Thái sử công bàn rằng: Ta đọc sách Mạnh tử, đến đoạn Lương Huệ vương hỏi: “Làm thế nào để lợi cho nước tôi?” chưa từng không buông sách mà than rằng: Ôi, lợi đúng là khởi đầu của loạn! Khổng phu tử ít nói về lợi, luôn phòng gốc của loạn. Cho nên nói: “Cứ buông thả làm theo lợi thì nhiều oán.” Từ thiên tử đến thứ dân, cái tệ hám lợi có khác gì nhau đâu!
Mạnh Kha
Mạnh Kha người nước Trâu, theo học học trò của Tử Tư[1]. Đạo đã thông hiểu, xuất du thờ Tề Tuyên vương, Tuyên vương không thể dùng. Đến Lương, Lương Huệ vương không theo điều [Mạnh Kha] nói, cho lời ông là xa xôi, viển vông, không sát thực tế. Bấy giờ, Tần dùng Thương Ưởng, nước mạnh binh hùng; Sở và Ngụy dùng Ngô Khởi, chiến thắng, làm yếu nước địch; Tề Uy vương, Tuyên vương dùng Tôn tử, Điền Kỵ, mà chư hầu quay mặt về đông chầu Tề. Thiên hạ đương chuộng hợp tung, liên hoành để đánh nhau, coi thế là giỏi, còn Mạnh Kha lại thuật theo đức trị thời Đường Ngu, Tam đại, cho nên đến đâu cũng không hợp. Ông lui về cùng bọn Vạn Chương sắp xếp trật tự Thi, Thư, thuật lại ý Trọng Ni, làm sách Mạnh tử gồm bảy thiên. Sau ông có bọn Trâu tử.
_h9.jpg)
Trâu Diễn
Tề có ba vị Trâu tử. Trước có Trâu Kỵ, nhờ giỏi đàn cầm cầu kiến Uy vương, được nắm quốc chính, phong làm Thành hầu, được lãnh ấn tướng, trước thời Mạnh tử.
Kế đó là Trâu Diễn, sau thời Mạnh tử. Trâu Diễn thấy kẻ có quốc gia[2] ngày càng hoang dâm xa xỉ, không thể chuộng đức, như Đại nhã đòi hỏi phải tu thân sau mới thi hành cho lê dân được. Bèn quan sát kỹ lưỡng sự tiêu vong, tăng trưởng của âm dương, rồi ghi lại biến hóa quái đản quanh co, như thiên “Chung thủy”, “Đại thánh”, trên mười vạn chữ. Lời văn rộng lớn, không theo lẽ thường, trước ắt nghiệm từ vật nhỏ, sau mới suy ra vật lớn, suy rộng vô cùng. Trước theo trình tự thời nay, sau truy tận thời Hoàng Đế, học giả cùng chung thuật đó, đại để nhân thời suy thịnh, ghi chép điềm lành dữ và chế độ các đời, suy xa vô hạn, đến tận khi trời đất chưa sinh, mờ mịt không thể khảo được nguồn gốc. Trước tiên liệt kê núi cao sông lớn, hang hốc cầm thú, các loại thủy thổ sinh ra, đồ trân quý trong vạn vật ở Trung quốc, nhân đó mở rộng tận ngoài biển khơi, nơi con người không trông thấy. Cho rằng trời đất chia tách đến nay, năm đức vận hành biến đổi, cai trị các đời thảy đều thuận ứng cùng sự vận hành biến đổi đó. Cái nhà nho gọi là Trung quốc, chỉ chiếm một phần tám mươi mốt của thiên hạ. Trung quốc gọi là Xích huyện Thần châu. Trong Xích huyện Thần châu có chín châu, thứ tự chín châu của vua Vũ không thuộc số châu này. Ngoài Trung quốc có chín chỗ như Xích huyện Thần châu, gọi là chín châu. Ở đó có biển nhỏ bao bọc, người dân và cầm thú chẳng thể sang nhau như trong một khu, đó là một châu. Chín châu như thế có biển lớn bao bên ngoài, là chỗ tiếp giáp trời đất. Cái thuật của ông đại khái như thế. Nhưng nếu chung quy lại ắt dừng ở nhân nghĩa tiết kiệm, vua tôi trên dưới cho đến lục thân[3] thi hành đầu tiên, nhưng rất viển vông. Vương công đại nhân thấy thuật đó lần đầu, lưu tâm cảm hóa theo, sau không thể thi hành.
Nhờ thế Trâu tử được trọng đãi ở Tề. Sang Lương, Lương Huệ vương nghênh đón ngoài thành, giữ lễ chủ khách. Đến Triệu, Bình Nguyên quân nghiêng mình mà đi, dùng áo lau chỗ. Tới Yên, Chiêu vương dùng chổi quét trước mở đường, xin được ngồi chung các học trò để theo học, xây cung Kiệt Thạch, đích thân đến đón rồi tôn làm thầy. Viết thiên “Chủ vận”. Ông du thuyết chư hầu, được kính lễ đến thế, há giống Trọng Ni bị đói ở Trần và Sải, Mạnh Kha bị khốn ở Tề và Lương ư? Cho nên, Vũ vương dùng nhân nghĩa đánh vua Trụ rồi xưng vương Bá Di dù chết đói cũng không ăn thóc nhà Chu; Vệ Linh công hỏi chuyện bày trận, Khổng tử không đáp; Lương Huệ vương tính mưu đánh Triệu, Mạnh Kha liền nói việc [Chu] Thái vương ra đất Bân. Những chuyện ấy đâu phải a dua thói đời để mong hợp ý vua. Cầm cán vuông muốn tra vào lỗ tròn, có vào được không? Có người nói, Y Doãn cõng vạc khuyên Thành Thang hoàn thành vương nghiệp, Bách Lý Hề cho trâu ăn dưới xe giúp Tần Mục Công thành tựu nghiệp bá, trước tiên phải hợp ý vua, sau dẫn dắt bằng đạo lớn. Lời Trâu Diễn tuy không theo khuôn phép, nhưng cũng có ý như chuyện chăn trâu, cõng vạc chăng?
Từ Trâu Diễn đến các tiên sinh Tắc Hạ của Tề như bọn Thuần Vu Khôn, Thận Đáo, Hoàn Uyên, Tiếp tử, Điền Biền, Trâu Thích, ai cũng viết sách, bàn việc trị loạn, để tấn kiến vua, há kể xiết được!
Thuần Vu Khôn
Thuần Vu Khôn người nước Tề, nghe rộng nhớ nhiều, học khắp các nhà. Về can gián du thuyết, hâm hộ người như Yến Anh, nhưng chuộng việc đón ý, quan sát sắc mặt. Khách có người đưa Khôn yết kiến Lương Huệ vương, Huệ vương đuổi tả hữu, ngồi một mình tiếp kiến hai lần, rốt cuộc [Thuần Vu Khôn] không nói gì. Huệ vương thấy lạ, trách khách rằng: “Ông khen Thuần Vu tiên sinh, cho Quản Trọng, Yến Anh cũng không bằng, khi gặp quả nhân, quả nhân chưa nghe gì hết. Hay quả nhân không đáng để nói? Tại sao vậy?” Khách nói lại Khôn, Khôn bảo: “Đúng thế. Lần trước yết kiến đại vương, chí của đại vương ở việc ruổi xe đi săn, lần sau chí của đại vương lại để ở thanh âm, nên tôi không nói.” Khách báo lại nguyên văn với Huệ vương, vương sửng sốt, nói: “Ôi chao, Thuần Vu tiên sinh thực là thánh nhân vậy! Lần trước Thuần Vu tiên sinh đến, có người dâng ngựa tốt, quả nhân chưa kịp xem, đúng lúc tiên sinh đến. Lần sau tiên sinh đến, có người dâng con hát, chưa kịp nghe thử, cũng đúng lúc tiên sinh đến. Quả nhân tuy đuổi kẻ hầu, nhưng lòng riêng vẫn để ở những thứ đó, quả có điều ấy.” Sau Thuần Vu Khôn yết kiến, nói liền ba ngày ba đêm không mệt. Huệ vương muốn đem địa vị khanh tướng trao cho, Khôn từ chối ra đi. Thế là tặng xe êm bốn ngựa kéo, tặng lụa bạch, ngọc bích cùng trăm dật vàng ròng. Khôn trọn đời không làm quan.
Thận Đáo, Điền Biền, Tiếp tử, Hoàn Uyên
Thận Đáo người Triệu; Điện Biên, Tiếp tử người Tề; Hoàn Uyên người Sở, đều theo thuật đạo đức của Hoàng - Lão, nhân đó xiển phát giảng giải những điều sở đắc thuật đó. Cho nên Thận Đáo làm mười hai phần luận, Hoàn Uyên viết thượng và hạ thiên, còn Điện Biên, Tiếp tử đều có luận thuật riêng.
Trâu Thích
Trâu Thích là một trong các Trâu tử ở nước Tề, phần lớn tiếp thu thuật của Trâu Diễn để viết văn.
Vì thế Tề vương khen ngợi, từ hạng Thuần Vu Khôn trở xuống, đều gọi là liệt đại phu, làm phủ đệ khang trang bên đường lớn, cổng cao nhà lớn, để tôn sùng. Đón tiếp tân khách từ chư hầu, nói Tề là nơi thu hút hiền sĩ thiên hạ.
Tuân Khanh
Tuân Khanh người Triệu. Năm mươi tuổi mới đến du học nước Tề. Thuật của Trâu Diễn không thực tế mà biện bác rộng; Trâu Thích văn chương hoàn bị nhưng khó thi thố; Thuần Vu Khôn phải ở lâu dần, mới thấy ý hay trong đó. Cho nên người Tề có câu: “Diễn nói trời, Thích chạm rồng, Khôn hơ dầu xe[4]”. Bọn Điền Biền đều đã chết. Thời Tề Tương Vương, Tuân Khanh là học giả cao niên nhất. Tề tôn trọng, bổ khuyết vào hàng liệt đại phu, Tuân Khanh ba lần làm Tế tửu. Có người Tề gièm Tuân Khanh, Tuân Khanh bèn sang Sở, Xuân Thân quân phong làm Lan Lăng lệnh. Xuân Thân quân chết, Tuân Khanh liền bị bãi chức, nhân đó dựng nhà ở Lan Lăng. Lý Tư từng là học trò ông, sau làm Thừa tướng nước Tần. Tuân Khanh ghét chính trị đời ô trọc, nước mất vua loạn liên tiếp, không theo đạo lớn, chuộng việc bói toán, tin điềm lành dữ, đám bỉ nho câu nệ tiểu tiết, như bọn Trang Chu lại theo lối khôi hài làm loạn thế tục, ông bèn suy cứu hành vi cùng chuyện thịnh suy của Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, chỉnh lý sắp xếp viết thành trước tác mấy vạn chữ rồi chết. Nhân đó táng tại Lan Lăng.
Còn ở Triệu cũng có Công Tôn Long, biện bác sự giống khác của “kiên bạch”[5], có lời Kịch tử; Ngụy có Lý Khôi, chủ việc giáo hóa cần dốc hết tiềm lực vùng đó; Sở có Thi tử, Trường Lư, ấp A có Hu tử. Từ Mạnh tử đến Hu tử, người đời đều có sách của họ, nên không luận bàn thêm nữa.
Mặc Địch, đại phu nước Tống, giỏi phòng ngự, biết tiết kiệm. Có người cho ông cùng thời Khổng tử, có người nói đời sau.
[1] Tử Tư: cháu nội của Khổng tử.
[2] Ý nói các ông vua đương thời.
[3] Lục thân: có nhiều quan niệm khác nhau song chung quy đều chỉ những người thân thiết trong gia đình như cha, mẹ, vợ, con...
[4] Bầu đựng dầu xe tuy cạn, nhưng hơ nóng thì dầu lại chảy ra. Đây ý nói Thuần Vu Khôn tri thức phong phú, không thể cùng kiệt.
[5] Kiên bạch: cứng và trắng. Công Tôn Long biện bác về "kiên" (cứng) và "bạch" (trắng), cho rằng cứng là dựa xúc giác mà biết, trắng là dựa vào thị giác mà biết, cho nên hai cái đó không thể đồng thời tồn tại.