Sử Ký II. Liệt Truyện (Thượng)

Lượt đọc: 383 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 67 TRỌNG NI ĐỆ TỬ LIỆT TRUYỆN

❊ ❊ ❊

Image

Khổng tử nói: “Học trò tinh thông có 77 người”, đều là những kẻ sĩ có tài lạ. Đức hạnh có: Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Bá Ngưu, Trọng Cung; chính sự có: Nhiễm Hữu, Quý Lộ; ngôn từ ứng đối có: Tể Ngã, Tử Cống; văn học có: Tử Du, Tử Hạ. Sư[1] thì cong vạy, Sâm[2] thì trì độn, Sài[3] thì ngu tối, Do[4] thì thô lỗ, Hồi[5] thì cùng quẫn. Tứ[6] không chịu mệnh trời mà đi buôn, cân nhắc sự lý chính đáng chuẩn xác.

Người Khổng tử cho là bậc tôn nghiêm: nhà Chu có Lão tử, nước Vệ có Cừ Bá Ngọc, nước Tề có Yến Bình Trọng, nước Sở có Lão Lai tử, nước Trịnh có Tử Sản, nước Lỗ có Mạnh Công Xước. Nhiều lần khen ngợi có Tang Văn Trọng, Liễu Hạ Huệ, Đồng Đê Bá Hoa, Giới Sơn Tử Nhiên. Khổng tử đều sinh sau, không cùng một đời.

Nhan Hồi

Nhan Hồi người nước Lỗ, tự Tử Uyên, kém Khổng tử 30 tuổi. Nhan Hồi hỏi về đức nhân, Khổng tử đáp: “Sửa mình trở về theo lễ thì thiên hạ quay về đức nhân vậy.”

Image

Khổng tử nói: “Hiền thay trò Hồi! Một giỏ thức ăn, một bầu nước uống, ở trong ngõ sâu, người ta không chịu nổi ưu phiền, còn Hồi thì không thay đổi niềm vui của mình.” “Hồi như kẻ ngu, nhưng khi lui về thì tự mình suy xét, chỉ thế cũng đủ phát huy, Hồi chẳng ngu đâu.” “Dùng thì thi hành, bỏ thì quy ẩn, duy ta với ngươi là làm được như vậy thôi.”

Năm Hồi 29 tuổi, tóc bạc hết, chết sớm. Khổng tử khóc lóc đau đớn, nói: “Từ khi ta có trò Hồi, học trò ngày càng thêm thân.” Lỗ Ai công hỏi: “Học trò ngài ai là người hiếu học?” Khổng tử đáp: “Có Nhan Hồi là người hiếu học, không giận lây người khác, không mắc lỗi hai lần, nhưng chẳng may vắn số chết rồi, nay không còn ai nữa.”

Mẫn Tổn

Mẫn Tổn tự là Tử Khiêm, kém Khổng tử 15 tuổi.

Khổng tử nói: “Hiếu thay Mẫn Tử Khiêm! Người khác không thể nói lời chia rẽ được cha mẹ anh em Tử Khiêm.” [Mẫn Tổn] không làm quan đại phu, không ăn lộc của hôn quân. [Từng nói]: “Như có người lại đến mời, ta ắt trốn đến thượng lưu sông Vấn.”

Nhiễm Canh

Nhiễm Canh tự Bá Ngưu. Khổng tử cho là người có đức hạnh. Bá Ngưu bị bạo bệnh, Khổng tử đến thăm, từ ngoài cửa sổ cầm tay nói: “Số mệnh vậy chăng! Người thế này mà mắc bệnh này, số mệnh vậy chăng?”

Nhiễm Ung

Nhiễm Ung tự Trọng Cung.

Trọng Cung hỏi về chính sự, Khổng tử đáp: “Ra cổng như thấy khách quý, sai dân như thừa hành cuộc tế lớn. Trong nước không để ai oán, tại ấp phong không để ai oán”.

Khổng tử cho Trọng Cung là người có đức hạnh, nói: “Ung đó, có thể sai ngoảnh mặt về phía nam.”[7]

Cha Trọng Cung là người hèn mọn. Khổng tử nói: “Con của con trâu loang lổ mà lông lại thuần màu đỏ, hai sừng đều đặn, không muốn dùng để tế thì thần núi thần sông có bỏ nó không?”

Nhiễm Cầu

Nhiễm Cầu tự Tử Hữu, kém Khổng tử 29 tuổi, làm quan tế cho họ Quý Tôn.

Quý Khang tử hỏi Khổng tử: “Nhiễm Cầu là người nhân chăng?” Đáp: “Ấp phong có ngàn hộ, gia tộc có trăm cỗ xe, có thể sai Cầu nắm việc quân sự. Còn như nhân hay không thì tôi không biết.” Lại hỏi: “Tử Lộ là người nhân chăng?” Khổng tử đáp: “Cũng như Cầu.”

Cầu hỏi: “Nghe rồi thì phải thi hành điều đã nghe chăng?” Khổng tử đáp: “Thi hành thôi!” Tử Lộ hỏi: “Nghe rồi thì phải thi hành điều đã nghe chăng?” Khổng tử đáp: “Có cha có anh, sao lại nghe rồi thì thi hành điều đã nghe?" Tử Hoa lấy làm lạ, hỏi: “Dám hỏi, sao hỏi giống nhau mà thầy trả lời lại khác?” Khổng tử đáp: “Cầu hay bàn lùi nên phải khích lệ. Do hơn người thường nên phải kìm hãm.”

Trọng Do

Trọng Do tự Tử Lộ, người đất Biện, kém Khổng tử 9 tuổi. Tử Lộ tính quê mùa, sính cường, cương trực, đội mũ kiểu gà trống, đeo bao kiếm da lợn, khinh khi Khổng tử. Khổng tử dùng lễ dần dần dẫn dụ Tử Lộ. Sau, Tử Lộ khép mình theo đạo nho, rồi thông qua môn nhân xin làm học trò Khổng tử.

Tử Lộ hỏi về chính sự, Khổng tử đáp: “Tự làm trước, chịu nhọc trước.” Tử Lộ xin thầy nói thêm, Khổng tử nói: “Đừng có biếng nhác.”

Tử Lộ hỏi: “Quân tử có chuộng dũng không?” Khổng tử đáp: “Đặt nghĩa lên trên. Quân tử hiếu dũng mà không có nghĩa thì làm loạn, tiểu nhân hiếu dũng mà không có nghĩa thì trộm cắp.”

Tử Lộ nghe rồi nhưng chưa thể thi hành, chỉ sợ lại được nghe điều khác.

Khổng tử nói: “Vài lời vẻn vẹn mà có thể xử đoán việc hình ngục, chỉ có Do thôi!” “Do hiếu dũng hơn ta, không có tài gì khác.” “Như Do, ắt không trọn vẹn với cái chết của mình.” “Người mặc áo bào rách đứng chung với người mặc áo lông cáo mà không thấy xấu hổ, chỉ có trò Do thôi!” “Trò Do đó, mới bước lên nhà thôi chứ chưa vào trong nhà vậy.”[8]

Quý Khang tử hỏi: “Trọng Do là người nhân chăng?” Khổng tử đáp: “Nước có nghìn cỗ xe, có thể giao phụ trách quân đội, không biết Do có nhân hay không?"

Tử Lộ vui vì được xuất du cùng thầy, từng gặp Trường Thư, Kiệt Nịch, Hạ Điều Trương Nhân.

Tử Lộ làm quan tể cho họ Quý Tôn, Quý Tôn hỏi Khổng tử: “Tử Lộ có thể coi là bậc đại thần không?" Khổng tử đáp: “Có thể gọi là thần tử.”

Tử Lộ làm đại phu ấp Bồ, đến từ biệt Khổng tử. Khổng tử nói: “Ấp Bồ nhiều tráng sĩ, lại khó trị lý, song ta dặn con rằng: cung kính có thể chế ngự được uy dũng, khoan hòa chính trực có thể cố kết chúng nhân, cung kính chính trực thì nơi ấy được yên, có thể lấy đó báo đáp bề trên.”

Lúc trước, Vệ Linh công có thiếp yêu là nàng Nam tử. Thái tử Quỹ Khoái của Linh công đắc tội với Nam tử, sợ bị giết nên trốn sang nước khác. Khi Linh công chết, phu nhân muốn lập công tử Dĩnh. Dĩnh không chịu, nói: “Con của Thái tử đã chạy trốn là Triếp hãy còn.” Thế là nước Vệ lập Triếp làm vua, đó là Xuất công. Xuất công lên ngôi được mười hai năm, cha là Quỹ Khoái sống ở nước khác, không chịu trở về. Tử Lộ làm đại phu nước Vệ, Khổng Lý làm ấp tể. Quỹ Khoái bèn cùng Khổng Lý làm loạn, toan vào ấp của Khổng Lý, cùng đồ đang tập kích Xuất công. Xuất công chạy sang Lỗ, thế rồi Quỹ Khoái về nước làm vua, đó là Trang công. Khi cùng Khổng Lý làm loạn, Tử Lộ ở ngoài, nghe tin vội đến. Gặp Tử Cao ra khỏi cổng thành nước Vệ, Tử Cao nói với Tử Lộ: “Xuất công chạy rồi, còn cổng đã đóng, ngài hãy về đi, nếu không sẽ tai vạ đấy.” Tử Lộ đáp: “Ăn bổng lộc của người thì không tránh họa nạn của người.” Tử Cao bèn đi. Có sứ giả vào thành, cổng thành mở, Tử Lộ cũng theo vào. Tới chỗ Quỹ Khoái, Quỹ Khoái và Khổng Lý lên đài. Tử Lộ nói: “Sao ngài dùng Khổng Lý? Hãy để tôi giết y”. Quỹ Khoái không nghe. Thế là Tử Lộ định đốt đài, Quỹ Khoái hoảng sợ, bèn hạ lệnh cho Thạch Khất và Hồ Yểm tấn công Tử Lộ, chém đứt dải mũ của Tử Lộ. Tử Lộ nói: “Quân tử dẫu chết cũng không bỏ mũ.” Bèn buộc lại dải mũ rồi mới chết.

Khổng tử hay tin nước Vệ có loạn, nói: “Ôi, trò Do chết rồi.” Quả nhiên chết thật. Nên Khổng tử nói: “Từ khi ta có trò Do, bên tai không nghe lời dữ.” Bấy giờ Tử Cống đang đại diện cho Lỗ đi sứ sang Tề.

Tể Dư

Tể Dư tự Tử Ngã, lợi khẩu, giỏi biện luận. Khi theo học Khổng tử, có hỏi: “Để tang [cha mẹ] ba năm, chẳng quá dài sao? Quân tử ba năm không tập lễ nghi, lễ tất bỏ phế; ba năm không tấu âm nhạc, nhạc ắt băng hoại. [Một năm] lúa cũ đã hết, lúa mới đã lên, cây dùi lấy lửa đã thay, [để tang] một năm là được rồi.” Khổng tử đáp: “[Làm thế] trò thấy yên lòng chăng?” Đáp: “Yên.” “Trò thấy yên lòng thì cứ làm. Quân tử khi để tang thì ăn không thấy ngon, nghe nhạc không thấy vui, nên không làm như thế.” Tể Ngã ra ngoài, Khổng tử bảo: “Dư thực bất nhân vậy! Con người ta ba năm sau sinh mới thôi ẵm bế. Xét lẽ, để tang ba năm, là nghĩa chung của thiên hạ vậy.”

Tể Dư ngủ ngày, Khổng tử nói: “Cây mục thì không chạm trổ được, tường đất lở thì không trát lại được vậy.”

Tể Ngã hỏi về đức của Ngũ đế, Khổng tử đáp: “Con không nên hỏi đến các vị ấy.”

Tể Ngã làm quan đại phu ở Lâm Truy, cùng Điền Thường làm loạn, nhân đó bị diệt tộc, Khổng tử lấy làm xấu hổ.

Đoan Mộc Tứ

Đoan Mộc Tứ người nước Vệ, tự Tử Cống, kém Khổng tử 31 tuổi.

Tử Cống lợi khẩu, giỏi biện luận, thường bị Khổng tử phản bác. Khổng tử hỏi: “Con với Hồi ai hơn?” Đáp rằng: “Tứ này đâu dám sánh với Hồi! Hồi nghe một biết mười, Tứ nghe một biết hai thôi.”

Sau khi Tử Cống học xong, hỏi thầy: “Tứ này là người thế nào?” Khổng tử đáp: “Con là đồ dùng". Hỏi: “Đồ gì ạ?" Đáp: “Là cái bát đựng đồ cúng trong tông miếu vậy.”

Trần Tử Cầm hỏi Tử Cống: “Trọng Ni học ai?” Tử Cống đáp: “Đạo của Văn vương, Vũ vương chưa rớt xuống đất, [đạo đó] ở người, người hiền năng thì biết nhiều, người kém thì biết ít, chẳng ai không có đạo của Văn vương, Vũ vương. Phu tử ở đâu chẳng học, há phải theo một thầy cụ thể nào!” Lại hỏi: “Khổng tử đến đâu ắt nghe chính sự nước đó, là tự tìm nghe hay có người nói cho biết?” Tử Cống đáp: “Phu tử tôi lấy ôn, lương, cung, kiệm, nhượng để nghe những việc ấy, cách nghe của thầy tôi cũng khác người khác vậy.”

Tử Cống hỏi thầy: “Giàu mà không kiêu căng, nghèo mà không nịnh bợ, thế thì sao?" Khổng tử đáp: “Được đấy, nhưng chẳng bằng nghèo mà vui với đạo, giàu mà chuộng lễ.”

Điền Thường muốn làm loạn ở Tề, nhưng sợ thế lực của họ Cao, Quốc, Bào, Yến, bèn chuyển quân chực đánh Lỗ. Khổng tử hay tin, bảo các học trò: “Lỗ là chốn đặt mộ tổ tiên, là đất nước của cha mẹ, nước nguy như thế, các con sao không ai đi đi?” Tử Lộ xin đi, Khổng tử ngăn lại. Tử Trương Tử Thạch xin đi, Khổng tử không cho. Tử Cống xin đi, Khổng tử đồng ý.

Tử Cống liền đến nước Tề, nói với Điền Thường: “Ngài đánh Lỗ là sai đấy. Bởi Lỗ là nước khó đánh, thành mỏng mà thấp, hào hẹp mà nông, nhà vua ngu tối mà bất nhân, đại thần dối trá mà vô dụng, sĩ dân căm ghét chuyện đao binh, như thế không thể đánh họ được. Chẳng bằng nhà vua hãy đánh nước Ngô. Do nước Ngô có thành cao dày, hào rộng sâu, giáp mới mà bền cứng, sĩ tốt được tuyển đầy đủ, trọng khí và tinh binh nước ấy không thiếu, lại có đại phu sáng suốt trấn giữ, như thế sẽ dễ đánh.” Điền Thường giận nói: “Cái ông cho là khó thì người khác thấy dễ, cái ông cho là dễ thì người khác thấy khó. Ông đem việc đó chỉ giáo tôi là ý làm sao?” Tử Cống đáp: “Tôi nghe nói, người có nỗi lo bên trong thì đánh nước mạnh, người có nỗi lo bên ngoài thì đánh nước yếu. Nay ngài có nỗi lo bên trong nước. Tôi nghe ngài ba lần được phong mà ba lần không thành, do các đại thần không chịu vậy. Nay ngài phá Lỗ để mở rộng Tề, chiến thắng thì khiến chúa ngài thêm kiêu, đại thần thêm trọng, còn ngài chẳng được công tích gì, theo đó quan hệ giữa ngài với vua ngày một nhạt dần. Trên thì nhà vua có lòng kiêu ngạo, dưới thì quần thần mặc sức làm càn, ngài mong thành đại sự, khó lắm thay. Phàm vua kiêu thì buông tuồng, tôi kiêu thì tranh giành, vậy là trên thì ngài mâu thuẫn với vua, dưới lại tranh giành với đại thần, hẳn sẽ gặp nguy. Cho nên nói đánh nước Ngô. Đánh Ngô không thắng, dân chúng chết ở nước ngoài, đại thần trong nước trống trơn, vậy là ngài trên thì không có bề tôi mạnh đối địch, dưới sẽ không bị chúng dân đổ lỗi, chúa cô độc mà người khống chế nước Tề chỉ có ngài thôi.” Điền Thường nói: “Phải lắm! Nhưng quân tôi đã đánh Lỗ, giờ rút chuyển đánh Ngô, đại thần sẽ nghi ngờ, tôi phải làm sao đây?” Tử Cống đáp: “Ông cho án binh bất động, tôi xin đi sứ sang thuyết Ngô vương, khiến ông ta cứu Lỗ, đánh Tề, ông nhân đó đem quân nghênh chiến.” Điền Thường đồng ý, sai Tử Cống xuống phía nam yết kiến Ngô vương.

Gặp Ngô vương, Tử Cống bảo: “Thần nghe nói, bậc vương giả không để nước bị diệt, người làm bá không có kẻ địch mạnh, vật nặng ngàn cân chỉ cần thêm một chút cũng đủ làm nghiêng lệch. Nay Tề có vạn cỗ xe muốn chiếm Lỗ, có nghìn cỗ xe để tranh cường với Ngô, trộm thấy nguy thay cho nhà vua. Và cứu Lỗ thì danh tiếng rạng rỡ; đánh Tề thì thu mối lợi lớn vậy. Lấy danh nghĩa vỗ yên chư hầu ở Tứ Thượng, diệt Tề bạo ngược để chế phục Tấn hùng mạnh, lợi nào lớn hơn. Danh nghĩa là bảo tồn nước Lỗ mà thực lại khiến nước Tề mạnh nguy khốn, bậc trí giả không còn do dự nghi ngờ gì nữa.” Ngô vương đáp: “Phải lắm! Nhưng ta hay giao chiến với nước Việt, vây khốn ở Cối Kê. Việt vương cực nhọc nuôi quân, ôm lòng thù ta. Ông đợi ta đánh Việt, rồi sẽ theo lời ông.” Tử Cổng nói: “Việt không mạnh bằng Lỗ, Ngô chẳng mạnh hơn Tề, ngài bỏ Tề đánh Việt thì Tề đánh được Lỗ rồi. Vả nhà vua lấy danh nghĩa bảo tồn nước cho nước khác, đánh nước Việt nhỏ mà dọa nước Tề mạnh, đó không phải dũng. Người dũng không tránh việc khó, người nhân không để người khác lâm cảnh khốn cùng, người trí không bỏ lỡ thời cơ, bậc vương giả không để nước bị diệt, phải lập đạo nghĩa của mình. Nay, bảo tồn Việt là tỏ lòng nhân với chư hầu, cứu Lỗ đánh Tề là ra oai với nước Tấn, chư hầu ắt dắt nhau đến chầu nước Ngô, bá nghiệp sẽ thành công. Nếu nhà vua thực sự lo nước Việt, thần xin qua phía đông yết kiến Việt vương, khiến ông ta xuất binh phụ giúp, như thế làm cho nước Việt trống không, danh nghĩa là theo chư hầu đi chinh phạt vậy.” Ngô vương cả mừng, bèn sai Tử Cống đi sứ nước Việt.

Việt vương hay tin Tử Cống đến, cho quét đường, ra tận ngoài thành nghênh đón, đích thân đánh xe đến khách xa hỏi: “Nơi này là nước man di, đại phu sao lại hạ mình đến đây?” Tử Cống đáp: “Nay tôi thuyết phục Ngô vương đánh Tề cứu Lỗ, ý Ngô vương muốn đánh, nhưng e ngại nước Việt, có nói: 'Chờ ta đánh Việt xong đã.' Như thế, ắt sẽ đánh Việt. Huống nữa, không có chí báo đáp mà khiến người ta nghi ngờ ấy là vụng về; có chí báo đáp mà khiến người ta biết rõ thì không an toàn; việc chưa làm mà đã biết trước thì nguy hiểm. Ba điều ấy là mối lo lớn của người hành sự.” Câu Tiễn dập đầu vái lạy nói: “Cô[9] thường không tự lượng sức, nên đánh nhau với nước Ngô, bị vây khốn ở Cối Kê, đau đớn đến tận xương tủy, ngày đêm cháy lưỡi khô môi, muốn sống chết với Ngô vương, là ước nguyện của cô vậy.” Rồi hỏi Tử Cống. Tử Cống đáp: “Ngô vương là kẻ dũng mãnh tàn bạo, bề tôi không chịu nổi; nước suy yếu vì chiến tranh liên miên, sĩ tốt không chịu nổi; trăm họ oán thán người trên, đại thần có ý làm loạn; Tử Tư vì can ngăn mà phải chết, Thái tể Bá Phỉ nắm quyền, hùa theo lỗi của vua để củng cố lợi riêng. Đó là nền cai trị của đất nước hung tàn vậy. Nay nhà vua thực lòng phát binh giúp ông ta thỏa chí nguyện, cống tiến nhiều của quý khiến ông ta vui lòng, lời lẽ nhún nhịn phải lễ để tôn ông ta lên, ông ta nhất định đánh Tề. Nước Ngô đánh mà không thắng, là phúc của nhà vua vậy. Đánh mà thắng, ắt đem quân đến Tấn, thần xin lên phía bắc yết kiến vua Tấn, khiến Tấn cùng tấn công, Ngô nhất định suy yếu. Quân tinh nhuệ của Ngô thảy ở Tề, đại quân bị khốn ở Tấn còn nhà vua đánh nước yếu, như thế nước Ngô chắc chắn bị diệt.” Việt vương cả mừng, đồng ý, rồi đưa tặng Tử Cống trăm dật vàng, một thanh kiếm, hai cây giáo tốt. Tử Cống không nhận, lên đường.

Tử Cống về báo Ngô vương: “Thần cung kính dâng lời đại vương cho Việt vương, Việt vương cả sợ, nói: 'Cô bất hạnh, thuở nhỏ mất cha, không tự lượng sức, đắc tội với Ngô, quân thua thân nhục, co cụm ở Cối Kê, đất nước hoang tàn, nhờ đại vương ban tặng, để được phụng thờ tế tự, chết không dám quên, nào dám toan tính gì khác!'” Năm ngày sau, nước Việt sai quan đại phu Chủng dập đầu nói với Ngô vương: “Kẻ nô bộc do Câu Tiễn ở Đông Hải sai đến là Chủng, mạo muội xin thưa. Nay trộm nghe đại vương sắp vì đại nghĩa, đánh kẻ mạnh cứu nước yếu, vây khốn nước Tề hung bạo để vỗ về vương triều Chu, xin đem ba nghìn sĩ tốt trong nước, đích thân mặc giáp dày cầm vũ khí, đi trước chịu tên. Nhân đó, bề tôi hèn mọn là Chủng mang vũ khí do tiền nhân để lại gồm 20 bộ giáp sắt, dao lớn, giáo Khuất Lư, kiếm Bộ Quang để làm lễ chúc mừng quân đội.” Ngô vương cả mừng, nói với Tử Cống: “Việt vương muốn đích thân theo quả nhân đánh Tề, được không?” Tử Cống đáp: “Không được. Bởi nước Việt không người, ta đã tụ tập hết binh sĩ nước họ mà còn bắt Việt vương đi theo là bất nghĩa. Nhà vua đã nhận lễ vật của họ, hãy cho quân đội của họ đến, còn vua thì thôi.” Ngô vương đồng ý, bèn từ chối Việt vương. Thế rồi Ngô vương liền phát quân ở chín quận đi đánh Tề.

Tử Cống đến nước Tấn, nói với vua Tấn: “Thần nghe nói, việc không lo tính trước thì không thể ứng biến kịp, quân đội không dự phòng trước thì không thể thắng địch. Nay, Tề đánh nhau với Ngô, Ngô không thắng Tề thì nước Việt ắt loạn; nếu Ngô thắng Tề thi ắt kéo quân đánh Tấn.” Vua Tấn cả sợ, nói: “Phải làm thế nào?" Tử Cống đáp: “Luyện quân nuôi lính để đợi họ.” Vua Tấn đồng ý.

Tử Cống lại đến nước Lỗ. Quả nhiên Ngô vương đánh người Tề ở Ngải Lăng, đại phá quân Tề, bắt được bảy tướng mà không rút quân, lại đem quân đến Tấn, gặp người Tấn ở trên Hoàng Trì. Ngô và Tấn tranh cường. Quân Tấn ra đánh, cả phá quân Ngô. Việt vương hay tin, vượt sông đánh úp Ngô, đóng quân cách đô thành nước Ngô bảy dặm. Ngô vương biết chuyện, bỏ Tấn rút về, đánh nhau với quân Việt ở Ngũ Hồ. Đánh ba lần đều thua, không giữ được cổng thành, quân Việt liền bao vây cung Ngô, giết Phù Sai và Tướng quốc. Sau khi diệt Ngô được ba năm, nước Việt xưng bá ở phía đông.

Cho nên, Tử Cống xuất mã một lần mà bảo tồn được Lỗ, làm Tề hỗn loạn, phá tan nước Ngô, khiến Tấn hùng cường, giúp Việt thành bá chủ. Tử Cống đi sứ một lần khiến các thế lực cầm cự, trong vòng mười năm, năm nước đều có thay đổi.

Tử Cống thích buôn bán, tùy lúc chuyển vận hàng hóa; thích tán dương điểm tốt của người nhưng lại không biết che đi lỗi lầm của người. Từng làm tướng nước Lỗ và nước Vệ, gia sản có ngàn vàng, sau chết ở nước Tề.

Ngôn Yển

Ngôn Yển người nước Ngô, tự Tử Du, kém Khổng tử 45 tuổi. Tử Du sau khi theo học Khổng tử, làm quan tể ở Vũ Thành. Khổng tử đi qua, nghe tiếng đàn ca, mỉm cười nói: “Làm thịt gà cần gì dao mổ trâu?” Tử Du đáp: “Khi trước, Yển nghe phu tử bảo, người quân tử học đạo thì yêu người, kẻ tiểu nhân học đạo thì dễ sai khiến.” Khổng tử nói: “Này các trò, lời Yển nói đúng đấy. Trước ta chỉ đùa anh ta thôi.” Khổng tử cho Tử Du là người giỏi văn học.

Image

Bốc Thương

Bốc Thương tự Tử Hạ, kém Khổng tử 44 tuổi.

Tử Hạ hỏi: “[Kinh Thi viết]: Cười khéo miệng duyên, mắt đẹp lúng liếng, trên nền trắng lại điểm vẽ thêm, ý nói gì?” Khổng tử đáp: “Có nền trắng rồi mới điểm vẽ.” Hỏi: “Lễ sau chăng?” Khổng tử đáp: “Trò Thương bắt đầu có thể nói về Thi rồi đấy.”

Tử Cống hỏi: “Sư và Thương ai giỏi hơn?” Khổng tử đáp: “Sư còn mắc lỗi, Thương còn bất cập.” Hỏi: “Thế Sư hơn chăng?" Đáp: “Lỗi thì cũng như bất cập.”

Khổng tử nói với Tử Hạ: “Con hãy làm nhà nho quân tử, chớ làm nhà nho tiểu nhân.”

Khổng tử mất rồi, Tử Hạ dạy học ở Tây Hà, làm thầy Ngụy Văn đế. Con chết, Tử Hạ khóc mù cả đôi mắt.

Chuyên Tôn Sư

Chuyên Tôn Sư người đất Trần, tự Tử Trương, kém Khổng tử 48 tuổi.

Tử Trương hỏi việc cầu bổng lộc, Khổng tử đáp: “Nghe nhiều và thận trọng với những điều đã nghe, như thế ít lỗi lầm; thấy nhiều và thận trọng với những việc mình làm, như thế ít hối hận. Lời nói ít lỗi lầm, việc làm ít hối hận, lộc ở chính chỗ ấy vậy.”

Lần nọ Tử Trương theo Khổng tử đến vùng Trần-Sái, bị vây khốn, hỏi cách đi, Khổng tử đáp: “Nói lời trung tín, hành vi thành kính, tuy vào nước man muội cũng thông; lời nói không trung tín, làm việc chẳng thành kính, dù trong châu trong làng liệu đi được chăng? Khi đứng thì thấy trung tín thành kính ở ngay trước mặt, khi ngồi xe lại thấy như ở ngay càng xe, thế thì sau đó mới đi được.” Tử Trương bèn chép những lời ấy vào dải áo.

Tử Trương hỏi: “Kẻ sĩ như thế nào được coi là thông đạt?” Khổng tử đáp: “Cái mà con cho là thông đạt là như thế nào?” Tử Trương đáp: “Ở trong nước ắt có tiếng tăm, ở gia ấp ắt có tiếng tăm.” Khổng tử nói: “Đó là có tiếng tăm thôi chứ không phải thông đạt. Người thông đạt thì chính trực thích điều nghĩa, xét lời nói rồi xem nét mặt, khiêm nhượng với kẻ dưới, như thế ở trong nước hay gia ấp đều coi là thông đạt. Người có tiếng tăm thì sắc mặt như theo điều nhân mà hành vi lại trái, nhưng vẫn tin mình có lòng nhân, như thế ở trong nước hay gia ấp ắt có tiếng tăm cả.”

Tăng Sâm

Tăng Sâm người Nam Vũ Thành, tự Tử Dư, kém Khổng tử 46 tuổi.

Image

Khổng tử cho Tăng Sâm là người biết giữ đạo hiếu, cho nên truyền dạy. Ông soạn sách Hiếu kinh. Chết ở nước Lỗ.

Đạm Đài Diệt Minh

Đạm Đài Diệt Minh người Vũ Thành, tự Tử Vũ, kém Khổng tử 39 tuổi.

Đạm Đài Diệt Minh mặt mày hung tợn, muốn thờ Khổng tử làm thầy, Khổng tử cho là tư chất kém. Sau khi thụ nghiệp, lui về tu dưỡng đức hạnh, không đi đường nhỏ[10], không phải việc công không gặp quan khanh đại phu.

Đạm Đài Diệt Minh du ngoạn phía nam, đến Trường Giang, đệ tử đi theo đến ba trăm người, hành vi đích đáng, nổi danh chư hầu. Khổng tử biết chuyện, nói: “Ta dựa lời nói để chọn người nên nhìn nhầm Tể Dư; theo dáng vẻ để chọn người mà nhầm mất Tử Vũ.”

Mật Bất Tề

Mật Bất Tề tự Tử Tiện, kém Khổng tử 30 tuổi.

Khổng tử bảo: “Tử Tiện thực quân tử thay! Nếu nước Lỗ không có quân tử thì Tử Tiện học được từ đâu?”

Tử Tiện làm quan tể ấp Đan Phụ, về nói với Khổng tử: “Đất này có năm người hiền như Bất Tề, họ dạy Bất Tề về cách cai trị.” Khổng tử nói: “Tiếc thay Bất Tề cai trị vùng đất nhỏ, chỗ cai trị rộng lớn thì đáng kỳ vọng hơn vậy.”

Nguyên Hiến

Nguyên Hiến tự Tử Tư.

Tử Tư hỏi về sự hổ thẹn, Khổng tử đáp: “Nước có đạo thì làm quan hưởng lộc; nước vô đạo mà làm quan hưởng lộc, đó là hổ thẹn vậy.”

Tử Tư hỏi: “Biết kiềm chế để không hiếu thắng, không tự kiêu, không oán hận và không ham muốn, như thế có phải là nhân chăng?” Khổng tử đáp: “Như thế là khó lắm rồi, có phải nhân hay không thì ta không biết.”

Khổng tử mất, Nguyên Hiến liền ẩn cư nơi đầm cỏ. Tử Cống làm Tướng quốc nước Vệ, đi hàng đoàn xe tử mã, mở cổng cỏ lá vào căn nhà tồi tàn thăm Nguyên Hiến. Hiến xốc lại mũ áo cũ rách ra gặp Tử Cống. Tử Cống xấu hổ, nói: “Ôi, bác há lại khốn cùng đến thế này ư?” Nguyên Hiến đáp: “Tôi nghe nói, không có của cải gọi là nghèo, học đạo mà không thể thi hành gọi là khốn cùng. Như Hiến này là nghèo, không phải khốn cùng vậy.” Tử Cổng thẹn, buồn bã ra về, trọn đời xấu hổ vì mình đã lỡ lời.

Công Dã Tràng

Công Dã Tràng người nước Tề, tự Tử Trường. Khổng tử nói: “Có thể gả con cho Tràng, tuy bị trói buộc trong chốn ngục tù, đó cũng không phải tội của Tràng vậy.” Thế rồi gả con gái cho.

Nam Cung Quát

Nam Cung Quát tự Tử Dung.

Nam Cung Quát hỏi Khổng tử: “Sao Nghệ giỏi bắn cung, Ngạo thạo thủy chiến, cả hai đều không toàn mạng; còn ông Vũ, ông Tắc đích thân trồng lúa lại có cả thiên hạ?” Khổng tử không đáp. Tử Dung đi ra, Khổng tử nói: “Người này quân tử thay! Người này chuộng đức thay!” “Nước có đạo chẳng bị bỏ phế, nước vô đạo không bị sát hại.” Tử Dung nhiều lần tụng đọc câu thơ “Bạch khuê chi điếm”[11], Khổng tử đem con gái của anh trai mình gả cho.

Công Tích Ai

Công Tích Ai tự Quý Thứ.

Khổng tử nói: “Kẻ sĩ trong thiên hạ không có đức hạnh, phần nhiều làm gia thần hay làm quan ở các đô ấp; duy Quý Thứ là chưa từng làm quan.”

Tăng Điểm

Tăng Điểm tự là Tích.

Tăng Điểm theo hầu Khổng tử, Khổng tử nói: “Hãy nói về chí của mình.” Điểm thưa: “Quần áo mùa xuân đã may xong, cùng dăm sáu người tuổi đôi mươi, sáu bảy đứa trẻ, tắm trên sông Nghi, hóng gió ở đài Vũ Vu, cùng ca hát rồi kéo nhau về.” Khổng tử bùi ngùi nói: “Chí ta cũng giống trò Điểm vậy.”

Nhan Vô Diêu

Nhan Vô Diêu tự là Lộ. Lộ là cha của Nhan Hồi, cha con theo học Khổng tử vào các thời kỳ khác nhau.

Nhan Hồi chết đi, Nhan Lộ nghèo khó, bèn xin Khổng tử bán xe đang đi lấy tiền mai táng. Khổng tử nói: “Có tài hay không cũng là con mình. Thằng Lý[12] chết, có quan mà không có quách, ta không thể đi bộ để lấy tiền mua quách, vì ta từng làm quan đại phu, cho nên không thể đi bộ được.”

Thương Cù

Thương Cù người nước Lỗ, tự Tử Mộc, kém Khổng tử 29 tuổi. Khổng tử truyền [Kinh] Dịch cho Cù, Cu truyền lại cho Hãn Tý Tử Hoằng người nước Sở, Hoằng truyền cho Kiều Tử Dung là Tỳ người Giang Đông, Tỳ truyền cho Chu Tử Gia là Thụ người nước Yên, Thụ truyền cho Quang Tử Thừa là Vũ người ở Thuần Vu, Vũ truyền cho Điện Tử Trang là Hà người nước Tề, Hà truyền cho Vương Tử Trung là Đồng người Đông Vũ, Đồng truyền cho Dương Hà người ở Truy Xuyên. Thời Nguyên Sóc[13], Dương Hà nhờ nghiên cứu Dịch nên được làm Trung đại phu triều Hán.

Cao Sài

Cao Sài tự Tử Cao, kém Khổng tử 30 tuổi. Tử Cao cao chưa đến năm thước, theo học Khổng tử, Khổng tử cho là tối dạ.

Tử Lộ sai Tử Cao làm quan tể ở ấp Phí và ấp Hậu, Khổng tử nói: “Hai con em người ta đấy!” Tử Lộ thưa: “Có dân chúng ở đấy, có thần xã thần tắc ở đấy, đâu nhất thiết phải đọc sách mới là có học” Khổng tử nói: “Thế nên ta ghét kẻ xảo biện.”

Tất Điêu Khai

Tất Điêu Khai tự là Tử Khai. Khổng tử sai Khai đi làm quan, đáp rằng: “Con chưa tự tin về việc ấy.” Khổng tử lấy làm vui.

Công Bá Liễu

Công Bá Liễu tự Tử Chu.

Chu gièm Tử Lộ với họ Quý Tôn, Tử Phục Cảnh Bá nói với Khổng tử, rằng: “Phu tử [Quý Tôn] vốn có ý ngờ Tử Lộ, với Liễu, tôi đủ sức bêu thây y giữa chợ hoặc triều đình.” Khổng tử nói: “Đạo được thi hành do mệnh, đạo bị phế bỏ cũng do mệnh. Công Bá Liễu làm gì được mệnh”

Tư Mã Canh

Tư Mã Canh tự Tử Ngưu.

Ngưu lắm lời mà nóng vội, hỏi Khổng tử về đức nhân, Khổng tử đáp: “Người nhân nói lời cẩn trọng.” Hỏi: “Lời nói cẩn trọng sao gọi là nhân?” Khổng tử đáp: “Làm được mới khó, lời nói có thể không cẩn trọng ư?”

Hỏi về quân tử, Khổng tử đáp: “Quân tử không lo không sợ.” Hỏi: “Không lo không sợ, sao gọi là quân tử?” Khổng tử đáp: “Tự xét lòng mình không thấy hổ thẹn, đâu cần lo sợ gì nữa.”

Phàn Tu

Phàn Tu tự Tử Trì, kém Khổng tử 36 tuổi.

Phàn Trì xin học làm ruộng, Khổng tử nói: “[Cái đó] ta không bằng lão nông." Xin học làm vườn, Khổng tử nói: “Ta không bằng ông lão làm vườn.” Phàn Trì đi ra, Khổng tử nói: “Tiểu nhân thay, Phàn Tu! Người trên ham lễ thì dân không ai không kính; người trên ham nghĩa thì dân không ai không phục; bề trên ham tín thì dân không ai không thực lòng. Làm được thế thì dân chúng bốn phương địu cõng con mà đến, sao phải học làm ruộng.”

Phàn Trì hỏi về đức nhân, Khổng tử đáp: “Yêu người.” Hỏi về đức trí, đáp: “Biết người.”

Hữu Nhược

Hữu Nhược kém Khổng tử 43 tuổi. Hữu Nhược nói: “Chỗ dụng của lễ, lấy hòa làm quý, đạo của tiên vương coi đó là tốt đẹp. Lớn nhỏ đều theo đó, có điều không thi hành; biết hòa mà hòa, không dùng lễ tiết chế, thì không thi hành được.” “Đức tín gần với điều nghĩa, lời nói có thể kiểm chứng; cung kính gần với lễ tiết, tránh xa được điều sỉ nhục; nhờ đó không mất chỗ thân cận, mà cũng có thể trông cậy được.”

Khổng tử mất rồi, học trò thương nhớ, dung mạo Hữu Nhược giống Khổng tử, các học trò cùng tôn lên làm thầy, phụng thờ như khi phu tử còn sống. Một hôm, học trò đến trước mặt hỏi: “Xưa, phu tử còn sống, sai các học trò cầm đồ hứng mưa, thế rồi mưa thật, học trò hỏi: 'Sao phu tử biết trời sẽ mưa', phu tử đáp: Kinh Thi chẳng nói đấy ư? 'Trăng dời đến Tất, khiến đổ mưa to. Đêm qua chẳng phải trăng ở vị trí sao Tất ư?' Hôm khác, trăng ở vị trí sao Tất trời lại không mưa. Thương Cù tuổi đã cao mà chưa có con, bà mẹ bèn cưới cho cô vợ khác. Khổng phu tử sai Cù đến Tề, bà mẹ xin cho ở lại, phu tử nói: 'Đừng lo, sau tuổi bốn mươi sẽ có năm con trai.’ Sau đúng như lời. Dám hỏi, sao phu tử biết những việc đó?” Hữu Nhược lặng im không đáp. Học trò đứng dậy nói: “Hữu tử tránh ra, đây không phải chỗ anh ngồi đâu!”

Công Tây Xích

Công Tây Xích tự Tử Hoa, kém Khổng tử 42 tuổi.

Tử Hoa đi sứ nước Tề, Nhiễm Hữu xin thóc cho mẹ Tử Hoa, Khổng tử nói: “Cho một phủ”[14]. Lại xin thêm, Khổng tử nói: “Cho một dữu.”[15] Nhiễm tử mang cho năm thưng. Khổng tử nói: “Trò Xích đang ở nước Tề, cưỡi ngựa béo khỏe, mặc áo cừu nhẹ. Ta nghe quân tử giúp người khốn quẫn chứ không khiến người giàu thêm.”

Vu Mã Thi

Vu Mã Thi tự Tử Kỳ, kém Khổng tử 30 tuổi.

Quan Ty bại đất Trần hỏi Khổng tử: “Lỗ Chiêu cũng biết lễ chăng?" Khổng tử đáp: “Biết lễ.” Trần Ty bại lui xuống, vái chào Vu Mã Kỳ, nói: “Tôi nghe quân tử thì không a dua, quân tử mà cũng a dua ư? Vua Lỗ lấy người con gái nước Ngô làm phu nhân, đặt tên là Mạnh Tử. Mạnh Tử họ Cơ, nói tránh vì cùng họ, nên gọi là Mạnh Tử. Vua Lỗ mà biết lễ, ai là không biết lễ!” Thi nói lại với Khổng tử, Khổng tử nói: “Khâu này thực may, nếu có lỗi ắt người nói cho biết. Bề tôi không thể nói ra lầm lỗi của vua, vì thế phải tránh, đó là lễ vậy.”

- Lương Chiên, tự Thúc Ngư, kém Khổng tử 29 tuổi.

- Nhan Hạnh, tự Tử Liễu, kém Khổng tử 46 tuổi.

- Nhiễm Nhụ, tự Tử Lỗ, kém Khổng tử 50 tuổi.

- Tào Tuất, tự Tử Tuần, kém Khổng tử 50 tuổi.

- Bá Kiện, tự Tử Tích, kém Khổng tử 50 tuổi.

- Công Tôn Long, tự Tử Thạch, kém Khổng tử 53 tuổi.

Từ Tử Thạch trở lên gồm 35 người, có tên tuổi rõ ràng và việc theo học Khổng tử được chép trong sách vở. Ngoài ra, 42 người dưới đây không biết tuổi, cũng không thấy chép trong sách vở.

- Nhiễm Quý, tự Tử Sản.

- Công Tổ Cú Tư, tự Tử Chi.

- Tần Tổ, tự Tử Nam.

- Tất Điêu Xa, tự Tử Liễm.

- Nhan Cao, tự Tử Kiêu.

- Tất Điêu Đồ Phủ.

- Nhưỡng Tứ Xích, tự Tử Đồ.

- Thương Trạch.

- Thạch Tác Thục, tự Tử Minh.

- Nhậm Bất Tề, tự là Tuyển.

- Hậu Xứ, tự Tử Lý.

- Tần Nhiễm, tự là Khai.

- Công Hạ Thủ, tự là Thừa.

- Hề Dung Châm, tự Tử Tích.

- Công Kiên Định, tự Tử Trung.

- Nhan Tử, tự là Tương.

- Khiêu Đan, tự Tử Gia.

- Cú Tỉnh Cương.

- Hãn Phủ Hắc, tự Tử Sách.

- Công Lương Nhụ, tự Tử Chính.

- Tần Thương, tự Tử Phi.

- Thân Đảng, tự là Chu.

- Vinh Kỳ, tự Tử Kỳ.

- Huyện Thành, tự Tử Kỳ.

- Tả Nhân Dĩnh, tự là Hành.

- Yên Cấp, tự là Tư.

- Trịnh Quốc, tự Tử Đồ.

- Tần Phi, tự Tử Chi.

- Nhan Chi Bộc, tự là Thúc.

- Thi Chi Thường, tự Tử Hằng.

- Nhan Khoái, tự Tử Thanh.

- Bộ Thúc Thừa, tự Tử Xa.

- Nguyên Cang Tịch.

- Nhạc Khái, tự Tử Thanh

- Liêm Khiết, tự là Dung.

- Thúc Trọng Hội, tự Tử Kỳ.

- Nhan Hà, tự là Nhiễm.

- Địch Hắc, tự là Tích.

- Bang Tổn, tự Tử Liễm.

- Khổng Trung.

- Công Tây Dư Như, tự Tử Thượng.

- Công Tây Châm, tự Tử Thượng.

Thái sư công bàn rằng: Kẻ học phần nhiều nói đến 70 học trò của Khổng tử, người tán dương thì nói quá sự thực, kẻ hủy báng thì làm sai lệch sự thực, họ đều chưa tận mắt nhìn thấy dung mạo, vậy bàn về thư tịch nói tới các học trò thì cổ văn của họ Khổng[16] là gần sự thực. Ta ghi họ tên, đoạn văn... đều trích từ các đoạn đệ tử hỏi trong Luận ngữ, lần lượt biên chép lại, chỗ nào còn ngờ thì để trống.

[1] Sư: tức Tử Trương.

[2] Sâm: tức Tăng Sâm.

[3] Sài: tức Cao Sài.

[4] Do: tức Trọng Do.

[5] Hồi: tức Nhan Hồi.

[6] Tứ: tức Tử Cống.

[7] Ý nói có thể làm được đến khanh đại phu.

[8] Ý nói mới nhập môn làm học trò chứ chưa học được cái đạo học của thầy.

[9] Cô: từ vua thời xưa dùng để tự khiêm xưng.

[10] Ý nói quang minh chính trực.

[11] Tì vết của viên ngọc khuê trắng.

[12] Lý: tức Khổng Lý, con trai Khổng tử.

[13] Niên hiệu của Hán Vũ đế, từ năm 128 tr.CN đến năm 123 tr.CN.

[14] Phủ: đồ để đong, bằng 6 đấu 4 thăng.

[15] Dữu: bằng 16 đấu.

[16] Chỉ sách Luận ngữ.

Phạm Văn Ánh (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.