xa không bao giờ sai thì ai so được với Mông Điềm, không kết oán với thiên hạ thì ai so bằng Mông Điềm? Con trưởng có thâm giao và tín nhiệm chẳng ai so bằng Mông Điềm?” Tư đáp: “Năm điều ấy đều không bằng Mông Điềm, mà sao ông đòi tôi kỹ thế?" Cao đáp: “Cao vốn là hoạn quan lo việc phục dịch, may nhờ biết chữ nghĩa nên được vào cung nước Tần, coi việc hơn hai mươi năm, chưa từng thấy Thừa tướng là công thần của Tần bị bãi miễn mà lại được phong đến đời thứ hai, đều bị giết cả. Hoàng đế có hơn hai mươi người con, ngài đều quen mặt. Con trưởng cương nghị vũ dũng, tin người lại biết khích động kẻ sĩ, lên ngôi ắt dùng Mông Điềm làm Thừa tướng, cuối cùng quân hầu không thể mang ấn Thông hầu về quê hương, rõ là vậy. Cao nhận chiếu dạy Hồ Hợi, rèn học thứ liên quan đến pháp luật đã nhiều năm, chưa từng thấy mắc lỗi. Nhân từ đôn hậu, xem thường của cải, coi trọng kẻ sĩ, trong lòng sáng láng, không giỏi nói năng, trọng lễ nghi, kính kẻ sĩ, trong các con Tần vương không ai theo kịp, có thể kế vị. Ngài hãy tính rồi quyết đi.” Tư nói: “Ông trở lại vị trí của mình! Tư theo chiếu chỉ nhà vua, nghe theo mệnh trời, có lo gì mà phải quyết định nữa?” Cao đáp: “An có thể thành nguy, nguy có thể thành an. An nguy không định trước được, sao coi là cao quý thánh minh?” Tư nói: “Tư này là kẻ áo vải ở xóm làng Thượng Cái, hoàng thượng yêu mến cất nhắc làm Thừa tướng, phong làm Thông hầu, con cháu đều được ngôi vị tôn quý, bổng lộc trọng hậu, cho nên đem sự tồn vong, an nguy giao phó cho, há có thể phụ? Tôi trung không tránh chết mà mong sống, con hiếu không làm quá lao khổ đến nỗi gặp nguy, bề tôi ai nấy giữ chức phận mà thôi. Ông đừng nói nữa, kẻo khiến Tư mắc tội.” Cao nói: “Từng nghe thánh nhân thay đổi vô thường, xử biến theo thời, thấy ngọn biết gốc, nhìn vật rõ kết cục. Sự vật vốn như thế, sao có thể theo phép thường! Nay quyền hành mệnh lệnh của thiên hạ trong tay Hồ Hợi, Cao có thể nhờ đó được đắc chí. Vả lại từ ngoài khống chế trong gọi là loạn, từ dưới khống chế trên gọi là giặc. Nên mùa thu sương xuống, cỏ hoa rơi rụng; nước róc rách chảy, muôn vật trỗi dậy, là lẽ tất nhiên. Sao ngài thấy muộn thế?” Tư đáp: “Tôi nghe Tấn thay Thái tử, ba đời không yên; anh em Tề Hoàn công tranh ngôi, thân bị giết chết; vua Trụ giết thân thích, không nghe lời khuyên can, đất nước thành gò đống, nguy hại đến xã tắc. Ba trường hợp trái lẽ trời, tông miếu không được tế tự. Tư còn là người, sao lại mưu thế?” Cao nói: “Trên dưới đồng lòng, có thể lâu dài; trong ngoài nhất trí, sự việc thành công. Ngài theo kế của tôi, mãi mãi được phong hầu, đời đời xưng vương hầu, ắt thọ như Vương tử Kiều, Xích Tùng tử, trí tuệ sáng suốt như Khổng tử, Mặc tử. Nay bỏ cơ hội này không theo, họa đến con cháu, đủ khiến người ớn lạnh tâm can. Người giỏi sẽ nhân họa chuyển thành phúc, ngài định làm sao?" Tư bèn ngẩng mặt lên trời than, nhỏ lệ sụt sùi: “Than ôi! Riêng gặp đời loạn, đã không thể chết, biết gửi mệnh vào đâu!" Thế rồi Tư nghe lời Cao. Cao bèn báo cho Hồ Hợi: “Thần đem mệnh sáng của Thái tử báo với Thừa tướng, Thừa tướng Lý Tư dám không vâng lệnh?”

Thế rồi cùng nhau mưu tính, giả bộ Thừa tưởng nhận di chiếu của Thủy hoàng, lập Hồ Hợi làm Thái tử. Lại làm thư ban cho con trưởng Phù Tô:

“Trẫm tuần thú thiên hạ, tế thần ở danh sơn nhằm kéo dài tuổi thọ. Nay Phù Tô và tướng quân Mông Điềm cầm mấy chục vạn quân đóng đồn tại biên giới, hơn chục năm trời, không thể tiến lên trước, tổn hao nhiều sĩ tốt, không có chút công lao, lại mấy lần gửi thư lên phỉ báng những việc ta làm, chỉ vì không được thôi việc cầm quân về làm Thái tử, ngày đêm oán vọng. Phù Tô làm con bất hiếu, ban kiếm cho để tự liệu! Tướng quân Điềm cùng Phù Tô ở ngoài, không giúp sửa đổi, hẳn biết mưu của Tô. Làm tôi bất trung, ban cho được chết, đem binh quyền trao cho tỳ tướng Vương Ly.” Bèn dùng ngọc tỷ của hoàng đế niêm phong thư lại, sai môn khách của Hồ Hợi đem thư dâng lên Phù Tô ở Thượng Quận.

Sứ giả đến, mở thư, Phù Tô khóc, vào trong nhà, định tự sát. Mông Điềm ngăn lại nói: “Bệ hạ ở ngoài, chưa lập Thái tử, sai tội đem ba mươi vạn quân giữ biên giới, công tử làm người giám sát, là trách nhiệm trọng đại trong thiên hạ. Nay chỉ một viên sứ đến, liền tự sát, biết đâu có sự gian trá? Xin hãy thỉnh mệnh lần nữa, rồi sau hãy chết cũng chưa muộn.” Sứ giả nhiều lần thúc giục. Phù Tô có lòng nhân, bảo Mông Điềm rằng: “Cha ban chết cho con, còn thỉnh thị làm gì?” Liền tự sát. Mông Điềm không chịu chết, sứ giả giao cho ngục lại, giam ở Dương Chu.

Sứ giả về báo, Hồ Hợi, Lý Tư và Triệu Cao cả mừng. Đến Hàm Dương, phát tang, Thái tử lên làm Nhị thế hoàng đế. Lấy Triệu Cao làm Lang trung lệnh, thường hầu trong cung, xử trí công việc.

Nhị thế nhân lúc nhàn rỗi, bèn triệu Cao vào bàn việc, bảo rằng: “Người ta sống trên thế gian, ví như sáu ngựa ký chạy vút qua khe hở[1]. Ta đã có thiên hạ, muốn hưởng những điều thích tai vui mắt, vui sướng tận đáy lòng, muốn tông miếu vẫn yên, trăm họ vẫn vui, mãi có thiên hạ, trọn được tuổi trời, có cách nào không?" Cao đáp: “Đó là điều nên làm của bậc chúa hiền, lại là cấm kỵ của chúa hôn mê tàn bạo. Thần xin nói về điều đó, không dám tránh tội búa rìu tru diệt, xin bệ hạ lưu tâm đôi chút. Xét lẽ, mưu ở Sa Khưu, các công tử cùng đại thần đều nghi ngờ, mà các công tử là anh ngài, chư vị đại thần cùng được tiên đế trọng nhậm. Nay bệ hạ mới lên ngôi, trong lòng họ ấm ức không phục, sợ sẽ sinh biến. Vả Mông Điềm đã chết, Mông Nghị cầm quân bên ngoài, thần nơm nớp sợ sệt, chỉ e kết cục xấu. Như thế sao bệ hạ có được những thú vui ấy?” Nhị thế hỏi: “Vậy phải làm sao?" Triệu Cao đáp: “Làm nghiêm pháp luật, hình phạt hà khắc, khiến kẻ có tội liên đới người thân, gia tộc chịu tội chung, giết đại thần mà xa lánh cốt nhục; làm kẻ nghèo được giàu, kẻ hèn được sang. Giết hết bề tôi cũ của tiên đế, thay bằng đám thân tín bên cạnh bệ hạ. Như thế họ thầm cảm ơn đức bệ hạ, trừ hết họa hại che lấp mưu gian, quần thần đều được gội ơn trạch, hưởng đức hậu, bệ hạ có thể kê cao gối, mặc ý tùy thích. Chẳng kế nào hơn kế ấy.” Nhị thế theo lời Cao nói, bèn thay đổi pháp luật. Thế rồi quần thần hay các công tử ai có tội, đưa xuống chỗ Cao để thẩm vấn trị tội. Giết đại thần là bọn Mông Nghị, mười hai công tử phơi thây ngoài chợ Hàm Dương, mười công chúa bị xé xác ở đất Đỗ, của cải sung vào huyện quan, người bị liên can nhiều không kể xiết.

Công tử Cao muốn trốn, sợ gia tộc bị bắt, bèn dâng thư nói: “Khi tiên đế còn khỏe, thần vào cung được ban ăn, rời cung được ngồi xe. Thần được ban quần áo trong kho của vua, được ban ngựa quý trong chuồng của vua. Thần đáng chết theo mà không làm được, làm con bất hiếu, làm tôi bất trung. Kẻ bất trung chẳng còn lý do được sống trên đời, thần xin chết theo, mong được táng tại chân núi Ly Sơn. Chỉ xin bệ hạ thương xót.” Thư dâng lên, Hồ Hợi cả mừng, vời Triệu Cao đến cho xem, nói: “Đây có thể gọi là cấp bách chăng?” Triệu Cao đáp: “Bề tôi giữ mạng còn chưa xong, sao còn tính chuyện gây biến được!” Hồ Hợi chấp nhận thư ấy, ban mười vạn tiền để mai táng.

Pháp lệnh trừng phạt ngày càng ngặt nghèo thảm khốc, quần thần ai nấy nơm nớp sợ hãi, nhiều người muốn làm phản. Lại dựng cung A Phòng, đắp đường lớn, đường xe ngựa đi, thuế khóa ngày một nặng, lao dịch binh nhung không ngừng. Thế rồi bọn lính thú nước Sở là Trần Thắng, Ngô Quảng làm loạn, nổi dậy ở Sơn Đông, anh tài tuấn kiệt cùng nhau vùng lên, tự xưng hầu xưng vương phản Tần, quân kéo đến Hồng Môn nhưng bị đẩy lui. Lý Tư nhiều lần muốn can gián, Nhị thế không cho. Thế rồi Nhị thế trách vấn Lý Tư: “Ta có ý riêng, từng nghe Hàn tử[2] nói rằng: 'Đế Nghiêu có thiên hạ, nhà chỉ cao ba thước, cột kèo không đẽo gọt, gianh lợp nhà không cắt, ngay chỗ qua đêm của khách trọ cũng không đến mức thế. Mùa đông mặc áo da hươu, mùa hè mặc áo sợi thô, ăn gạo giã, nấu canh rau hoắc rau lê dại, ăn thức ăn đựng trong liễn, uống nước đựng trong bát đất, ngay đồ ăn của viên coi cổng cũng không tuềnh toàng đến thế. Vua Vũ đào Long Môn, thông đường sông Đại Hạ, khơi chín dòng sông, nắn chín khúc để phòng, dẫn nước lụt đổ ra biển, mà lông đùi lông bắp không mọc, tay chân chai sạn, mặt mũi sạm đen, rồi chết ở ngoài, táng tại Cối Kê, nỗi khổ cực của nô bộc tù binh cũng không đến như thế?' Vậy người tôn quý có cả thiên hạ, há muốn vất vả hình hài, lao khổ tinh thần, thân nơi quán trọ, miệng ăn thức ăn như kẻ coi cổng, tay cầm đồ làm việc như đám nô bộc tù binh ư? Ấy là sự gắng gượng của kẻ kém cỏi, không phải điều người hiền ham chuộng. Kìa như người hiền có thiên hạ, chuyên đem thiên hạ để thỏa ý riêng, đó gọi là sang đến mức có cả thiên hạ. Gọi là người hiền, ắt có thể giữ yên thiên hạ cai trị muôn dân, nay thân không thể làm được điều lợi, sao cai trị thiên hạ nổi? Nên ta muốn buông chí thỏa dục, mãi hưởng thiên hạ không lo tai họa, phải làm thế nào?" Con trai Lý Tư là Do làm Quận thú Tam Xuyên, đám giặc cướp Ngô Quảng chiếm đất phía tây, qua lại không thể ngăn được. Chương Hàm đánh phá, đuổi quân Quảng đi, sứ giả nhiều lần tra xét Tam Xuyên, chê trách Tư ở địa vị tam công, lại để trộm cướp rông càn đến thế. Lý Tư sợ hãi, xem trọng tước lộc, không tìm ra cách, bèn đón ý Nhị thế, muốn mong khoan thứ, liền dâng thư rằng:

“Xét lẽ, vị chúa hiền minh ắt có thể trọn đạo để thi hành thuật đôn đốc và đòi hỏi. Đôn đốc đòi hỏi, bề tôi không dám không dốc khả năng để noi theo chúa. Đó là sự phân định giữa vua tôi, là nghĩa sáng rõ giữa trên dưới, khiến kẻ hiền năng hay kém cỏi trong thiên hạ không dám không dốc sức làm việc được giao phó, noi theo vua mình. Do vậy, riêng vua chế phục thiên hạ mà như không bị khống chế. Bậc có thể hưởng trọn lạc thú, làm chúa hiền minh, há không xét đến điều đó ư?

Cho nên Thân tử[3] nói: 'Có thiên hạ mà không được thỏa ý, đó là lấy thiên hạ làm gông cùm', không gì khác, là không thể đôn đốc đòi hỏi, lại đem thân vất vả vì dân thiên hạ, như Nghiêu, Vũ là thế, nên gọi là gông cùm. Không thể làm sáng thuật của Thân Bất Hại và Hàn Phi, thi hành đạo đôn đốc đòi hỏi, chỉ lấy thiên hạ tự thỏa ý mình, lại chuộng làm việc khổ thể xác mệt tinh thần, đem thân mình phục dịch trăm họ, là việc của bọn dân đen, không phải người chăn dắt thiên hạ, sao đủ coi là sang! Phàm lấy người phục dịch mình, mình sang còn người hèn; lấy mình phục dịch người, mình hèn mà người sang. Cho nên phục dịch người là hèn, người phục dịch mình là sang, từ xưa đến nay, không khi nào không như vậy. Phàm xưa sở dĩ đề cao người hiền, bởi cái sang của họ, sở dĩ chê kẻ kém cỏi, bởi cái hèn của họ. Như Nghiêu, Vũ, đem thân mình phục dịch thiên hạ, nhân đó đề cao họ, như thế cũng làm mất tấm lòng suy tôn hiển năng vậy. Thế gọi là lầm lẫn lớn đó. Gọi là gông cùm, chẳng cũng phải sao? Đó là sai lầm trong việc đôn đốc đòi hỏi vậy.

Do đó Hàn tử nói: 'Mẹ hiền có con hư, nhà nghiêm không có đầy tớ hung tợn', sao vậy? Là biết trừng phạt vậy. Cho nên phép của Thượng quân, phạt kẻ bỏ tro ra đường. Vứt tro là tội nhỏ, còn bị phạt, là phạt nặng. Chỉ bậc vua sáng mới có thể đôn đốc tiết ráo với tội nhẹ. Tội nhẹ còn đôn đốc riết ráo, huống chi tội nặng? Vì thế dân không dám phạm tội. Bởi vậy Hàn tử nói: 'Vải lụa tầm thường, người thường không bỏ; trăm dật vàng ròng, Đạo Chích không lấy', không phải trong lòng người thường xem trọng, không phải cái lợi tầm thường ấy lớn, mà ham muốn của Đạo Chích là nhỏ; cũng không phải Đạo Chích không trộm vì khinh trăm dật vàng ròng kia. Trộm ắt bị trừng phạt, nên Đạo Chích không lấy trăm dật vàng; hình phạt không nhất định thi hành thì người thường không bỏ dẫu thứ tầm thường. Cho nên thành cao năm trượng, Lâu Quý không dám khinh suất xâm phạm; Thái Sơn cao trăm nhận, dê cái què chân có thể lên trên. Xét lẽ, Lâu Quý coi năm trượng là khó, há dê cái què coi lên cao trăm nhận là dễ ư? Do thế dốc phẳng khác nhau vậy. Minh chúa thánh vương sở dĩ năng ở lâu trên ngôi cao, mãi nắm trọng quyền, riêng giữ mối lợi trong thiên hạ, không có đạo lý nào khác, có thể một mình quyết đoán và thẩm xét việc đôn đốc đòi hỏi, ắt xử thật nghiêm, cho nên thiên hạ không dám phạm tội. Nay không chuộng cái người ta không phạm phải, mà chuộng việc mẹ hiền làm con hư, thế là không xét đến lời bàn của thánh nhân. Không thể thi hành thuật của thánh nhân thì ngoài làm tôi tớ thiên hạ còn làm được gì khác? Chẳng đáng thương ư?

Vả lại, người liêm khiết nhân nghĩa trong triều thì lạc thú cuồng phóng sẽ dứt; bề tôi can gián, luận bàn lý lẽ đứng bên thì chí hướng buông thả bị kiềm chế; đức hạnh của kẻ sĩ tiết liệt được hiển dương ở đời thì thú vui dật lạc bị bỏ. Cho nên minh chúa có thể gạt bỏ ba loại người đó, riêng mình thi hành phương pháp để chế ngự, khiến bề tôi nghe theo, rồi tu sửa pháp luật sáng rõ, theo đó thân thêm cao thế thêm trọng. Phàm bậc hiền chúa ắt có thể làm trái lẽ đời, thay đổi phong tục, bỏ điều mình ghét, lập điều mình muốn, vì thế khi sống có thể cao trọng, khi chết có tên thụy bậc hiền minh. Do vậy minh quân một mình quyết đoán, nên quyền hành không ở tay bề tôi. Rồi sau, có thể diệt con đường của nhân nghĩa, bịt miệng kẻ du thuyết, chế áp hành vi kẻ sĩ tiết liệt, chặn sự khôn ngoan, che sự sáng suốt, bên trong chỉ nhìn chỉ nghe riêng mình, nên bên ngoài không bị lay động bởi hành vi của kẻ sĩ nhân nghĩa tiết liệt, còn bên trong không bị những lời biện bác can gián làm thay đổi. Do vậy có thể phóng túng theo tâm mình mà không ai dám trái ý. Như thế sau mới gọi là làm sáng thuật của Thân Bất Hại, Hàn Phi và tu sửa pháp của Thượng quân. Pháp được tu chỉnh, thuật được làm sáng mà thiên hạ loạn, là điều chưa từng nghe vậy. Nên nói 'Vương đạo gọn mà dễ thi thố' vậy. Duy chỉ minh chúa mới có thể thi hành. Như thế gọi là thực thi được việc đôn đốc và đòi hỏi thì bề tôi không có mưu gian, bề tôi không gian tà thì thiên hạ yên ổn, thiên hạ yên ổn thì chúa được tôn nghiêm, chúa được tôn nghiêm thì càng cần đôn đốc đòi hỏi, càng đôn đốc đòi hỏi ắt đạt điều mình muốn, đạt điều mình muốn khiến quốc gia giàu có, quốc gia giàu có thì vua được lạc thú và đủ đầy. Vì vậy thi hành thuật đôn đốc đòi hỏi thì điều mình muốn không gì không đạt được. Bề tội trăm họ lo bổ cứu lỗi lầm còn chưa xong, sao dám tính đến chuyện gây biến? Như thế đạo đế vương được hoàn bị, gọi là năng làm sáng thuật vua tôi, dẫu Thân Bất Hại, Hàn Phi có sống lại, cũng không thể làm hơn được vậy.”

Thư tấu trình lên, Nhị thế rất thích. Bèn thi hành việc đôn đốc đòi hỏi thêm ngặt, ai thu nặng thuế của dân thì cho là quan sáng suốt. Nhị thế nói: “Như thế gọi là biết đôn đốc đòi hỏi vậy.” Người bị phạt chiếm quá nửa trên đường, còn người chết ngày một chất đầy ngoài chợ. Kẻ nào giết nhiều người thì được coi là tôi trung. Nhị thế nói: “Như thể gọi là biết đôn đốc đòi hỏi vậy.”

Ban đầu, Triệu Cao làm Lang trung lệnh, giết và báo thù riêng nhiều người, sợ đại thần vào triều tâu việc bài xích, bèn nói với Nhị thế rằng: “Thiên tử sở dĩ tôn quý, chỉ để người ta nghe danh, quần thần không được trông thấy mặt, nên gọi là trẫm. Và lại bệ hạ còn trẻ tuổi, chưa chắc thông tường mọi việc, nay ngồi triều đình, trách phạt có chỗ không xác đáng thì lộ sở đoản cho đại thần thấy, không phải cách tỏ thần minh với thiên hạ. Nếu bệ hạ chắp tay ngồi cung cấm, cùng thần và hầu cận thạo phép chờ có việc, trình tấu lên cân nhắc xử trí. Như thế đại thần không dám tấu những việc còn ngờ, thiên hạ xưng tụng là thánh chúa.” Nhị thế theo cách đó, bèn không ở triều tiếp kiến đại thần mà ngồi trong cung cấm. Triệu Cao thường hầu cận trong cung, mọi việc do Cao quyết định.

Cao nghe Lý Tư đánh tiếng việc đó, bèn gặp Thừa tướng, nói: “Ở Quan Đông trộm cắp nổi lên rất đông, nay hoàng thượng kíp trưng dụng lao dịch xây cung A Phòng, tụ hợp lũ chó ngựa vô dụng. Tôi muốn can nhưng địa vị hèn. Đó thực là việc của quân hầu, sao ngài không can?” Lý Tư đáp: “Hẳn thế, tôi muốn nói lâu rồi. Nay hoàng thượng không ở trong triều, lại ngồi thâm cung, tôi có điều muốn nói, không thể truyền đạt được, muốn cầu kiến cũng không có cơ hội.” Triệu Cao nói: “Ngài có thể can ngăn, xin vì ngài chờ lúc hoàng thượng rảnh sẽ báo cho biết.” Thế rồi Triệu Cao chờ lúc Nhị thế đương an vui, có phụ nữ trước mặt, sai người báo Thừa tướng: “Hoàng thượng đường rảnh, có thể tấu trình việc.” Thừa tướng đến cửa cung yết kiến hoàng thượng, cứ thế ba lần. Nhị thế giận nói: “Ta thường rảnh nhiều hôm, Thừa tướng không đến. Nay ta vui chơi một mình, Thừa tướng liền xin tấu trình công việc. Thừa tướng cho ta ít tuổi hay xem ta không biết gì?” Triệu Cao nhân đó nói: “Như thế nguy lắm! Mưu việc ở Sa Khưu, Thừa tướng có tham dự. Nay bệ hạ làm hoàng đế, còn Thừa tướng chẳng sang quý thêm, hẳn ý ông ta muốn bệ hạ cắt đất phong vương đấy. Vả bệ hạ không hỏi thần, thần không dám nói. Con trưởng của Thừa tướng là Lý Do làm Quận thú Tam Xuyên, bọn trộm nước Sở là Trần Thắng đều là con em huyện bên của Thừa tướng, vì thế bọn trộm nước Sở công nhiên lộng hành, qua Tam Xuyên, Quận thú giữ thành không chịu ra đánh. Cao nghe nói họ có thư từ qua lại, nhưng chưa thẩm xét, nên chưa dám báo lên. Hơn nữa Thừa tướng ở ngoài, quyền uy hơn cả bệ hạ.” Nhị thế cho là phải. Muốn xử Thừa tướng, sợ chưa phải sự thực, bèn sai người điều tra Quận thú Tam Xuyên và tình trạng thông mưu với trộm cướp. Lý Tư biết chuyện đó.

Bấy giờ Nhị thế ở cung Cam Tuyền, đang xem trò đấu sừng và tạp hí. Lý Tư không được cầu kiến, nhân đó dâng thư nói nhược điểm của Triệu Cao:

“Thần nghe nói, bề tôi sánh ngang vua, nước chưa từng không nguy; thê thiếp sánh ngang chồng, nhà chưa từng không hại. Nay có đại thần ở bên bệ hạ nắm quyền tự quyết lợi hại, không khác gì bệ hạ, như thế thực bất tiện. Xưa kia Tư Thành Tử Hãn phò tá nước Tống, đích thân thi hành hình phạt, dùng uy quyền để áp chế, đầy năm bèn cướp ngôi vua. Điền Thường làm bề tôi của Giản công, tước đứng đầu trong nước, nhà riêng giàu như vương thất, thi ân ban đức, dưới được lòng trăm họ, trên được lòng quần thần, ngầm chiếm lấy Tề, giết Tể Dư ở sân, giết Giản công trong triều, bèn chiếm lấy Tề. Đó là những việc thiên hạ đều rõ. Nay Cao có tâm ý gian tà, có hành vi phản loạn, như Tử Hãn làm khi phò tá vua Tống; nhà riêng giàu có, tựa họ Điền ở Tề vậy. Thi hành cả lối phản nghịch của Điền Thường và Tử Hãn rồi cướp uy tín của bệ hạ, chí của ông ta như Hàn Khởi khi làm Tướng quốc cho vua Hàn là An vậy. Bệ hạ không tính trước, thần e ông ta sẽ sinh biến.”

Nhị thế nói: “Tại sao? Xét lẽ, Cao vốn là hoạn quan, nhưng không vì yên ổn mà chí buông tuồng, không vì nguy biến mà dễ đổi dạ, đức hạnh liêm khiết, trau dồi điều thiện, tự đạt đến chức này, nhờ lòng trung được thăng tiến, nhờ điều tín giữ được địa vị, trẫm thực cho ông ta hiền năng mà ông lại ngờ, tại sao vậy? Và khi trẫm nhỏ tuổi mất cha, không có hiểu biết, không quen cách trị dân, còn ông lại già, sợ rằng mất với thiên hạ rồi. Trẫm không cậy Triệu quân, biết tín nhiệm ai đây? Hơn nữa Triệu quân là người liêm khiết gắng sức, dưới biết dân tình, trên vừa ý trẫm, ông đừng nghi ngờ.” Lý Tư đáp: “Không phải vậy. Cao vốn là kẻ hèn hạ, không hiểu đạo lý, tham dục không chán, cầu lợi không thôi, thế lực chỉ sau bệ hạ, ham muốn vô cùng, thần vì thế cho là nguy.” Nhị thế trước đã tin Triệu Cao, sợ Lý Tư giết y, bèn nói riêng với Triệu Cao. Cao nói: “Người mà Thừa tướng lo lắng chỉ có mình Cao, Cao chết đi, Thừa tướng liền muốn làm việc mà Điền Thường muốn.” Nhị thế nói: “Hãy đem Lý Tư giao cho Lang trung lệnh xử trí!”

Triệu Cao tra xét Lý Tư. Lý Tư bị bắt trói, giam vào trong ngục, ngẩng mặt lên trời than rằng: “Ôi, đau đớn thay! Sao bàn mưu tính kế với vua vô đạo được! Xưa kia, Kiệt giết Quan Long Phùng, Trụ giết vương tử Tỷ Can, Ngô vương Phù Sai giết Ngũ Tử Tư. Ba bề tôi đó, há không trung ư, nhưng đều không tránh được cái chết, thân chết mà người mình trung lại không đáng để trung. Nay trí ta không bằng ba vị kia, còn sự vô đạo của Nhị đế hơn cả Kiệt, Trụ, Phù Sai, ta vì trung mà chết là phải lắm. Vả Nhị thế cai trị há không loạn được ư? Trước đây, giết anh em rồi tự lập làm vua, giết tôi trung khiến kẻ hèn thành sang, dựng cung A Phòng, vơ vét thuế khóa thiên hạ. Không phải ta không can ngăn, mà vua không nghe lời ta. Phàm thánh vương xưa, ăn uống có tiết chế, xe cộ đồ dùng có hạn mức, cung thất có chừng mực, ban bố mệnh lệnh thi hành sự việc, thêm tổn phí mà không lợi thêm cho dân thì cấm, cho nên có thể trị yên lâu dài. Nay bạo ngược với anh em, không bận tâm đến nguy cơ; giết hại trung thần, không cần xét đến tai họa; dựng cung thất to lớn, thu thuế khóa nặng nề, không tiếc tổn phí. Đã làm ba việc đó, thiên hạ không nghe theo. Nay kẻ làm phản đã chiếm nửa thiên hạ, mà lòng vẫn chưa tỉnh, còn lấy Triệu Cao làm người phò tá, ta ắt thấy giặc cướp đến Hàm Dương, hươu nai nhởn nhơ trong triều vậy.”

Thế là Nhị thế bèn sai Cao xét án Thừa tưởng trong ngục, trị tội, định Lý Tư cùng con là Do tội danh mưu phản, bắt hết tông tộc và môn khách. Triệu Cao trừng trị Tư, đánh hơn nghìn gậy, Tư không chịu nổi đau, đành vờ nhận tội. Tư sở dĩ không chết, vì tự phụ giỏi biện bác, có công, sự thực không có lòng làm phản, may được dâng thư tự thanh minh, họa chăng Nhị thế tỉnh ngộ mà tha cho. Lý Tư từ trong ngục viết thư dâng lên rằng:

“Thần làm Thừa tướng, trị dân hơn ba chục năm. Thần đến Tần khi đất còn chật hẹp. Thời tiên vương, đất Tần không quá nghìn dặm, quân binh có mấy chục vạn. Thần dốc tài mọn, kính cẩn thi hành pháp lệnh, ngầm sai mưu thần, cấp vàng ngọc cho họ, sai du thuyết chư hầu, ngầm sửa soạn giáp binh, sửa sang chính giáo, cho dũng sĩ làm quan, đề cao bậc công thần, thưởng tước cao lộc hậu, cho nên cuối cùng uy hiếp được Hàn, làm suy yếu Ngụy, phá tan Yên, Triệu, san phẳng Tề, Sở, chiếm trọn sáu nước, bắt sống vua họ, lập Tần làm thiên tử. Đó là tội thứ nhất.

Đất không phải không rộng, thế mà bắc đuổi người Hồ người Lạc, nam định yên Bách Việt để tỏ sự hùng mạnh của Tần. Đó là tội thứ hai.

Đề cao đại thần, khiến họ được tước cao lộc hậu, củng cố sự thân cận của họ. Đó là tội thứ ba.

Dựng lập đền xã tắc, tu sửa lại tông miếu, tỏ rõ sự hiền năng của nhà vua. Đó là tội thứ tư.

Thay đổi chữ viết, thống nhất đấu hộc, các đồ đo lường, văn vẻ pháp độ, ban bố thiên hạ, gây dựng danh tiếng của Tần. Đó là tội thứ năm.

Làm đường xe ngựa, tổ chức du ngoạn, nhằm thỏa ý của chúa. Đó là tội thứ sáu.

Khoan hình phạt, nhẹ thuế khóa, toại ý nhà vua, được lòng dân chúng, muôn dân đội ơn chúa, chết cũng không quên. Đó là tội thứ bảy.

Làm tôi như Tư, tội vốn đáng chết từ lâu. May hoàng thượng cho dốc sức lực, được sống đến nay, mong bệ hạ xét cho!”

Thư dâng lên, Triệu Cao sai viên lại vứt đi, không trình tấu, nói: “Kẻ tù tội đâu được phép dâng thư?”

Triệu Cao sai hơn mười môn khách của mình giả làm Ngự sử, yết giả, thị trung, thay nhau đến thẩm vấn Tư. Tư đem tình thực trả lời, Cao lại sai người đến đánh. Sau, Nhị thế sai người đến thẩm vấn Tư, Tư nghĩ lần này như các lần trước, không dám thay đổi lời khai, nhận mình có tội. Án thành tấu lên, Nhị thế mừng nói: “Không có Triệu quân, suýt nữa đã bị Thừa tướng bán đứng.” Đến khi Nhị thế sai sứ đến xét án của Quận thú Tam Xuyên thì Hạng Lương đã đánh giết Lý Do. Sứ giả về, đúng lúc Thừa tướng bị giao cho ngục lại xử trí, Triệu Cao đều nói bừa là cha con Lý Tư làm phản.

Nhị thế năm thứ hai, tháng Bảy, định tội Lý Tư bị xử ngũ hình, đem chém ngang lưng ở chợ Hàm Dương. Lúc Tư được giải khỏi ngục, cùng con giữa đều bị trói, Tư quay lại nói với con: “Ta muốn cùng con dắt con chó vàng ra cửa đông Thượng Cái đuổi bắt con thỏ khôn lanh, há được nữa không?" Cha con cùng khóc, bị giết ba họ.

Lý Tư chết rồi, Nhị thế phong Triệu Cao làm Trung thừa tướng, việc bất kể lớn nhỏ đều do Cao quyết định. Cao tự biết mình quyền lớn, bèn dâng con hươu, nói đó là ngựa. Nhị thế hỏi tả hữu: “Đây là hươu à?” Tả hữu đều nói: “Ngựa ạ.” Nhị thế sợ, cho mình loạn trí, bèn triệu quan Thái bốc, ra lệnh bói quẻ. Thái bốc nói: “Bệ hạ xuân thu tế giao, phụng thờ tông miếu quỷ thần, trai giới không thành, cho nên dẫn đến việc đó. Có thể dựa vào thịnh đức mà tỏ rõ sự trai giới.” Thế rồi bèn vào trai giới trong vườn Thượng Lâm. Hằng ngày đi săn, có người vào vườn Thượng Lâm, Nhị thế tự tay bắn chết. Triệu Cao giao con rể là Hàm Dương lệnh Diêm Lạc đàn hặc rằng không biết ai bắn chết người rồi dời vào vườn Thượng Lâm. Cao bèn can Nhị thế rằng: “Thiên tử vô cớ giết người vô tội, là điều cấm kỵ của thượng đế, quỷ thần không hưởng lễ, trời sẽ giáng tai ương, cần lánh xa cung để tránh họa.” Nhị thế bèn ra ở cung Vọng Di.

Được ba ngày, Triệu Cao giả chiếu triệu vệ sĩ đến, lệnh vệ sĩ mặc trang phục màu trắng, cầm binh khí trỏ vào trong, rồi báo với Nhị thế: “Quân trộm cướp ở Sơn Đông kéo đến rồi?” Nhị thế lên xem, trông thấy vậy, sợ hãi, Cao liền nhân đó bức Nhị thế tự sát. Cao đeo ngọc tỷ của vua, tả hữu trăm quan không ai theo; Cao lên điện, điện mấy lần muốn sập. Cao tự biết trời không giúp, quần thần không theo, bèn triệu cháu của Thủy hoàng đến, trao ngọc tỷ cho.

Tử Anh lên ngôi, sợ Cao, bèn thác bệnh không nghe chính sự, cùng hoạn quan Hàn Đàm và người con mưu việc giết Cao. Cao lên điện yết kiến, thăm hỏi bệnh tình, Tử Anh cố ý triệu Cao vào, lệnh cho Hàn Đàm đâm chết, giết cả ba họ.

Tử Anh lên ngôi được ba tháng, quân của Bái công từ Vũ Quan đánh vào, đến Hàm Dương, quần thần trăm quan đều phản, không đến. Tử Anh cùng vợ tự quấn dây trên cổ, đến hàng bên đình Chỉ Đạo. Bái công nhân đó giao cho thuộc lại. Hạng vương đến rồi chém đầu Tử Anh. Nhà Tần mất thiên hạ.

Thái sử công bàn rằng: Lý Tư với thân phận thôn quê đi khắp chư hầu, vào thờ Tần, nhân kẽ hở, được phò tá Thủy hoàng, cuối cùng giúp thành đế nghiệp, Tư làm quan tam công, có thể nói rất được trọng dụng vậy. Tư biết yếu chỉ của Lục kinh, không chuộng việc làm sáng chính trị để bổ khuyết cho chúa thượng, nắm tước cao lộc hậu, a dua cẩu hợp, khiến uy thêm nghiêm, hình thêm thảm khốc, nghe lời gian tà của Cao, phế đích lập thứ. Chư hầu đã phản, Tư muốn can ngăn chẳng cũng muộn sao! Người ta đều cho Tư hết mực trung mà bị giết bằng ngũ hành, xét sâu xa tận gốc, chẳng giống nghị bàn của thế tục. Nếu không phải thế, công lao của Tư có thể liệt cùng hàng Chu công, Thiệu công rồi.

[1] Ý nói đời người ngắn ngủi.

[2] Hàn tử: tức Hàn Phi.

[3] Thân tử: tức Thân Bất Hại.

Phạm Văn Ánh (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.