Sử Ký II. Liệt Truyện (Thượng)

Lượt đọc: 411 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 96 TRƯƠNG THỪA TƯỚNG LIỆT TRUYỆN

❊ ❊ ❊

Trương Thương, Chu Xương, Nhâm Ngao

Thừa tướng Trương Thương, người Dương Vũ, thích sách âm luật, lịch pháp. Thời Tần, làm Ngự sử, chủ quản các quan Trụ hạ[1] dâng tấu sách, có tội, trốn về. Tới khi Bái Công đánh chiếm các đất, qua Dương Vũ, Thương lấy tư cách môn khách theo đánh Nam Dương. Thương phạm pháp đáng chém, lúc cởi áo quỳ gối, thân mình to lớn, béo trắng như quả bầu, Vương Lăng trông thấy ngạc nhiên về tướng mạo đẹp, bèn nói với Bái công, xá miễn không chém. Rồi theo sang phía tây vào Vũ Quan, đến Hàm Dương. Bái Công lên làm Hán vương, vào Hán Trung, về bình định Tam Tần. Trần Dư đánh đuổi Thường Sơn vương Trương Nhĩ, Nhĩ theo nhà Hán, Hán bèn phong Trương Thương làm Quận thú Thường Sơn. Theo Hoài Âm hầu đánh Triệu, Thương bắt được Trần Dư. Đất Triệu đã bình định, Hán vương cho Thương làm Tướng quốc nước Đại, phòng giặc cướp ở biên giới. Rồi lại đổi phong làm Tướng quốc nước Triệu, phò giúp Triệu vương Nhĩ. Nhĩ chết, phò giúp Triệu vương Ngao. Lại đổi sang giúp Đại vương. Yên vương Tang Đồ làm phản, Cao tổ sang đánh, Thương lấy thân phận Tướng quốc nước Đại theo đánh Tang Đồ, có công, Hán Cao tổ năm thứ sáu, phong làm Bắc Bình hầu, thực ấp một nghìn hai trăm hộ.

Thăng làm Kế tướng[2], được một tháng, lại đổi từ liệt hầu sang làm Chủ kế[3] trong bốn năm. Bấy giờ Tiêu Hà làm Tướng quốc, còn Trương Thương từ thời Tần đã làm Trụ hạ sử, nên hiểu rõ sách vở bản đồ sổ sách tính toán trong thiên hạ. Thương lại giỏi tính toán, âm luật, lịch pháp, nên sai Thương lấy thân phận liệt hầu ở phủ Tướng quốc, phụ trách tính toán sổ sách các quận tâu lên. Kình Bố làm phản bị giết, Hán lập hoàng tử Trường làm Hoài Nam vương, còn Trương Thương phò tá. Được mười bốn năm, thăng lên Ngự sử đại phu.

Chu Xương, người huyện Bái, anh họ là Chu Hà, thời Tần đều làm lính lại Tứ Thủy. Đến khi Cao tổ dấy binh ở huyện Bái, đánh phá Quận thú, Quận giám Tứ Thủy, Chu Xương và Chu Hà đang là lính lại theo Bái công, Bái công cho Chu Xương làm chức chí[4], Chu Hà làm môn khách. Theo vào Vũ Quan, phá được Tần. Bái công lập làm Hán vương, phong Chu Hà làm Ngự sử đại phu, Chu Xương làm Trung úy.

Hán vương năm thứ tư, Sở vây gấp Hán vương ở Huỳnh Dương, Hán vương trốn ra ngoài, rồi sai Chu Hà giữ thành Huỳnh Dương. Sở phá thành Huỳnh Dương, muốn sai Chu Hà làm tướng, Hà mắng rằng: “Ngươi mau hàng Hán vương! Nếu không, nay mai sẽ bị bắt sống thôi!” Hạng Vũ giận, nấu chết Chu Hà. Rồi phong Chu Xương làm Ngự sử đại phu. Xương từng theo đánh phá Hạng Tịch. Hán Cao tổ năm thứ sáu, cùng bọn Tiêu Hà, Tào Tham được phong, phong Chu Xương tước Phần Âm hầu. Con Chu Hà là Chu Thành do cha chết, được phong làm Cao Cảnh hầu.

Xương là người có sức mạnh, dám nói thẳng, từ bọn Tiêu Hà, Tào Tham đều phải nhún nhường. Xương từng nhân lúc nghỉ vào tâu việc, Cao đế đang ôm nàng Thích Cơ, Xương chạy ra, Cao đế đuổi bắt được, cưỡi lên cổ Chu Xương, hỏi: “Ta là chúa thế nào?" Xương ngẩng đáp: “Bệ hạ là chúa của vua Kiệt vua Trụ vậy.” Thế là hoàng thượng bật cười, lại rất kiêng sợ Chu Xương. Khi Cao đế muốn phế Thái tử, lập con nàng Thích Cơ là Như Ý làm Thái tử, đại thần cố khuyên can, chẳng khuyên nổi; nhờ kế của Lưu hầu Hoàng thượng mới thôi. Còn Chu Xương ra sức can gián trong triều, Hoàng thượng hỏi lý do, Xương là người nói lắp, lại đang tức giận, nói: “Miệng thần không thể nói ra, nhưng thần thì... thì... biết là không thể được. Bệ hạ tuy muốn phế Thái tử, thần thì... thì... không vâng chiếu.” Hoàng thượng thấy vậy bật cười, không phế nữa. Lã hậu bên mái đông lắng tai nghe được, gặp Chu Xương, quỳ gối cảm tạ rằng: “Không có ngài, Thái tử có lẽ bị phế rồi.”

Sau này, con trai Thích Cơ là Như Ý làm Triệu vương, mới mười tuổi, Cao tổ lo sau khi mình muôn tuổi, sẽ không thể bảo toàn. Triệu Nghiêu còn trẻ, làm chức Phù tỷ ngự sử. Phương Dữ Công người Triệu nói với Ngự sử đại phu Chu Xương rằng: “Thuộc lại Triệu Nghiêu của ngài, tuy tuổi còn nhỏ, nhưng có kỳ tài, ngài nhất định phải nhìn y bằng cách nhìn khác, đó là người sẽ thay vị trí của ngài.” Chu Xương cười nói: “Nghiêu tuổi còn nhỏ, là viên lại đao bút thôi, làm gì đến mức ấy!” Được một thời gian, Triệu Nghiêu theo hầu Cao tổ, Cao tổ trong lòng không vui, ca khúc nhạc buồn, quần thần không biết nguyên do. Triệu Nghiêu tiến lên hỏi: “Điều khiến bệ hạ không vui, là vì Triệu vương tuổi nhỏ mà Thích phu nhân và Lã hậu có mâu thuẫn chăng? Lo lắng sau khi muôn tuổi, Triệu vương không thể tự bảo toàn được chăng?” Cao tổ đáp: “Phải. Ta lo việc đó, không biết phải làm thế nào.” Nghiêu nói: “Bệ hạ nên phái một Thừa tướng tôn quý cương nghị giúp Triệu vương, đến Lã hậu, Thái tử, quần thần đều nể sợ người đó, thế mới được.” Cao tổ nói: “Phải. Ta suy tính chuyện ấy, cũng muốn làm vậy, nhưng trong các bề tôi, ai đảm đương được?” Nghiêu đáp: “Ngự sử đại phu Chu Xương, người này kiên nhẫn thẳng thắn, vả lại từ Lã hậu, Thái tử đến các đại thần đều nể sợ ông ta. Chỉ Chu Xương đảm đương được thôi.” Cao tổ nói: “Phải.” Thế rồi bèn triệu Chu Xương, bảo rằng: “Ta muốn phiền đến ông, ông gắng vì ta phò giúp Triệu vương.” Chu Xương khóc nói: “Thần lúc dấy binh đi theo bệ hạ, bệ hạ sao nỡ giữa đường bỏ thần ở chư hầu ư?” Cao tổ nói: “Ta rất biết thế là giáng cấp, nhưng ta lo cho Triệu vương, nghĩ rằng không ông thì không ai làm được. Ông miễn cưỡng đảm đương cho!” Thế rồi chuyển Ngự sử đại phu Chu Xương làm Thừa tướng nước Triệu.

[Chu Xương] đi được một thời gian dài, Cao tổ cầm ấn Ngự sử đại phu đùa rằng: “Ai có thể làm Ngự sử đại phu đây?" Nhìn chằm chằm Triệu Nghiêu nói: “Không ai thay được Nghiêu.” Bèn phong Triệu Nghiêu làm Ngự sử đại phu. Nghiêu trước cũng có quân công thực ấp, đến khi lấy thân phận Ngự sử đại phu theo đánh Trần Hy có công, được phong Giang Ấp hầu.

Cao tổ băng, Lã thái hậu sai sự triệu Triệu vương, Thừa tướng Triệu là Chu Xương bảo Triệu vương thác bệnh không đi. Sứ giả qua lại ba lần, Chu Xương quyết không cho Triệu vương đi. Cao hậu lo lắng việc đó, bèn sai sự triệu Chu Xương. Chu Xương về, yết kiến Cao hậu, Cao hậu giận mắng Chu Xương: “Ngươi không biết ta oán họ Thích ư? Sao không cho Triệu vương về?” Xương đã về triều, Cao hậu sai sứ triệu Triệu vương, Triệu vương quả nhiên về. Đến Trường An hơn một tháng, uống thuốc độc chết. Chu Xương nhân đó cáo ốm không vào triều, ba năm sau thì chết.

Năm năm sau, Cao hậu nghe nói Ngự sử đại phu Giang Ấp hầu Triệu Nghiêu thời Cao tổ lập kế cho Triệu vương Như Ý, bèn trị tội Nghiêu, cho Quảng A hầu Nhâm Ngao làm Ngự sử đại phu.

Nhâm Ngao, vốn là ngục lại huyện Bái. Cao tổ từng trốn quan, viên lại bắt Lã hậu, đối đãi không chu đáo. Nhâm Ngao vốn thân với Cao tổ, nổi giận, đánh thương viên lại nọ. Đến khi Cao tổ mới nổi lên, Ngao lấy thân phận môn khách theo làm Ngự sử, giữ ấp Phong trong hai năm. Cao tổ được lập làm Hán vương, sang đông đánh Hạng Tịch, Ngao được thăng làm Quận thú Thượng Đảng. Khi Trần Hy làm phản, Ngao giữ chắc Thượng Đảng, được phong Quảng A hầu, thực ấp một nghìn tám trăm hộ. Thời Cao hậu làm Ngự sử đại phu. Được ba năm bị bãi, lấy Bình Dương hầu, Tào Quật làm Ngự sử đại phu. Cao hậu băng, Ngao cùng đại thần giết bọn Lã Lộc. Bãi chức, lấy tướng của Hoài Nam vương là Trương Thương làm Ngự sử đại phu.

Thương cùng bọn Giáng hầu suy tôn Dại vương làm Hiếu Văn hoàng đế. Hiếu Văn hoàng đế năm thứ tư, Thừa tướng Quán Anh chết, Trương Thương làm Thừa tướng.

Từ khi Hán hưng khởi đến Hiếu Văn đế là hơn hai mươi năm, gặp lúc thiên hạ mới yên định, các tướng văn võ công khanh đều là quan lại trong quân. Lúc Trương Thương làm Kế tướng, chuẩn hóa âm luật lịch pháp. Do Cao tổ tháng Mười mới đến Bá Thượng, nên dựa theo lịch cũ của Tần lấy tháng Mười làm tháng khởi đầu một năm, không thay đổi. Suy sự vận hành của năm đức, cho nhà Hán ứng với đức của hành thủy, chuộng màu đen như trước[5]. Dùng bộ hơi để điều chỉnh âm nhạc, phổ nhập các thanh âm, đồng thời chế định luật lệnh. Còn hạng thợ thuyền, lập quy chuẩn các nghề trong thiên hạ. Khi làm Thừa tướng, hoàn thành các việc, nên âm luật lịch pháp nhà Hán, vốn do Trương Thương xác lập. Thương vốn ham đọc sách, không sách nào không xem, không gì không thông hiểu, nhất là âm luật và lịch pháp.

Trương Thương cảm ơn đức Vương Lăng. Vương Lăng là An Quốc hầu. Đến khi Thương hiển quý, thường thờ Vương Lăng như cha. Sau khi Lăng chết, Thương làm Thừa tướng, được nghỉ, thường vào gặp Lăng phu nhân, dâng đồ ăn, sau mới dám về nhà.

Thương làm Thừa tướng hơn chục năm, Công Tôn Thần người Lễ dâng thư nói nhà Hán đang thời kỳ đức hành thổ, điềm báo rồng vàng ửng hiện. Hạ chiếu Trương Thương xem xét, Trương Thương cho là không đúng, bãi bỏ. Về sau, rồng vàng hiện ở Thành Kỷ, Văn đế liền triệu Công Tôn Thần cho làm Bác sĩ, soạn chế độ lịch pháp ứng với đức hành thổ, lại đổi niên hiệu. Trương Thừa tướng từ ấy tự lui, thác bệnh cáo lão. Thương giao một người làm Trung hầu, cực gian ngoa hám lợi, hoàng thượng trách Thương, Thương cáo bệnh xin miễn chức. Thương làm Thừa tướng được mười lăm năm thì bãi quan. Hiếu Cảnh đế niên hiệu Tiền Nguyên năm thứ năm, Thương chết, thụy là Văn hầu. Con là Khang hầu lên thay, được tám năm thì chết. Con Khang hầu là Loại, thay giữ tước hầu, được tám năm, được phải đi viếng tang nước chư hầu đến muộn, phạm tội bất kính, nước phong bị phế.

Khi trước, cha Trương Thương mình cao chưa đầy năm thước, khi sinh Thương, Thương cao hơn tám thước, làm tước hầu, chức Thừa tướng. Con Thương cũng cao lớn. Đến cháu là Loại, cao hơn sáu thước, phạm pháp nên mất tước hầu. Sau khi Thương bị bãi chức Thừa tướng, tuổi cao, không còn chiếc răng nào, phải bú sữa, tìm phụ nữ làm nhũ mẫu. Thê thiếp có đến hàng trăm, thường ai mang thai sẽ không ân ái nữa. Thương thọ hơn trăm tuổi thì chết.

Thân Đồ Gia

Thừa tướng Thân Đồ Gia, người đất Lương, lấy thân phận tài quan[6], dùng chân giương cung theo Cao đế đánh Hạng Tịch, được thăng làm đội trưởng. Theo đánh quân Kình Bố, làm Đô úy. Thời Hiếu Huệ đế, làm Quận thú Hoài Dương. Hiếu Văn đế năm đầu, cất nhắc quan lại tướng sĩ từ hai nghìn thạch từng theo Cao hoàng đế, thảy phong làm quan nội hầu, hai mươi tư người được hưởng thực ấp, Thân Đồ Gia được thực ấp năm trăm hộ. Trương Thương đã làm Thừa tướng, Gia được thăng làm Ngự sử đại phu. Trương Thương bị bãi chức Thừa tướng, Hiếu Văn đế muốn dùng em hoàng hậu là Đậu Quảng Quốc làm Thừa tướng, nói: “Sợ thiên hạ cho ta thiên vị Quảng Quốc.” Quảng Quốc hiền năng đức hạnh, nên muốn cho làm Thừa tướng, ngại để lâu ngày bất tiện, mà đại thần thời Cao đế phần nhiều đã chết, số còn lại chẳng được ai, bèn phong Ngự sử đại phu Gia làm Thừa tướng, nhân ấp phong cũ phong tước Cố An hầu.

Gia là người thanh liêm chính trực, không tiếp người đến gặp tại nhà. Bấy giờ Thái trung đại phu Đặng Thông đang được sủng ái, nhiều lần được thưởng hàng vạn. Văn đế thường yến ẩm tại nhà Thông, được sủng ái đến thế đó. Bấy giờ Thừa tướng vào triều, còn Thông đứng bên Hoàng thượng, về lễ có phần hỗn xược. Thừa tướng tâu việc xong, nhân đó nói: “Bệ hạ sủng ái bề tôi, cho bề tôi được giàu sang, còn lễ tiết của triều đình, không thể không giữ nghiêm cẩn!” Hoàng thượng bảo: “Ông đừng nói nữa, ta sẽ nói riêng với hắn.” Bãi chầu ngồi trong phủ, Gia làm hịch triệu Đặng Thông đến phủ Thừa tướng, không đến, sẽ chém Thông. Thông sợ, vào nói với Văn đế. Văn đế nói: “Ngươi cứ đến, ta sẽ sai người triệu ngươi.” Đặng Thông đến phủ Thừa tướng, bị lột mũ, tháo giày, dập đầu tạ tội. Gia vẫn ngồi như thường, cố ý không hành lễ, trách rằng: “Triều đình là triều đình của Cao hoàng đế. Thông là tiểu thần, dám hí lộng trên điện, đại bất kính, đáng chém. Thuộc lại đâu, đem chém ngay!” Thông dập đầu, đến chảy cả máu, Gia không tha. Văn đế ước chừng Thừa tướng đã làm Thông khốn đốn, sai sứ giả mang phù tiết triệu Thông, rồi tạ lỗi với Thừa tướng: “Đây là bề tôi mua vui cho ta, ông hãy thả hắn.” Đặng Thông vào cung, khóc nói với Văn để: “Thừa tướng suýt giết thần.”

Gia làm Thừa tướng năm năm, Hiếu Văn đế băng, Hiếu Cảnh đế lên ngôi. Năm thứ hai, Triều Thố làm Nội sử, được sủng ái tin dùng, các pháp lệnh phần lớn đều xin đổi, kiến nghị dùng cách biếm trích luận tội, tước bỏ thế lực chư hầu. Còn Thừa tướng Gia thấy lời mình không được dùng, ghét Thố. Thế làm Nội sử, ra cổng đông, không tiện, bèn trổ một cổng phía nam. Cổng ra phía nam, là tường ngoài miếu Thái thượng hoàng. Gia biết chuyện, muốn nhân đó dùng pháp trị tội Thổ dám trổ tường tông miếu làm cổng, tâu xin chém Thố. Môn khách nói với Thố, Thố sợ, đang đêm vào cung, đích thân tâu với Cảnh đế. Hôm sau vào triều, Thừa tướng tâu xin chém Nội sử Thố. Cảnh để nói: “Chỗ Thố trổ cổng không phải tường chính miếu, tường bao bên ngoài thôi, vì các quan khác ở trong, và cũng do ta sai làm, không phải tội của Thố.” Bãi triều, Gia bảo quan Trưởng sử rằng: “Tôi hối hận không chém Thố trước, lại tâu xin trước, bị Thố bán đứng.” Đến nhà, vì việc ấy thổ huyết mà chết, thụy là Tiết hầu. Con là Cộng hầu Miệt lên thay, được ba năm thì chết. Con Cộng hầu là Khứ Bệnh lên thay, được ba mươi mốt năm thì chết. Con Khứ Bệnh là Du lên thay, được sáu năm, do vướng tội nhận quà của quan cũ là Thái thú Cửu Giang, nước phong bị phế.

Sau khi Thân Đồ Gia chết, dưới thời Cảnh đế, Khai Phong hầu Đào Thanh, Đào hầu Lưu Xá nối làm Thừa tướng. Đến thời đương kim hoàng thượng, Bá Chí hầu Hứa Xương, Bình Cức hầu Tiết Trạch, Vũ Cường hầu Trang Thanh Địch, Cao Lăng hầu Triệu Chu nối nhau làm Thừa tướng; đều lấy thân phận liệt hầu nối nhau đảm nhiệm, cẩn trọng liêm khiết, làm Thừa tướng cho đủ số thôi, không có chính tích công danh gì đặc biệt để được xưng tụng ở đời.

Thái sử công bàn rằng: Trương Thương giỏi văn học, âm luật, lịch pháp, là Thừa tướng nổi tiếng nhà Hán, lại bài xích kiến nghị về chính sóc, sắc phục của bọn Giả Nghị, Công Tôn Thần, không chịu theo, công nhiên dùng lịch Chuyên Húc của Tần, tại sao vậy? Là vì Chu Xương là người thẳng thắn quật cường vậy. Nhâm Ngao nhờ ân đức cũ mà được dùng. Thân Đồ Gia khá gọi là cương nghị thủ tiết, nhưng không có học thức đạo thuật, đại thể khác bọn Tiêu Hà, Tào Tham, Trần Bình.

Thời Vũ đế, Thừa tướng rất nhiều, không chép, cũng chẳng lược ghi việc thường ngày của họ, chỉ chép từ thời Chinh Hòa trở đi.

Xa thừa tướng, người ở Trường Lăng. Chết đi, có Vi thừa tướng lên thay. Vi thừa tướng tên là Hiền, người nước Lỗ. Ông đọc sách rồi làm chức lại, làm đến Đại hồng lô. Có thầy tướng xem tướng, nói ông đáng làm đến Thừa tướng. Ông có bốn con trai, sai thầy tướng xem tướng cho, đến con thứ hai, tên là Huyền Thành, thầy tưởng nói: “Con này có quý tướng, sẽ được phong tước.” Vi thừa tướng nói: “Ta ví làm Thừa tướng, đã có con trưởng, nó dựa đâu mà được phong tước?” Cuối cùng làm Thừa tướng, ốm chết, còn con trưởng có tội chịu hình, không được thừa kế, nên lập Huyền Thành. Bấy giờ Huyền Thành giả điên, không nhận tước vị, nhưng vẫn lập, có tiếng là nhường tước phong. Sau cưỡi ngựa đến tông miếu, phạm tội bất kính, Hoàng thượng xuống chiếu hạ tước một bậc, thành quan nội hầu, mất tước liệt hầu, được thực ấp tại nước phong cũ. Vi thừa tướng chết, có Ngụy thừa tướng lên thay.

Ngụy thừa tướng tên Tướng, người Tế Âm. Từ chức văn lại làm đến Thừa tướng. Người này thích võ, lệnh thảy thuộc lại phải đeo kiếm, đeo kiếm mới được đến mặt trước tấu việc. Có người không mang kiếm, cần vào tấu việc, đến nơi phải mượn kiếm đeo mới dám vào tấu việc. Lúc ấy Kinh Triệu doãn Triệu Quân, Thừa tướng tâu lên Triệu Quân có tội phải bãi chức, bèn sai người bắt Ngụy thừa tướng, muốn xin cho thoát tội nhưng Thừa tướng không nghe. Lại sai người hù dọa Ngụy thừa tướng, đem việc phu nhân giết hại tỳ nữ rồi tự tâu lên xin tra xét Thừa tướng, sai quân lính đến nhà Thừa tướng, bắt nô tỳ đánh đòn truy hỏi, kỳ thực nữ tỳ kia không phải bị dao đâm chết. Quan dưới quyền Thừa tướng là Bà Quân tấu việc Kinh Triệu doãn Triệu Quân uy hiếp Thừa tướng, vu cho phu nhân giết hại nô tỳ, phái quân lính vây nhà Thừa tướng bắt người, trái đạo lý. Lại tra ra việc Kinh Triệu doãn lén nuôi kỵ sĩ, đáng tội chém ngang lưng. Lại có người sai bọn duyên lại Trần Bình đàn hặc quan Trung thượng thư, nghi chủ mưu việc uy hiếp Thừa tướng, phạm tội đại bất kính, từ chức Trưởng sử trở xuống đều xử tử, hoặc đưa xuống phòng tằm[7]. Ngụy thừa tướng chết khi đang làm Thừa tướng. Con nối tước. Sau, do cưỡi ngựa đến tông miếu, bất kính, hoàng thượng hạ chiểu giáng xuống một tước, làm quan nội hầu, mất tước liệt hầu, được thực ấp ở nước phong cũ. Ngụy thừa tướng chết, lấy Ngự sử đại phu Bỉnh Cát lên thay.

Thừa tướng Bỉnh Cát, người nước Lỗ. Nhờ đọc sách, thích pháp lệnh làm đến Ngự sử đại phu. Thời Hiếu Tuyên đế, do có giao tình cũ, được phong liệt hầu, nhân đó làm đến Thừa tướng. Ông hiểu rõ mọi việc, có trí tuệ lớn, đời sau xưng tụng. Chết khi đang làm Thừa tướng. Con là Hiển nối tước. Sau do cưỡi ngựa đến tông miếu, bất kính, bị chiếu giáng truất một bậc, mất tước hầu, được thực ấp ở nước phong cũ. Hiển làm quan đến Thái bộc, làm quan để tổn hao của cải, cùng con trai có hành vi tham gian, bị bãi quan làm dân thường.

Bỉnh thừa tướng chết, Hoàng thừa tướng lên thay. Trong thành Trường An có người giỏi xem tướng tên là Điền Văn, các vị Vi thừa tướng, Ngụy thừa tướng, Bỉnh thừa tướng thuở còn hàn vị đều từng làm khách nhà Điền Văn, Điền Văn nói: “Ba vị này, sau đều làm Thừa tướng.” Sau quả nhiên ba người thay nhau làm Thừa tướng, sao nhìn người chuẩn xác đến thế?

Thừa tướng Hoàng Bá, người Hoài Dương, nhờ đọc sách được làm chức lại, sau làm tới Thái thú Dĩnh Xuyên. Cai trị Dĩnh Xuyên, dùng lễ nghĩa pháp lệnh giáo hóa trong vùng. Kẻ phạm pháp, khuyên bảo cho được tự sát. Thi hành giáo hóa rộng khắp, danh tiếng lẫy lừng. Hiếu Tuyên đế ban chế xuống: “Thái thú Dĩnh Xuyên là Bá, nhờ tuyên bố chiếu lệnh trị dân, trên đường không nhặt của rơi, trai gái đi theo lối khác nhau, trong ngục không có trọng phạm. Ban tước quan nội hầu cùng trăm cân vàng.” Trưng dụng làm Kinh Triệu doãn, rồi đến Thừa tướng, lại đem lễ nghĩa cai trị. Chết khi đang làm Thừa tướng. Con trai tập tước, sau làm liệt hầu. Hoàng thừa tướng chết, lấy Ngự sử đại phu Vu Định Quốc lên thay. Vu Định Quốc đã có truyện về Đình úy trong truyện “Trương định úy”. Vu thừa tướng chết, Ngự sử đại phu Vi Huyền Thành lên thay.

Thừa tướng Vi Huyền Thành, chính là con trai Vi thừa tướng thuở trước. Lên thay cha, sau mất tước liệt hầu. Ông lúc trẻ thích đọc sách, tinh thông Kinh Thi, Luận ngữ. Làm chức lại rồi lên Vệ úy, dẫn tới thái tử Thái phó. Ngự sử đại phu Tiết Quân bị bãi quan, ông làm Ngự sử đại phu. Vu thừa tướng cáo lão xin nghỉ, ông lên Thừa tướng, nhân đó được phong ấp cũ làm Phù Dương hầu. Được mấy năm, ốm chết. Hiếu Nguyên đế đích thân đến viếng, ban thưởng rất hậu. Con trai nối tước phong. Ông cai trị nổi chìm theo thế tục, bị coi là khéo bợ đỡ. Còn thầy tướng bảo ông sẽ làm tước hầu thay cha, rồi sau mất tước; lại từ vị trí làm quan bên ngoài, dần thăng đến chức Thừa tướng. Cha con đều làm Thừa tướng, thế gian khen ngợi, há chẳng phải mệnh số ư! Thầy tướng đã đoán biết trước. Vi thừa tướng chết, Ngự sử đại phu Khuông Hành lên thay.

Thừa tướng Khuông Hành, người Đông Hải, thích đọc sách, theo quan Bác sĩ học Kinh Thi. Nhà nghèo, Hành làm mướn kiếm miếng ăn. Kém tài, nhiều lần ứng thi không đỗ, đến lần thứ chín, đỗ khoa thứ ba. Vì nhiều lần thi không đỗ nên hiểu rõ kinh điển. Được bổ làm viên thuộc lại về văn học quận Bình Nguyên. Được mấy năm, quận không tôn kính. Ngự sử trưng dụng Khuông Hành, bổ làm quan trăm thạch, tiến cử giữ quan lang[8], rồi chức Bác sĩ, phong lên Thái tử thiếu phó, thờ Hiếu Nguyên đế. Hiếu Nguyên đế thích Kinh Thi, thăng làm Quang lộc huân, làm thầy trong cung điện, truyền dạy cho tả hữu, hoàng đế cũng ngồi bên cạnh nghe giảng, rất tán thưởng, ngày càng tôn quý. Ngự sử đại phu Trịnh Hoằng có tội bị bãi chức, Khuông quân làm Ngự sử đại phu. Được hơn năm, Vi thừa tướng chết, Khuông quân lên chức Thừa tướng, được phong Lạc An hầu. Trong vòng mười năm, không ra khỏi cổng thành Trường An mà làm đến Thừa tướng, há không phải gặp thời cũng là mệnh số chăng?

Thái sử công bàn rằng: Nghĩ kỹ, kẻ sĩ làm quan xa mà được phong hầu, rất hiếm. Nhưng nhiều người làm đến Ngự sử đại phu rồi bỏ chức. Những người làm đại phu rồi đến Thừa tướng, trong lòng họ muốn làm Thừa tướng rồi chết. Có kẻ còn âm mưu hủy báng hãm hại Thừa tường, toan lên thay. Nhưng có người làm Ngự sử đại phu lâu mà không lên được Thừa tướng, có người giữ chức thời gian ngắn lại lên được, còn được phong hầu, thực do số mệnh vậy! Ngự sử đại phu Trinh quân giữ chức mấy chục năm mà không được làm Thừa tướng, Khuông quân làm chưa đầy năm, Vi thừa tướng chết, liền lên thay, há có thể dùng trí xảo mà được chăng? Nhiều người có tài của bậc hiền thánh, nhưng cũng nhiều người lâm cảnh khốn đốn vẫn không lên được chức vụ đó.

[1] Tức Trụ hạ sử, cũng chỉ chức Ngự sử.

[2] Trương Thương giỏi tính toán, lại làm Tướng quốc, nên được phong là Kế tướng.

[3] Chủ kế: chức quan phụ trách việc tính toán của cải, thuế khóa.

[4] Chí: chức quan nhỏ phụ trách cờ xí.

[5] Người xưa cho màu hành thủy là màu đen, hành mộc màu xanh, hành hỏa màu đỏ, hành thổ màu vàng, hành kim màu trắng.

[6] Tài quan: là hạng lính võ, hoặc quan chức ngạch võ cấp thấp.

[7] Chỉ việc bị thiến (cung hình. Người xưa sau khi bị thiến hoặc tự cung) được đưa xuống "phòng tằm" cho kín gió, mau khỏi.

[8] Tức hàng Thị Lang, hoặc Lang trung.

Phạm Văn Ánh (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.