Sử Ký II. Liệt Truyện (Thượng)

Lượt đọc: 414 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 76 BÌNH NGUYÊN QUÂN, NGU KHANH LIỆT TRUYỆN

❊ ❊ ❊

Bình Nguyên quân Triệu Thắng

Bình Nguyên quân Triệu Thắng là một trong các công tử của nước Triệu. Trong các công tử, Thắng hiền năng nhất, mến chuộng tân khách, tân khách đến với Bình Nguyên quân tới mấy nghìn người. Bình Nguyên quân làm Tể tướng từ đời Huệ Văn vương đến Hiếu Thành vương nước Triệu, ba lần thôi chức, ba lần phục chức, được phong ở Đông Vũ Thành.

Lầu nhà Bình Nguyên quân nhìn xuống nhà dân. Nhà nọ có người khoèo chân, thậm thọt đi múc nước. Mỹ nhân của Bình Nguyên quân ở trên lầu, trông thấy, cười lớn. Hôm sau, người đó đến cổng nhà Bình Nguyên quân, đề nghị rằng: “Tôi nghe ngài chuộng kẻ sĩ, kẻ sĩ không quản xa xôi ngàn dặm tìm đến, để tỏ ngài trọng kẻ sĩ, coi rẻ hầu thiếp vậy. Tôi chẳng may bị tật, hậu cung của ngài trông thấy lại cười nhạo, xin ngài cho cái đầu của kẻ đã cười tôi.” Bình Nguyên quân cười đáp: “Được.” Người đó về rồi, Bình Nguyên quân cười nói: “Trông thằng nhãi kìa, muốn vì tiếng cười mà giết mĩ nhân của ta, chẳng quá đáng ư?” Cuối cùng không giết. Được hơn năm, tân khách, môn hạ, cá nhân dần đi quá nửa. Bình Nguyên quân lấy làm lạ, hỏi: “Thắng này đối đãi các vị chưa từng dám thất lễ, vậy sao nhiều người bỏ đi?” Một môn hạ đến trước mặt, thưa: “Vì ngài không giết người đã cười nhạo tên bị tật kia, họ cho ngài yêu sắc, coi rẻ kẻ sĩ, nên đã bỏ đi.” Thế rồi Bình Nguyên quân chém đầu mĩ nhân đã cười nhạo người khoèo, đích thân đến nhà người đó tạ lỗi. Sau, môn hạ dần dần trở lại. Bấy giờ Tề có Mạnh Thường quân, Ngụy có Tín Lăng quân, Sở có Xuân Thân quân, bởi thế đua nhau dốc sức tiếp đãi kẻ sĩ.

Tần bao vây Hàm Đan, Triệu phái Bình Nguyên quân đi cầu cứu, hợp tung với Sở. Bình Nguyên quân định cùng hơn hai mươi tân khách, môn hạ có dũng lực, văn võ toàn tài lên đường. Bình Nguyên quân nói: “Nếu dùng văn mà thủ thắng thì tốt, dùng văn mà không thể thủ thắng thì uống máu ăn thề ở đại điện, phải kết được tung ước mới về. Võ sĩ đâu cần tìm bên ngoài, lấy trong số thực khách, môn hạ cũng đủ rồi.” Lựa được mười chín người, không thêm được ai, chưa đủ số hai mươi. Môn hạ có Mao Toại tiến lên, tự tiến cử với Bình Nguyên quân: “Toại nghe nói ngài muốn hợp tung với Sở, định lựa lấy hai mươi tân khách, môn hạ cùng đi, không tìm ở ngoài. Nay thiếu một người, xin ngài lấy Toại này cho đủ số lên đường.” Bình Nguyên quân hỏi: “Tiên sinh làm môn hạ của Thắng mấy năm rồi?” Mao Toại đáp: “Ở ba năm rồi.” Bình Nguyên quân nói: “Phàm hiền sĩ ở đời, ví như mũi dùi trong bọc, ắt phải lộ ra. Nay tiên sinh làm môn hạ của Thắng cũng đã ba năm, tả hữu chưa từng thấy ai khen ngợi, Thắng chưa từng được nghe, vậy là tiên sinh không có tài gì. Tiên sinh không thể đi được, hãy ở lại đi!” Mao Toại nói: “Toại nay mới xin được ở trong bọc. Ví như Toại ở trong bọc sớm thì đã ló ra ngoài, không chỉ thấy đầu mũi thôi đâu.” Cuối cùng, Bình Nguyên quân cho Mao Toại đi.

Mười chín người kia cùng nhìn mà cười, tỏ ý xem thường. Đi gần đến Sở, Mao Toại bàn bạc cùng mười chín người kia, thảy đều khâm phục. Bình Nguyên quân cùng Sở vương bàn hợp tung, nói chuyện lợi hại, từ lúc mặt trời mọc đến khi đứng bóng vẫn chưa quyết được. Mười chín người kia nói với Mao Toại: “Ông lên đi.” Mao Toại cầm kiếm theo bậc bước lên, nói với Bình Nguyên quân: “Lợi hại của hợp tung, đôi câu là quyết được. Nay nói từ lúc mặt trời lên đến khi đứng bóng, vẫn chưa quyết, sao vậy?” Sở vương hỏi Bình Nguyên quân: “Khách làm gì thế?” Bình Nguyên quân đáp: “Là xá nhân của Thắng.” Sở vương quát: “Sao không lui! Ta và chủ ngươi đang bàn chính sự, ngươi lên làm gì?” Mao Toại cầm kiếm bước lên nói: “Đại vương quát Toại là cậy Sở đông quân thôi. Nay trong mười bước, ngài không thể cậy quân chúng đông của Sở, bởi mạng ngài treo trên tay Toại. Trước mặt chủ tôi, ngài quát gì thế? Và Toại nghe nói Thành Thang đất có bảy chục dặm mà làm vua thiên hạ, Văn vương đất có trăm dặm vuông mà chư hầu thần phục, há vì sĩ tốt đông đảo, chẳng qua nhờ nắm được thế của mình, thể hiện được uy của mình thôi. Nay Sở rộng năm nghìn dặm vuông, quân binh trăm vạn, là vốn của nghiệp bá vương vậy. Nhờ sự hùng cường của Sở, thiên hạ không ai cự nổi. Bạch Khởi là tên nhãi nhép, cầm mấy vạn quân, dấy binh giao chiến với Sở, đánh một trận hạ được đất Yên, Dĩnh, đánh hai trận thiêu Di Lăng, đánh ba trận sỉ nhục tiên tổ của đại vương. Đó là oán hận trăm đời, Triệu cũng hổ thẹn mà đại vương lại không. Việc hợp tung là vì Sở, không phải vì Triệu. Trước mặt chủ tôi, ngài quát nỗi gì?” Sở vương đáp: “Vâng, vâng, quả như lời tiên sinh nói, kính cẩn dâng xã tắc để theo hợp tung.” Mao Toại hỏi: “Hợp tung quyết chưa?” Sở vương đáp: “Quyết rồi.” Mao Toại nói với tả hữu của Sở vương: “Hãy mang máu gà, chó, ngựa đến đây.” Mao Toại bưng mâm đồng, quỳ dâng Sở vương, nói: “Xin đại vương uống máu để định hợp tung, thứ đến chủ tôi, sau nữa đến Toại.” Rồi định việc hợp tung ngay trên điện. Mao Toại tay trái bưng mâm máu, tay phải vẫy mười chín người kia, nói: “Các vị cùng uống máu dưới điện. Các ông đông đảo, nhưng phải dựa vào người khác để hoàn thành việc của mình đó.”

Bình Nguyên quân ước định tung ước xong, về đến Triệu, nói: “Thắng không dám xét đoán kẻ sĩ nữa. Thắng đánh giá kẻ sĩ, nhiều thì hàng nghìn, ít thì hàng trăm, tự cho không bỏ sót kẻ hiền sĩ trong thiên hạ, nay với Mao tiên sinh quả bỏ sót vậy. Mao tiên sinh một phen đến Sở, khiến Triệu được trọng hơn cả cửu đỉnh, đại lã[1]. Mao tiên sinh dùng ba tấc lưỡi mà mạnh hơn đội quân trăm vạn. Thắng không dám xét đoán kẻ sĩ nữa.” Bèn tôn làm thượng khách.

Bình Nguyên quân trở về Triệu, Sở phái Xuân Thân quân cầm quân giải cứu Triệu, Tín Lăng quân nước Ngụy cũng giả chiếu chỉ của vua đoạt quân của Tấn Bỉ đến giải cứu Triệu, đều chưa tới nơi. Tần siết chặt vòng vây Hàm Đan, Hàm Đan nguy cấp, sắp phải hàng, Bình Nguyên quân rất lo lắng. Con trai người coi trạm Hàm Đan là Lý Đồng hỏi Bình Nguyên quân: “Ngài không lo Triệu mất ư?” Bình Nguyên quân đáp: “Triệu mất thì Thắng làm tù binh, sao lại không lo?" Lý Đồng nói: “Dân Hàm Đan, đốt xương đổi con để ăn, tình hình nguy cấp lắm thay, vậy mà hậu cung của ngài đông đến hàng trăm, hầu thiếp mặc lụa là, thừa cơm thịt, còn dân đen y phục rách rưới, tấm mẳn không đủ no. Dân khốn quẫn, binh khí hết, có người gọt cây làm giáo làm tên, trong khi chuông khánh nhà ngài vẫn nguyên vẹn. Giả sử Tần phá được Triệu, ngài sao còn những thứ ấy? Như Triệu được bảo toàn, ngài lo gì không có những thứ ấy? Nay ngài có thể lệnh cho hàng phu nhân trở xuống biên vào sĩ tốt, chia việc cho làm, phát tán của nả trong nhà cho sĩ tốt, sĩ tốt đương lúc nguy khốn, dễ dàng cảm ân đức của ngài.” Bình Nguyên quân nghe theo, hợp được ba nghìn binh sĩ cảm tử. Lý Đồng cùng ba nghìn người đó xông ra đánh Tần, quân Tần phải lui ba mươi dặm. Đúng lúc ấy, Sở và Ngụy đến cứu, Tần bên bãi binh, Hàm Đan được bảo toàn. Lý Đồng chết trận, cha được phong làm Lý hầu.

Ngu khanh nhân việc Tín Lăng quân bảo tồn Hàm Đan muốn xin gia phong Bình Nguyên quân. Công Tôn Long hay tin, giữa đêm đi xe đến gặp Bình Nguyên quân, nói: “Long nghe nói Ngu khanh nhân việc Tín Lăng quân bảo tồn Hàm Đan muốn xin gia phong cho ngài, có việc ấy không?" Bình Nguyên quân đáp: “Có.” Long nói: “Việc ấy rất không nên. Đại vương cất nhắc ngài làm Tể tướng nước Triệu, không phải vì ngài có tài năng ở Triệu không ai bằng, cắt Đông Vũ Thành phong cho ngài, không phải vì ngài có công còn người khác không có, mà vì ngài là thân thích. Ngài nhận ấn tướng mà không nói mình vô năng, nhận đất phong lại không nói mình vô công, vì tự cho mình là thân thích vậy. Nay Tín Lăng quân bảo tồn Hàm Đan mà xin gia phong, là lấy danh thân thích để nhận thành, lại lấy danh người trong nước để tính công vậy. Thế rất không nên. Vả Ngu khanh nắm cả hai đầu, việc thành, nắm khế ước để đòi nợ; việc không thành, dựa hư danh chịu ơn ngài. Ngài quyết không được nghe theo.” Bình Nguyên quân bèn không nghe Ngu khanh.

Bình Nguyên quân mất năm Triệu Hiếu Thành vương thứ mười lăm. Con cháu thay nhau tập ấm, đến tận khi Triệu bị diệt Vong.

Bình Nguyên quân hậu đãi Công Tôn Long. Công Tôn Long giỏi biện bác về “cứng” và “trắng” (kiên bạch), khi Trâu Diễn đến Triệu nói về đạo lý tột vời, bèn phế truất Công Tôn Long.

Ngu khanh

Ngu khanh là kẻ sĩ du thuyết, mang giày cỏ áo tơi thuyết Hiếu Thành vương nước Triệu. Yết kiến lần thứ nhất, được tặng trăm dật vàng, một đôi ngọc bích; yết kiến lần thứ hai, được làm thượng khanh nước Triệu, nên gọi là Ngu khanh.

Tần và Triệu giao chiến ở Trường Bình, Triệu không thắng, mất một Đô úy. Triệu vương vời Lâu Xương và Ngu khanh đến hỏi: “Quân đánh không thắng, Đô úy lại chết, quả nhân sai cuốn giáp xông vào quân địch, được không?” Lâu Xương đáp: “Vô ích thôi, chẳng bằng sai sứ thần trọng yếu đi giảng hòa.” Ngu khanh nói: “Xương nói giảng hòa, vì cho nếu không giảng hòa quân ắt bị phá. Còn việc giảng hòa là do Tần. Đại vương xét xem Tần có muốn phá quân Triệu hay không?" Triệu vương nói: “Tần dốc toàn lực, ắt muốn phá quân Triệu.” Ngu khanh nói: “Đại vương nghe thần, phái sứ mang nhiều báu vật sang Sở và Ngụy, Sở và Ngụy được nhiều báu vật của đại vương, ắt chấp nhận sứ của ta. Sứ Triệu sang Sở và Ngụy, Tần ắt ngờ thiên hạ hợp tung, hẳn sợ. Như thế, giảng hòa mới thành.” Triệu vương không nghe, cùng Bình Nguyên quân tình việc giảng hòa, sai Trịnh Chu sang Tần. Tần tiếp nhận sứ Triệu. Triệu vương vời Ngu khanh đến, hỏi: “Quả nhân phái Bình Nguyên quân tính việc giảng hòa với Tần, Tần đã tiếp nhận sứ Trịnh Chu, khanh thấy sao?” Ngu khanh đáp: “Đại vương không giảng hòa được, quân ắt bị phá thôi. Thiên hạ kẻ chúc mừng chiến thắng đều ở Tần. Trịnh Chu là người hiển quý, vào Tần, Tần vương và ứng hầu ắt tỏ lòng coi trọng cho thiên hạ thấy. Sở và Ngụy cho rằng Triệu đã giảng hòa, ắt không cứu đại vương. Tần biết thiên hạ không cứu đại vương, việc giảng hòa không thể thành công được.” Quả nhiên Ứng hầu tiếp đãi Trịnh Chu nồng hậu, để người mừng chiến thắng trong thiên hạ biết, cuối cùng không chịu giảng hòa. [Triệu] đại bại ở Trường Bình, [Tần] liền bao vây Hàm Đan, [Triệu] bị thiên hạ chê cười.

Tần đã giải vây Hàm Đan, Triệu vương vào chầu, phái Triệu Hách sang Tần giao ước, cắt sáu huyện để giảng hòa. Ngu khanh nói với Triệu vương: “Tần đánh đại vương, mỏi mệt mà rút về chăng? Đại vương cho sức họ còn tiến đánh được, vì yêu đại vương nên không đánh nữa chăng?” Triệu vương đáp: “Tần đánh ta, đã dốc toàn lực, ắt vì mỏi mệt mà rút về vậy.” Ngu khanh nói: “Tần dốc sức đánh mà không chiếm được, mỏi mệt rút về, đại vương lại đem cái họ dốc sức chiếm không được tặng cho họ, là giúp Tần tự đánh mình vậy. Sang năm Tần lại đánh đại vương, đại vương không thể tự cứu mình được nữa.” Triệu vương đem lời Ngu khanh nói với Triệu Hách. Triệu Hách nói: “Ngu khanh thực biết khả năng của Tần ư? Dẫu biết sức Tần không thể tiến đánh được, nếu không cắt mảnh đất nhỏ như hòn đạn này cho họ, sang năm Tần lại đánh đại vương, liệu đại vương có thể không cắt đất trong nước để giảng hòa chăng?” Triệu vương nói: “Nghe lời ông cắt đất, ông có thể khiến Tần sang năm không đánh nữa chăng?” Triệu Hách đáp: “Điều đó thần không dám đảm bảo. Khi xưa, Tam Tấn quan hệ với Tần rất tốt. Nay Tần thân Hàn và Ngụy rồi đánh đại vương, ắt vì đại vương thờ Tần không bằng Hàn và Ngụy vậy. Nay thần xin vì đại vương hóa giải việc nước bị tấn công vì bội phản minh ước, mở ải lưu thông của cải, kết giao như Hàn và Ngụy, sang năm nếu Tần chỉ đánh đại vương, ấy vì đại vương thờ Tần không bằng Hàn và Ngụy vậy. Đó không phải điều thần dám đảm bảo.”

Triệu vương nói lại với Ngu khanh. Ngu khanh nói: “Hách bảo: 'Không giảng hòa, sang năm Tần lại đánh đại vương, liệu đại vương có thể không cắt đất trong nước để giảng hòa chăng.' Giảng hòa, Hách lại không dám chắc sang năm Tần không đánh nữa. Nay tuy cắt sáu thành, ích gì? Sang năm Tần lại đánh, lại cắt đất mà họ dốc sức không lấy được để giảng hòa, đó là thuật tự diệt vậy, chẳng bằng không cầu hòa. Tần tuy giỏi đánh, cũng không thể chiếm sáu huyện; Triệu dù không thể giữ, cuối cùng không mất sáu thành. Tần mỏi mệt rút về, quân ắt suy yếu. Ta đem sáu thành lời kéo thiên hạ đánh Tần mỏi mệt, là ta mất thành cho thiên hạ lại lấy được bồi hoàn từ Tần. Nước ta vẫn lợi, chứ ai ngồi không cắt đất tự làm yếu mình, giúp Tần mạnh? Nay Hách nói 'Tần thân Hàn và Ngụy rồi đánh đại vương, ắt vì đại vương thờ Tần không bằng Hàn và Ngụy vậy', là khiến đại vương mỗi năm cắt sáu thành để thờ Tần, tức ngồi không mà mất hết thành. Sang năm Tần lại đòi cắt đất, đại vương chịu không? Không cắt, tức bỏ công trước mà chuốc họa Tần đánh; nếu cắt, sẽ chẳng còn đất mà cắt nữa, Tục ngữ nói: 'Kẻ mạnh giỏi đánh, kẻ yếu không thể giữ.' Nay ngồi mà theo Tần, quân Tần không tốn sức lại được nhiều đất, là làm Tần mạnh mà khiến Triệu yếu vậy. Giúp Tần thêm mạnh mà phải cắt đất của nước Triệu ngày càng yếu, kế đó hẳn không thể dùng. Và đất của đại vượng có hạn, đòi hỏi của Tần lại vô cùng, lấy đất có hạn đáp ứng đòi hỏi vô cùng, tình thế ấy ắt không còn Triệu nữa.”

Triệu vương chưa quyết được kế sách, Lâu Hoãn từ Tần đến, Triệu vương tính kế cùng Lâu Hoãn, Triệu vương hỏi: “Cắt đất cho Tần với không cắt, đằng nào hơn?” Hoãn thoái thác nói: “Điều đó thần không biết được.” Triệu vương nói: “Dẫu vậy, hãy thử nói ý ông.” Lâu Hoãn đáp: “Đại vượng hẳn từng nghe chuyện về mẹ của Công Phủ Văn Bá? Công Phủ Văn Bá làm quan ở Lỗ, ốm chết, hai người con gái vì ông ta tự sát trong phòng. Bà mẹ hay tin không khóc. Người giúp việc trong nhà hỏi: “Sao con chết mà bà không khóc?” Bà mẹ đáp: “Khổng tử là người hiền, bị đuổi khỏi Lỗ, nó không đi theo. Nay nó chết mà hai người tự tử chết theo, ắt vì nó bạc với tôn trưởng mà hậu đãi đàn bà.” Cho nên từ địa vị người mẹ, là lời mẹ hiền; từ góc độ người vợ, ắt không tránh khỏi bị coi là người vợ đố kỵ. Cho nên một lời nói, người nói khác nhau người nghe ắt hiểu khác. Nay thần mới từ Tần về mà nói không cắt đất cho Tần thì không phải kế hay; nói cắt đất cho Tần, sợ đại vương nghĩ thần vì Tần; nên không dám trả lời. Giả sử thần được bày kế cho đại vương, chẳng bằng cắt cho họ.” Triệu vương đáp: “Được.”

Ngu khanh biết chuyện, liền vào yết kiến Triệu vương, nói: “Đó là những lời màu mè, xin đại vương chớ cắt đất.” Lâu Hoãn hay tin, tới yết kiến Triệu vương. Triệu vương lại đem lời Ngu khanh nói với Lâu Hoãn, Lâu Hoãn đáp: “Không phải thế đâu. Ngu khanh biết một không biết hai. Xét lẽ, Tần và Triệu xung đột, thiên hạ đều mừng. Tại sao? Vì họ cho 'Ta dựa kẻ mạnh, lợi dụng kẻ yếu.' Nay quân Triệu bị Tần vây khốn, kẻ chúc mừng chiến thắng trong thiên hạ ắt đều tập trung ở Tần. Cho nên chẳng bằng cắt đất giảng hòa, khiến thiên hạ nghi ngờ còn Tần thì hả dạ. Nếu không, thiên hạ sẽ nhân Tần tức giận, thừa lúc Triệu yếu mà xâu xé. Triệu sẽ mất, cần gì mưu tính đến Tần nữa? Nên nói Ngu khanh biết một không biết hai. Xin đại vương hãy quyết định, chớ tính toán gì nữa.”

Ngu khanh nghe tin, bèn qua yết kiến Triệu vương, nói: “Nguy thay! Lâu tử vì Tần như thế, càng khiến thiên hạ sinh nghi, Tần nào có hả dạ? Sao không nói phô ra cho thiên hạ biết mình yếu? Và thần nói không cắt đất, không phải nhất định không cắt thôi đâu. Tần đòi đại vương sáu thành, đại vương lấy sáu thành cắt cho Tề. Tề và Tần oán thù sâu nặng, Tề được sáu thành của đại vương, sẽ dốc sức đánh Tần, chưa cần nói dứt lời Tề đã nghe đại vương. Vậy đại vương mất sáu thành cho Tề mà được hoàn trả ở Tần. Còn có thể báo được thâm thù của Tề và Triệu, lại cho thiên hạ thấy mình dám làm. Đại vương công bố điều ấy, quân chưa nhòm vào biên cảnh, thần thấy Tần đã mang nhiều của đến Triệu, ngược lại còn cầu hòa với đại vương. Tần xin giảng hòa, Hàn và Ngụy hay tin, ắt coi trọng đại vương; coi trọng đại vương trước tiên ắt mang nhiều báu vật đến biếu. Như thế, đại vương làm một việc mà kết thân ba nước, lại thay đổi được vị thế với Tần.” Triệu vương đáp: “Hay.” Rồi sai Ngu khanh sang đông yết kiến Tề vương, cùng tính kế đối phó Tần. Ngu khanh chưa về, sứ Tần đã đến Triệu. Lâu Hoãn nghe tin, trốn đi. Triệu phân phong cho Ngu khanh một thành.

Một thời gian sau, Ngụy đề nghị hợp tung. Hiếu Thành vương triệu Ngu khanh đến bàn. Ngu khanh qua chỗ Bình Nguyên quân, Bình Nguyên quân nói: “Xin ngài bàn về hợp tung.” Ngu khanh vào yết kiến Triệu vương, Triệu vương nói: “Ngụy đề nghị hợp tung.” Ngu khanh đáp: “Ngụy sai rồi.” Triệu vương nói: “Quả nhân vẫn chưa đồng ý.” Ngu khanh nói: “Đại vương sai rồi.” Triệu vương hỏi: “Ngụy xin hợp tung, khanh nói Ngụy sai, quả nhân chưa đồng ý, lại nói quả nhân sai, rốt cuộc không thể hợp tung chăng?” Ngu khanh đáp: “Thần nghe nói nước nhỏ hợp tung với nước lớn, thắng lợi thì nước lớn được phúc, thất bại thì nước nhỏ chịu họa. Nay Ngụy là nước nhỏ mà xin cái họa, đại vương là nước lớn mà từ chối phúc, nên thần nói đại vương sai, Ngụy cũng sai. Thần trộm cho hợp tung là có lợi.” Triệu vương nói: “Phải.” Bèn hợp tung với Ngụy.

Ngu khanh vì Ngụy Tề[2] nên không coi trọng tước phong vạn hộ, ấn hầu khanh tướng, lén đi cùng Ngụy Tề, cuối cùng bỏ Triệu, bị khốn ở Lương. Ngụy Tề chết, Ngu khanh bất đắc chí, bèn viết sách, trên chọn nhặt từ Xuân Thu, dưới quan sát các đời gần, đặt tên Tiết nghĩa, Xưng hiệu, Sủy ma, Chính mưu, gồm tám thiên, nhằm phê phán điều được mất của quốc gia, người đời lưu truyền, gọi là Ngu thị xuân thu.

Thái sử công bàn rằng: Bình Nguyên quân là vị công tử tốt, phong lưu phiêu thoát giữa đời ô trọc, nhưng chưa thấy rõ đại thể. Tục ngữ nói: “Lợi khiến trí mờ.” Bình Nguyên quân tham theo tà thuyết của Phùng Đình[3], khiến hơn bốn mươi vạn quân Triệu bị chôn sống ở Trường Bình, Hàm Đan suýt mất. Ngu khanh liệu việc xét tình, lập kế cho Triệu, sao mà khéo thế. Khi không đành lòng việc của Ngụy Tề, cuối cùng bị khốn ở Đại Lương, kẻ tầm thường còn biết không thể, huống nữa bậc hiền nhân? Nhưng Ngu khanh nếu không khốn khổ cùng cực, cũng không viết sách thổ lộ bản thân cho đời sau.

[1] cửu đỉnh: chín vạc, được coi là báu vật truyền quốc của thời Tam đại (Hạ-Thương-Chu). Đại lã: chuông lớn trong tông miếu nhà Chu.

[2] Ngụy Tề là công tử nước Ngụy, làm Tướng quốc thời Ngụy Chiêu vương, có thù với Phạm Thư. Phạm Thư trốn sang Tần, làm Tướng quốc cho Chiêu Tương vương nước Tần, lập chí báo thù Ngụy Tề. Ngụy Tề trốn sang chỗ Bình Nguyên quân nước Triệu, Chiêu Tương vương uy hiếp Hiếu Thành vương nước Triệu, Ngu khanh cùng Ngụy Tề trốn sang Ngụy, muốn thông qua Tín Lăng quân để đến Sở. Tín Lăng quân sợ Tần, do dự chưa tiếp kiến. Hầu Doanh khuyên Tín Lăng quân diện kiến Ngu khanh. Ngụy Tề biết Tín Lăng quân không muốn giúp, bèn cắt cổ tự tử.

[3] Xem Bạch Khởi kiệt truyện.

Phạm Văn Ánh (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.