Hoài Âm hầu Hàn Tín, người Hoài Âm. Ban đầu khi còn mặc áo vải, nghèo không giữ đức hạnh, không được cất nhắc làm quan, lại không biết buôn bán mưu sinh, thường theo người để được ăn uống, ai nấy đều chán ghét. Nhiều lần theo Đình trưởng Nam Xương ở Hạ Hương để kiếm miếng ăn, được mấy tháng, vợ Đình trưởng lo phiền, bèn nấu cơm từ sáng sớm, lên giường ăn. Đang ăn thì Tín tới, không cho cùng ăn. Tín cũng biết ý, giận, tuyệt giao rồi đi.
Tín câu cá dưới thành, các bà đến đó đập vải, có một người thấy Tín đói, cho Tín ăn mấy mươi ngày đến khi đập vải xong. Tín mừng, bảo người đàn bà đập vải rằng: “Tôi nhất định có trọng lễ báo đáp bà.” Người đàn bà giận nói: “Đại trượng phu không thể tự kiếm miếng ăn, ta thương xót nên mời ăn, há mong báo đáp ư?”
Trong đám đồ tể ở Hoài Âm Có chàng nọ khinh Tín, nói: “Mày tuy cao lớn, thích đeo dao kiếm, trong lòng lại khiếp nhược.” Sỉ nhục Tín trước mặt mọi người: “Tín, mày không sợ chết, hãy đâm tao, còn sợ chết, hãy luồn qua háng tao.” Thế là Tín nhìn hắn chằm chằm, rạp mình bỏ qua háng. Người trong chợ đều cười Tín, cho là nhát gan.
_h12.jpg)
Khi Hạng Lương qua sông Hoài, Tín chống kiếm đi theo, đứng dưới cờ, không ai biết đến. Hạng Lương thất bại, lại theo Hạng Vũ, Vũ cho làm Lang trung. Nhiều lần dâng kế cho Hạng Vũ, Vũ không dùng. Hán vương vào đất Thục, Tín trốn Sở về Hán, chưa được ai biết đến, làm chức Liên ngao[1]. Phạm tội đáng chém, mười ba người cùng phạm tội đã bị chém, đến lượt Tín, Tín ngẩng đầu nhìn lên, đúng lúc thấy Đằng công, bèn hỏi: “Hoàng thượng không muốn có thiên hạ ư? Sao lại chém tráng sĩ?" Đằng Công nghe vậy lấy làm lạ, thấy dung mạo hiên ngang, thả ra không chém nữa. Cùng nói chuyện, rất thích Tín. Tâu lên Hoàng thượng, Hoàng thượng phong làm Đô úy coi việc thóc lúa, chưa thấy có tài gì lạ.
_h13.jpg)
Tín nhiều lần nói chuyện với Tiêu Hà, Hà cho là kỳ tài. Đến Nam Trịnh, các tướng đi đường trốn mấy chục người, Tín thấy bọn Hà nhiều lần nói với Hoàng thượng, Hoàng thượng không dùng mình, liền trốn. Hà nghe tin Tín trốn, không kịp báo lại, đích thân đuổi theo. Có người nói với Hoàng thượng: “Thừa tướng Tiêu Hà bỏ trốn.” Hoàng thượng cả giận, thấy như mất tay trái tay phải. Được một hai hôm, Hà về yết kiến Hoàng thượng, Hoàng thượng vừa giận vừa mừng, mắng Hà rằng: “Sao ngươi bỏ trốn?” Hà đáp: “Thần không dám trốn, thần đuổi theo người bỏ trốn.” Hoàng thượng hỏi: “Ngươi đuổi theo ai?" Đáp: “Là Hàn Tín.” Hoàng thượng lại mắng: “Các tướng hàng chục người trốn, ngươi không đuổi bắt, lại đuổi theo Tín, nói láo.” Hà đáp: “Các tướng dễ tìm, còn Tín, là quốc sĩ vô song. Bệ hạ muốn làm vua mãi ở Hán Trung, không cần đến Tín; còn muốn tranh giành thiên hạ, không có Tín thì không ai để tính kế. Xin bệ hạ quyết định theo cách nào?” Nhà vua nói: “Ta cũng muốn sang đông, sao chịu ấm ức ở mãi chỗ này được.” Hà nói: “Bệ hạ quyết muốn sang đông, nếu dùng Tín, Tín sẽ ở lại, nếu không dùng, Tín ắt trốn thôi.” Hoàng thượng nói: “Ta nghe lời ông, cho làm tướng quân.” Hà nói: “Tuy làm tướng, Tín ắt không ở.” Hoàng thượng nói: “Cho làm đại tướng.” Hà đáp: “May quá!" Thế rồi Hoàng thượng muốn triệu Tín đến phong chức. Hà nói: “Bệ hạ vốn ngạo mạn không theo lễ, nay phong đại tướng như gọi đứa trẻ đến, như thế Tín sẽ bỏ đi. Bệ hạ muốn phong cho ông ta, cần chọn ngày lành, trai giới, lập đàn tràng, lễ nghi đầy đủ, như thế mới được.” Hoàng thượng đồng ý. Các tướng đều mừng, ai nấy như tự cho mình được làm đại tướng. Đến khi phong đại tướng, lại là Hàn Tín, toàn quân kinh ngạc.
Xong lễ phong, Tín từ trên đàn xuống ngồi, nhà vua hỏi: “Thừa tướng nhiều lần nói về tướng quân, tướng quân có kế gì dạy bảo quả nhân chăng?” Tín tạ từ, nhân đó hỏi nhà vua: “Nay sang đông tranh quyền thiên hạ, chẳng phải tranh với Hạng vương ư?” Hán vương đáp: “Đúng thế.” Tín nói: “Đại vương tự thấy dũng mãnh, hung tợn, nhân hậu, mạnh mẽ của mình so với Hạng Vương thế nào?” Hán vương ngồi lặng hồi lâu, nói: “Không bằng được.” Tín lại vái chúc mừng rằng: “Tín cũng cho đại vương không bằng. Nhưng thần từng thờ ông ta, xin nói con người Hạng vương. Hạng vương hò hét quát tháo, ngàn người khiếp sợ, nhưng không biết dùng tướng giỏi, đó là dũng của hạng thất phu thôi. Hạng vương gặp người thì cung kính mến yêu, lời nói ôn tồn, người nào đau ốm thì nhỏ nước mắt chia đồ ăn thức uống, còn người có công đáng được phong tước, ấn tín lại để mẻ sứt không ban cho, đó là lòng nhân của đàn bà vậy. Hạng vương tuy xưng bá thiên hạ, thần phục chư hầu, không ở Quan Trung mà đóng đô ở Bành Thành. Bội ước với Nghĩa đế, rồi phong vương cho thân tín, chư hầu bất bình. Chư hầu thấy Hạng vương đuổi Nghĩa đế ra Giang Nam, cũng đều về đuổi chúa mình, chiếm đất tốt tự lập làm vua. Những chỗ Hạng vương từng qua, không chỗ nào không tàn sát, thiên hạ ai oán, trăm họ không thân cận theo về, chỉ do khiếp sợ uy mãnh mà thôi. Danh nghĩa tuy là bá chủ, kỳ thực mất lòng thiên hạ. Nên nói ông ta mạnh mà dễ làm cho yếu. Nay nếu đại vương làm ngược lại cách của ông ta, trọng dụng dũng sĩ thiên hạ, đánh đâu chẳng diệt được! Đem thành ấp thiên hạ phong cho công thần, ai chẳng phục! Đem nghĩa binh cùng kẻ sĩ muốn về đông, chỗ nào chẳng đánh tan! Vả vua Tam Tần là tướng Tần, đem con em Tần chinh chiến mấy năm, giết người nhiều không kể xiết, lại lừa dối dân chúng đầu hàng chư hầu, đến Tân An, Hạng vương lừa chôn sống hơn hai mươi vạn hàng quân của Tần, chỉ có bọn Hàm, Hân, Ý thoát được, cha anh nước Tần oán ba người ấy, thấu tận xương tủy. Nay Sở mạnh dùng oai phong vương cho ba người, dân Tần không ai yêu họ. Đại vương vào Vũ Quan, tơ hào không phạm, trừ pháp luật hà khắc của Tần, ước định cùng dân Tần, pháp luật có ba chương, dân Tần không ai không muốn được đại vương làm vua Tần. Theo ước hẹn với chư hầu, đại vương đáng làm vua ở Quan Trung, dân Quan Trung đều biết việc ấy. Đại vương mất chức phải vào Hán Trung, dân Tần không ai không tiếc. Nay đại vương cất quân sang đông, Tam Tần có thể truyền hịch mà bình định được.” Thế là Hán vương cả mừng, tự cho gặp Tín quá muộn. Bèn theo kế của Tín, bố trí các tướng chuẩn bị đánh.
Tháng Tám, Hán vương cất quân từ Trần Thương sang đông, bình định Tam Tần. Hán vương năm thứ hai, ra cửa Hàm Cốc, thu đất Ngụy và Hà Nam, Hàn và Ân vương đều hàng. Hợp quân cùng Tề và Triệu đánh Sở. Tháng Tư, đến Bành Thành, quân Hán thua, tan chạy. Tín thu lại quân, cùng Hán vương hội quân ở Huỳnh Dương, lại đánh phá đất vùng Kinh và Sách của Sở, vì thế quân Sở không thể tiến sang tây.
Hán vương thua ở Bình Thành, Tái vương là Hân, Địch vương là Ế bỏ Hán hàng Sở, Tề và Triệu cũng phản Hán hòa với Sở. Tháng Sáu, Ngụy vương là Báo xin về thăm cha mẹ ốm, đến nước, liền phong tỏa cửa sông Hoàng Hà rồi phản Hán, nghị hòa với Sở. Hán vương sai Lịch sinh thuyết phục Báo, không được. Tháng Tám, phong Tín làm Tả thừa tướng, đánh Ngụy. Ngụy vương đem nhiều quân đến Bồ Bản, chặn Lâm Hán, Tín bèn làm kế nghi binh, bày thuyền như muốn sang Lâm Tấn, còn phục binh từ Hạ Dương dùng thùng gỗ đưa quân sang sông, đánh úp An Ấp. Ngụy vương là Báo kinh sợ, dẫn quân nghênh địch với Tín, Tín bắt sống Báo, bình định đất Ngụy, lập thành quận Hà Đông. Hán vương sai Trương Nhĩ và Tín, cùng dẫn quân sang đông, lên bắc đánh Triệu, Đại. Sau tháng Chín, phá được quân Đại, bắt được Hạ Duyệt ở Ất Dự. Tín hạ được Ngụy, phá được Đại, Hán liền sai người thu lấy tinh binh, kéo đến Huỳnh Dương để cự với Sở.
Tín cùng Trương Nhĩ đem mấy vạn quân, muốn sang đông xuống Tỉnh Hình đánh Triệu. Triệu vương và Thành An quân Trần Dư nghe tin Hán sắp đánh úp, tập trung quân ở cửa khẩu Tỉnh Hình, phao lên có hai mươi vạn quân. Quảng Vũ quân là Lý Tả Xa nói với Thành An quân rằng: “Nghe tướng Hán là Hàn Tín vượt Tây Hà, bắt sống Ngụy vương, tóm được Tây Duyệt, huyết chiến ở Át Dự, nay có Trương Nhĩ phụ giúp, bàn muốn hạ Triệu, đó là thừa thắng rời nước đi đánh xa, tiên phong của họ không cự nổi. Tôi nghe nói vận lương ngàn dặm, quân sĩ có vẻ đói khát, bẻ củi nấu cơm, ăn không đủ no. Nay đường Tỉnh Hình, xe không thể đi sóng đôi, kỵ mã không thể dàn hàng, đi xa mấy trăm dặm, tình thế đó lương thực ắt ở sau. Xin ngài cho tôi ba vạn kỳ binh, theo đường nhỏ chẹn đường lương; ngài đào hào sâu dựng lũy cao, giữ vững không đánh. Họ trước không đánh được, lui cũng không xong, kỳ binh của tôi chặn sau, khiến không cướp được gì ngoài đồng, chưa đến chục ngày, đầu hai tướng ấy có thể dâng dưới trướng. Xin ngài lưu ý kế của tôi. Nếu không, ắt bị hai tướng đó bắt sống đấy.” Thành An quân là nhà nho, thường nói nghĩa binh không dùng mưu gian kế lạ, bảo: “Ta đọc binh pháp, quân đông gấp mười thì vây, gấp đôi thì đánh. Nay quân Hàn Tín nói phao mấy vạn, kỳ thực chẳng quá mấy nghìn, đi nghìn dặm đánh úp ta, cũng đã sức cùng lực kiệt. Nay tránh không đánh, sau có đại quân, làm sao chống được. Như thế chư hầu bảo ta khiếp nhược, rồi coi thường lại đến đánh ta.” Không theo kế của Quảng Vũ quân, kế của Quảng Vũ quân không được dùng.
Hàn Tín sai người thám thính, biết kế không được dùng, về báo, liền cả mừng, mới dám dẫn quân kéo xuống. Đến cách cửa khẩu Tỉnh Hình ba mươi dặm, dừng lại cắm trại. Nửa đêm truyền lệnh xuất phát, chọn lấy hai nghìn quân kỵ, mỗi người cầm một cờ đỏ, theo đường nhỏ lên núi xem xét quân Triệu, dặn rằng: “Triệu thấy ta chạy, ắt đem hết quân đuổi ta, các ngươi mau chóng vào thành, nhổ hết cờ Triệu, dựng cờ đỏ Hán.” Lệnh tỳ tướng cho quân ăn sáng, nói: “Hôm nay phá Triệu sẽ cùng ăn tiệc?” Các tướng đều không tin, vờ đáp: “Vâng.” Nói với tướng sĩ rằng: “Triệu chiếm trước các đất tiện làm doanh lũy, và họ chưa thấy cờ trống đại tướng của ta, chưa chịu ra đánh đội quân đi trước, sợ ta đến thấy hiểm trở sẽ về.” Tín bèn sai một vạn quân đi trước, ra Tỉnh Hình, quay lưng ra sông bày trận. Quân Triệu trông thấy cả cười. Sáng ngày, Tín dựng cờ đại tướng, đánh trống tiến ra cửa Tỉnh Hình, quân Triệu mở thành ra đánh, đại chiến hồi lâu. Thế rồi Tín, Trương Nhĩ vờ vứt cờ trống, chạy đến chỗ quân bên sông. Quân bên sông mở cửa cho vào, lại đánh kịch liệt. Triệu quả nhiên bỏ thành không, tranh cướp trống cờ quân Hán, đuổi Hàn Tín và Trương Nhĩ. Hàn Tín và Trương Nhĩ đã vào cánh quân bên sông, quân đều dốc sức tử chiến, Triệu không sao đánh bại. Hai nghìn kỵ binh Tín sai ra, cùng chờ quân Triệu bỏ thành không vào tranh lợi, lập tức phi ngựa vào thành Triệu, nhổ cờ Triệu, dựng hai nghìn cờ đỏ nhà Hán. Quân Triệu đánh không thắng, không bắt được bọn Tín, muốn về thành lũy, thấy đều cắm cờ đỏ nhà Hán, liền cả sợ, cho là Hán đã bắt được Triệu vương, rối loạn, chạy trốn, tướng Triệu tuy chém cũng không sao ngăn được. Thế là quân Hán hai mặt đánh dồn, cả phá bắt sống quân Triệu, chém Thành An quân trên sông Trì Thủy, bắt sống Triệu vương là Yết.
Tín bèn lệnh trong quân không được giết Quảng Vũ quân, ai bắt sống thưởng ngàn vàng. Thế là có tên lính bắt trói Quảng Vũ quân, mang đến dưới trướng. Tín liền cởi trói, mời ngồi trông về đông, mình ngồi đối diện quay về tây, thờ như thầy.
Các tướng đến dâng thủ cấp và tù binh, chúc mừng xong, nhân hỏi Tín: “Binh pháp nói, phía sau bên phải nên dựa đồi gò, phía trước bên trái nên dựa sông đầm, nay tướng quân lệnh chúng tôi quay lưng ra sông bày trận, nói phá Triệu rồi ăn tiệc, chúng tôi không phục, thế mà lại thắng, ấy là thuật gì vậy?” Tín đáp: “Cái đó có trong binh pháp, các ông không xét kỹ đấy thôi. Binh pháp chẳng viết: 'Hãm vào đất chết sau mới sống, đặt vào chỗ mất sau lại còn' ư? Vả Tín không được chỉ huy các tướng sĩ thân quen, đó gọi là 'Lùa người ngoài chợ sai đi đánh trận,' tình thế ấy không thể không đặt vào đất chết, khiến ai nấy tự ra sức chiến đấu được. Nay đặt họ vào đất sống, chạy hết, làm sao có thể dùng được?” Các tướng đều phục, nói: “Đúng thế. Chúng tôi không nghĩ được đến vậy.”
Thế rồi Tín hỏi Quảng Vũ quân: “Tôi muốn lên bắc đánh Yên, sang đông đánh Tề, làm thế nào thành công được?” Quảng Vũ quân từ tạ rằng: “Tôi nghe nói, tướng cầm quân thất bại, không thể nói là dũng, đại phu nước đã mất, không thể mưu tồn đất nước. Nay tôi là tù binh nước bại vong, sao đủ để thương thảo đại sự.” Tín nói: “Tôi nghe, Bách Lý Hề ở Ngu mà Ngu bị diệt vong, ở Tần thì Tần xưng bá, không phải ông ta ngu khi ở Ngu, còn trí khi Tần, do được dùng hay không, được nghe hay không mà thôi. Ví phỏng Thành An quân theo kế của tác hạ, Tín cũng bị bắt rồi. Do không dùng kế của tác hạ, nên Tín mới được hầu ngài.” Nhân đó cố hỏi: “Tôi dốc lòng theo kế, xin túc hạ đừng từ.” Quảng Vũ quân nói: “Tôi nghe, bậc trí suy nghĩ nghìn điều, ắt có một điều sai; kẻ ngu nghĩ nghìn điều, ắt có một điều đúng. Cho nên nói: 'Lời kẻ cuồng phu, thánh nhân còn xét.' Chỉ e kế của tôi chưa chắc được dùng, xin dốc lòng trung của kẻ ngu. Thành An quân có kế trăm đánh trăm thắng, một sớm lỡ lầm, quân thua ở đất Hoắc, thân chết ở trên sông Trì Thủy. Nay tướng quân vượt sang Tây Hà, bắt sống Ngụy vương, tóm được Hạ Duyệt ở Ất Dự, một phen cất quân hạ gọn Tỉnh Hình, chưa đầy một sớm phá được hai mươi vạn quân Triệu, giết Thành An quân. Nổi danh bốn bể, uy chấn thiên hạ, nông phu chẳng ai không buông cày bỏ bừa, mặc áo đẹp, ăn đồ ngon, ngửa tai đợi mệnh. Được thế, nhờ sở trường của tướng quân. Nhưng dân mệt lính mỏi, kỳ thực khó dùng. Nay tướng quân muốn cất quân mỏi mệt, kíp đến dưới thành kiên cố nước Yên, muốn đánh sợ lâu sức không thể hạ, quân tình lộ thế bị động, lâu ngày cạn lương, còn Yên yếu chưa hàng phục, Tề ắt chống giữ biên giới để tự cường. Yên, Tề cùng chống mà không hạ được, họ Lưu, họ Hạng quyền chưa phân rõ. Nếu vậy, là sở đoản của tướng quân. Tôi ngu muội, trộm cho đó là sai lầm. Nên người giỏi dùng binh không lấy sở đoản đánh sở trường, mà lấy sở trường đánh sở đoản.” Hàn Tín hỏi: “Vậy phải làm sao?" Quảng Vũ quân đáp: “Nay kế cho tướng quân, chẳng gì bằng cởi giáp cho quân nghỉ, trấn giữ Triệu vỗ về con côi tướng sĩ, trong vòng trăm dặm, hằng ngày dân chúng dắt trâu mang rượu, khao thưởng quân tướng, bắc đóng quân đầu đường sang Yên, sau sai biện sĩ mang thư đến, tỏ rõ sở trường với Yên, Yên ắt không dám không nghe. Yên đã theo, sai người giỏi nói sang đông báo Tề, Tề ắt nghe hơi gió mà quy phục, dẫu có bậc trí, cũng không biết bày kế gì cho Tề nữa. Như thế, việc thiên hạ đều có thể tính được. Dùng binh vốn có thuật trước dùng thanh thế, sau mới dùng thực, chính là như vậy.” Hàn Tín nói: “Phải lắm!” Theo kế ấy, sai sứ sang Yên, Yên nghe hơi gió đã quy hàng. Bèn sai sứ báo với Hán, nhân đó xin lập Trương Nhĩ làm Triệu vương, để trấn giữ Triệu. Hán vương đồng ý, bèn lập Trương Nhĩ làm Triệu vương.
Sở nhiều lần sai kỳ binh vượt Hoàng Hà tấn công Triệu, Triệu vương Nhĩ và Hàn Tín đi đi lại lại cứu Triệu, nhân đó hành quân bình định thành ấp Triệu, đưa quân tiếp ứng Hán. Sở đang vây kíp Hán vương ở Huỳnh Dương, Hán vương chạy theo hướng nam, đến khoảng đất Uyển đất Diệp, thu phục Kình Bố, chạy vào Thành Cao, Sở lại vây chặt. Tháng Sáu, Hán vương chạy khỏi Thành Cao, theo đông vượt Hoàng Hà, chỉ có mình Đằng Công cùng đi, theo quân Trương Nhĩ đến Tu Vũ. Đến nơi, nghỉ ở quán trọ. Sáng sớm, tự xưng sứ giả Hán, chạy vào thành Triệu. Trương Nhĩ, Hàn Tín chưa dậy, Hán vương lập tức đến chỗ họ nằm đoạt ấn phù, dùng cờ tiết mao triệu các tướng, sắp đặt chức vụ. Tín, Nhĩ thức dậy, mới biết Hán vương đến, cả sợ. Hán vương đoạt quân của hai người, liền lệnh Trương Nhĩ giữ đất Triệu, phong Hàn Tín làm Tướng quốc, thu quân Triệu chưa phái đi Huỳnh Dương để đánh Tề.
Tín dẫn quân sang đông, chưa qua bến Bình Nguyên, hay tin Hán vương sai Lịch Dị Cơ đi thuyết phục Tề vương hàng, Hàn Tín muốn ngăn. Biện sĩ ở Phạm Dương là Khoái Thông nói với Tín rằng: “Tướng quân nhân chiếu đánh Tề, còn Hán sai mật sứ theo đường nhỏ đến Tề, đâu có chiếu lệnh cho tướng quân dừng lại? Sao có thể không đi được! Và Lịch sinh là kẻ sĩ, nằm trên xe múa ba tấc lưỡi, hạ được hơn bảy mươi thành của Tề, tướng quân cầm mấy vạn binh, hơn năm mới hạ hơn năm mươi thành của Triệu, làm tướng mấy năm, trái lại không bằng công một anh nhà nho sao?” Tín cho là phải, theo kế Khoái Thông, bèn vượt Hoàng Hà. Tề nghe lời Lịch sinh, giữ lại uống rượu, bỏ hết các tuyến phòng ngự quân Hán. Tín nhân đấy đánh úp Tề ở Lịch Hạ, kéo đến Lâm Truy. Tề vương Điền Quảng cho là Lịch sinh bán đứng mình, bèn nấu chết, rồi chạy về Cao Mật, sai sứ đến Sở xin cứu. Hàn Tín đã bình định Lâm Truy, bèn sang đông đuổi Quảng tới phía tây Cao Mật. Sở sai Long Thư làm tướng quân, phao tin đem hai mươi vạn quân để cứu Tề.
Tề vương Quảng và Long Thư hợp quân đánh Tín, chưa giao chiến. Có người nói với Long Thư: “Quân Hán đi đánh ở xa, dốc sức chiến đấu, mũi nhọn của họ không thể cự nổi. Tề, Sở đánh trên đất của mình, quân dễ thua chạy. Chẳng bằng đào hào sâu, bảo Tề vương sai bề tôi thân tín chiêu dụ thành đã mất, thành đã mất biết vua mình hãy còn, lại có Sở đến cứu, ắt sẽ phản Hán. Quân Hán đến đất khách, xa hai nghìn dặm, các thành Tề đều phản, tình thế không có gì ăn, không cần đánh cũng phải hàng.” Long Thư nói: “Ta bình sinh biết Hàn Tín ra sao, dễ đối phó thôi. Vả đi cứu Tề, chưa đánh đã khiến Tín hàng, ta còn công cán gì nữa. Nay đánh thắng, được nửa Tề, sao không đánh?" Bèn giao chiến, cùng Tín bày trận bên sông Duy Thủy. Hàn Tín ban đêm sai người làm hơn vạn túi, chứa đầy cát, chặn lấp phía trên sông, dẫn nửa quân vượt sông, đánh Long Thư, vờ thua chạy. Long Thư quả mừng nói: “Biết ngay Tín nhát gan mà!" Liền vượt sông truy đuổi Tín. Tín sai người thao túi cát chặn sông, nước xiết đổ xuống, quá nửa quân Long Thư không thể sang sông, Tín liền đánh gấp, giết được Long Thư. Quân Long Thư bờ đông tan chạy, Tề vương Quảng bỏ trốn. Tín liền truy đuổi lên bắc, đến Thành Dương, bắt sống toàn bộ quân Sở.
Hán vương năm thứ tư, Hàn Tín chiêu hàng rồi bình định Tề, sai người nói với Hán vương rằng: “Tề là nước trá ngụy, nhiều bất trắc, phản phúc, phía nam giáp Sở, nếu không lập giả vương[2] để trấn giữ, tình thế không yên định được. Xin được làm giả vương tiện bề xử trí.” Bấy giờ, Sở đang vây chặt Hán vương ở Huỳnh Dương, sứ giả của Tín đến, đưa thư, Hán vương cả giận, mắng rằng: “Ta bị vây khốn ở đây, sớm tối trông mong mày đến giúp, mày lại muốn tự lập làm vương!" Trương Lương Trần Bình giẫm vào chân Hán vương, nhân đó nói nhỏ vào tai: “Hán đương bất lợi, liệu có cấm Tín xưng vương được không? Chi bằng nhân đó cho lập, đối xử tốt, sai tự giữ đất ấy. Nếu không, sẽ sinh biến.” Hán vương cũng hiểu ra, nhân đó lại mắng: “Đại trượng phu bình định chư hầu, đó là vua đích thực, sao lại là giả?” Bèn sai Trương Lương tới lập Tín làm Tề vương, trưng dụng quân của Tín để đánh Sở.
_h14.jpg)
Sở đã mất Long Thư, Hạng vương sợ, sai Vũ Thiệp người Hu Thai du thuyết Tề vương là Tín rằng: “Thiên hạ đều khổ vì Tần lâu rồi, cùng nhau ra sức đánh Tần. Tần đã bị diệt, tính công cắt đất, chia đất làm vua, để quân sĩ nghỉ. Nay Hán vương lại dấy binh sang đông, chiếm phần của người, cướp đất của người, đã phá Tam Tần, dẫn quân xuất quan, thu quân chư hầu để sang đông đánh Sở, ý đồ không nuốt trọn thiên hạ thì không thôi, ông ta không biết chán biết đủ, thực quá lắm thay. Vả Hán vương không thể tin hẳn, bị Hạng vương giữ mấy lần, Hạng vương thương nên cho sống, nhưng khi thoát được, liền bội ước, lại đánh Hạng vương, nên không thể gần gũi và tin cậy được. Nay túc hạ tuy tự cho có giao tình sâu đậm với Hán vương, vì ông ta dốc sức dùng binh, cuối cùng cũng bị bắt thôi. Túc hạ sở dĩ được đến nay, vì Hạng vương hãy còn. Nay, hai vua tranh thiên hạ, thắng bại ở túc hạ. Túc hạ theo phải thì Hán vương thắng, theo trái thì Hạng vương thắng. Hôm nay Hạng vương bị diệt, kế đó sẽ là túc hạ. Túc hạ và Hạng vương là chỗ quen cũ, sao không phản Hán liên kết với Sở, chia ba thiên hạ để làm vua? Nay mất thời cơ này, tự theo Hán để đánh Sở, bậc trí có làm thế chăng?” Hàn Tín tạ từ rằng: “Tôi thờ Hạng vương, làm quan chỉ là Lang trung, địa vị chỉ cầm kích thôi, nói không được nghe, kế không được dùng, nên phản Sở theo Hán. Hán vương trao cho tôi ấn thượng tướng quân, cho tôi mấy vạn quân, cởi áo cho tôi mặc, đưa cơm cho tôi ăn, nói lời được nghe, vạch kế được dùng, nên tôi mới được thế này. Người ta rất mực thân gần tin tôi, tôi phản là điều không may, dẫu chết tôi cũng không đổi, xin vì Tín này cảm tạ Hạng vương!”
Vũ Thiệp đi rồi, Khoái Thông người Tề biết quyền thiên hạ Hàn Tín, muốn dùng kế lạ khiến Tín cảm động, dùng thuật xem tướng nói với Hàn Tín: “Tôi từng học thuật xem tướng.” Hàn Tín hỏi: “Tiên sinh xem tướng thế nào?" Đáp rằng: “Sang hèn thể hiện ở xương, vui buồn thể hiện ở sắc, thành bại thể hiện ở quyết đoán, dựa ba điều đó, vạn người không sai một.” Hàn Tín nói: “Hay lắm. Tiên sinh xem tướng quả nhân thế nào?” Đáp rằng: “Xin đợi lúc vắng người.” Tín nói: “Tả hữu đi cả rồi.” Thông nói: “Tướng mặt của ngài, chẳng qua chỉ được phong hầu, lại nguy chẳng yên. Tướng lưng của ngài, sang không sao nói xiết.” Hàn Tín hỏi: “Sao lại nói vậy?" Khoái Thông đáp: “Thiên hạ mới dấy binh chống Tần, tuấn hùng hào kiệt đều xưng vương cùng hô hào, kẻ sĩ thiên hạ tụ hợp như mây, xếp hàng như vảy cá, lửa bốc, gió thổi. Lúc bấy, chỉ nghĩ làm sao để diệt Tần. Nay, Sở và Hán phân tranh, khiến người vô tội trong thiên hạ ruột gan lầy đất, cha con phơi xương trắng ngoài đồng, nhiều không kể xiết. Người Sở dấy ở Bành Thành, vừa đánh vừa đuổi, kéo đến Huỳnh Dương, thừa thắng như cuốn chiếu, uy thế chấn động thiên hạ. Nhưng quân bị khốn ở đất Kinh đất Sách, đã ba năm, bị núi phía tây ngăn không sao tiến được. Hán vương cầm mấy chục vạn quân, giữ đất Củng đất Lạc, dựa thế hiểm của núi và Hoàng Hà, một ngày đánh mấy trận, không được tấc đất nào, quân thua chạy lên bắc không thể tự cứu, bại ở Huỳnh Dương, bị thương ở Thành Cao, chạy đến đất Uyển đất Diệp, đó là kẻ trí người dũng đều bị khốn. Nhuệ khí bị bẻ nơi biên tái, lương thực cạn kiệt ở trong kho, trăm họ oán thán, thấp thỏm không chốn nương dựa. Theo tôi suy đoán, tình thế này nếu không phải bậc hiền thánh thiên hạ không thể dứt được họa này. Nay, tính mệnh hai chúa ở cả tay ngài. Ngài vì Hán thì Hán thắng, theo Sở thì Sở thắng. Tôi xin phơi bày gan ruột, dốc hết mưu kế ngu muội, chỉ e ngài không theo thôi. Nếu theo kế của tôi, chẳng gì bằng khiến hai bên đều lợi, cùng được bảo tồn, chia ba thiên hạ, thành thế chân vạc, thế đó không ai dám động binh trước. Với sự hiền thánh của ngài, có quân binh đông đảo, chiếm Tề mạnh, khiến Yên, Triệu theo, xuất quân ra vùng trống trải mà khống chế phía sau, nhận điều dân muốn, hướng về tây giải cứu trăm họ, như vậy thiên hạ nghe tiếng gió mà hưởng ứng theo, ai dám không nghe! Cắt nước lớn, làm yếu nước mạnh, để lập chư hầu, chư hầu đã lập, thiên hạ thần phục mà cảm tạ ân đức của Tề. Chiếm đất cũ của Tề, có đất sông Giao sông Tứ, dùng đức vỗ về chư hầu, kín đáo khiêm nhường, khiến quân vương trong thiên hạ theo nhau vào chầu Tề vậy. Từng nghe, trời cho không lấy, trái lại bị tội; thời cơ đến không làm, trái lại bị tai ương. Xin ngài suy nghĩ cho kỹ.”
Hàn Tín nói: “Hán vương đãi tôi rất hậu, đem xe cho tôi ngồi, lấy áo cho tôi mặc, đem đồ cho tôi ăn. Tôi nghe nói, ngồi xe của người, phải gánh lo cho người, mặc áo của người, cần chung lo với người, ăn cơm của người, chết vì việc của người, tôi há vì lợi mà bội nghĩa?” Khoái sinh nói: “Ngài tự cho đối tốt với Hán vương, muốn tạo dựng sự nghiệp muôn đời, tôi trộm cho là lầm. Thuở trước Thường Sơn vương, Thành An quân còn hàn vi, kết giao sinh tử, sau tranh chấp vì việc Trương Yểm, Trần Thích, hai người oán nhau. Thường Sơn vương phản bội Hạng vương, mang đầu Hạng Anh bỏ trốn, về với Hán vương. Hán vương mượn quân xuống đồng, giết Thành An quân ở phía nam Trì Thủy, đầu nơi chân nẻo, bị thiên hạ chê cười. Quan hệ của hai người, chí thiết trong thiên hạ. Sau lại bắt giết nhau, sao vậy? Họa nảy sinh từ chỗ nhiều ham muốn, lòng người khó dò. Nay ngài muốn làm việc trung tín đối đãi Hán vương, cũng không thể thân hơn hai người kia, nhiều việc còn lớn hơn việc Trương Yểm, Trần Thích nữa. Vì thế tôi cho ngài nghĩ Hán vương ắt không gây hại là lầm đấy. Đại phu Văn Chủng và Phạm Lãi bảo tồn nước Việt suy vong, khiến Câu Tiễn nên nghiệp bá, lập công thành danh mà người chết kẻ trốn. Dã thú đã hết, chó săn bị nấu. Lấy việc giao du mà nói, ngài không thể bằng Trương Nhĩ với Thành An quân; lấy sự trung tín để bàn, chẳng hơn được đại phu Văn Chủng, Phạm Lãi đối với Câu Tiễn. Hai hạng người ấy, đủ để xét soi. Xin ngài nghĩ cho kỹ. Và tôi nghe, dũng lược át chủ, thân sẽ nguy, công trùm thiên hạ, không được thưởng. Tôi xin nói về công lao, dũng lược của ngài. Ngài vượt sông Tây Hà, cầm tù Ngụy vương, bắt sống Hạ Duyệt, dẫn quân xuống Tỉnh Hình, giết Thành An quân, đoạt lấy Triệu, uy hiếp Yên, bình định Tề, xuống nam đánh tan hai mươi vạn quân Sở, sang đông giết Long Thư, sang tây báo tin, là công có một không hai trong thiên hạ, dũng lược hiếm có trên đời. Nay ngài mang uy át chủ, mang công không thể thưởng, về Sở, người Sở không tin, theo Hán, người Hán lo sợ. Ngài muốn mang uy và công đó về đâu? Xét địa vị bề tôi mà uy át chủ, danh chấn thiên hạ, tôi trộm thấy nguy thay cho ngài.” Hàn Tín cảm tạ nói: “Tiên sinh đừng nói nữa, tôi sẽ suy nghĩ điều ấy.”
Mấy hôm sau, Khoái Thống lại nói: “Xét lẽ, lắng nghe là chuẩn bị sự việc, tính kế là mấu chốt sự việc, nghe lầm tính sai mà được yên ổn lâu dài, hiếm lắm. Nghe không làm một hai điều, không thể dùng lời làm cho loạn; tính kế không làm gốc ngọn, không thể dùng lời làm cho rối. Làm việc của nô bộc, mất quyền vua vạn cỗ xe; giữ bổng lộc tủn mủn, mất đi địa vị khanh tướng. Cho nên biết thì quyết đoán, ngờ thì hại việc. Thẩm xét kế nhỏ như mảy lông, bỏ mất vận số lớn thiên hạ, trí tuệ đủ biết việc mà không dám làm, là họa trong trăm việc vậy. Cho nên nói: 'Mãnh hổ do dự, chẳng bằng con ong, bọ cạp hăng đốt; ngựa kỳ ngựa ký dùng dằng, chẳng bằng ngựa thường đều bước; Mạnh Bôn[3] hồ nghi, chẳng bằng người thường quyết xốc tới; tuy trí tuệ như Nghiêu, Thuấn, ngậm miệng không nói, chẳng bằng kẻ câm điếc trỏ tay.' Những việc ấy quý ở chỗ hành động. Công lao khó thành dễ bại, thời cơ khó được dễ mất. Thời cơ không trở lại. Xin ngài hãy xét kỹ.” Hàn Tín do dự không nỡ phản bội Hán vương, lại tự cho mình nhiều công, Hán vương ắt không cướp Tề của mình, bèn tạ từ Khoái Thông. Khoái Thông thuyết phục không được, vờ điên rồi làm thầy đồng.
Tề Hán vương bị khốn ở Cố Lăng, theo kế của Trương Lương, triệu Tề vương Tín đến, rồi cùng hội quân ở Cai Hạ. Hạng Vũ bị đánh tan, Cao tổ đánh úp chiếm quân Tề vương. Hán vương năm thứ năm, tháng Giêng, đổi phong Tề vương Tín làm Sở vương, đóng đô ở Hạ Bì.
Tín đến nước phong, triệu người đàn bà đập vải cho mình ăn ngày trước, tặng thưởng ngàn vàng. Đến nhà Đình trưởng Nam Xương ở Hạ Hương, tặng thưởng trăm tiền, nói: “Ông là hạng tiểu nhân, làm phúc không cho trót.” Triệu người từng làm nhục mình bắt chui qua háng đến, cho làm Trung úy ở Sở, rồi bảo các tướng văn võ rằng: “Người này là tráng sĩ. Khi làm nhục ta, ta không thể giết y chăng? Giết y chẳng được danh gì, nên ta nhịn mà được như nay.”
Tướng bỏ trốn của Hạng vương là Chung Ly Muội nhà ở Y Lư, vốn thân với Tín. Sau khi Hạng vương chết, trốn về theo Tín. Hán vương giận Muội, nghe nói Muội ở Sở, hạ chiếu cho Sở bắt Muội. Tín mới đến nước phong, đi tuần huyện ấp, ra vào dàn quân hộ vệ. Hán Cao tổ năm thứ sáu, có người dâng thư cáo giác Sở vương Tín làm phản. Cao đế theo kế Trần Bình, thiên tử tuần thú hội họp chư hầu, phương nam có đầm Vân Mộng, sai sứ báo chư hầu hội ở đất Trần, rằng: “Ta sẽ du ngoạn đầm Vân Mộng.” Kỳ thực muốn đánh úp Tín, Tín không biết. Cao tổ sắp đến Sở, Tín muốn dấy binh làm phản, tự xét vô tội, muốn yết kiến hoàng thượng, sợ bị bắt. Có người nói với Tín rằng: “Chém Muội để yết kiến, hoàng thượng ắt mừng, không lo gì nữa.” Tín gặp Muội bàn tính. Muội nói: “Nhà Hán sở dĩ không đánh lấy Sở, vì Muội ở chỗ ông. Nếu muốn bắt tôi để làm đẹp lòng Hán vương, nay tôi chết đi, ông cũng bị diệt ngay thôi.” Bèn mắng Tín rằng: “Ông không phải bậc trưởng giả!” Rồi cắt cổ chết. Tín mang đầu Muội đến, yết kiến Cao tổ ở đất Trần. Hoàng thượng lệnh võ sĩ trói Tín, chở sau xe. Tín nói: “Quả như người ta nói: 'Thỏ khôn hết, chó khôn bị nấu; chim bay cao hết, nỏ cứng cất xó; nước địch bị phá, mưu thần phải chết.' Thiên hạ đã định, ta đáng bị nấu!" Hoàng thượng nói: “Có người cáo giác ông làm phản.” Rồi đóng gông Tín. Đến Lạc Dương, xá tội Tín, cho làm Hoài Âm hầu.
Tín biết Hán vương sợ, ghét tài mình, thường cáo ốm không vào chầu, không ra ngoài. Từ đó Tín ngày đêm oán trách, ấm ức không vui, xấu hổ vì bị xếp ngang bọn Giáng hầu, Quán Anh. Tín hay qua nhà tướng quân Phan Khoái, Khoái quỳ vái khi đón đưa, xưng là “thần”, nói: “Đại vương chịu đến nhà thần!” Tín ra cổng, cười nói: “Ta nay ngang hàng đám Phàn Khoái.” Hoàng thượng lúc thư nhàn thường cùng Tín luận tài các tướng, xem ai cao thấp. Hoàng thượng hỏi: “Như ta có thể cầm được bao nhiêu quân?” Tín đáp: “Bệ hạ chỉ cầm được mười vạn.” Hoàng thượng hỏi: “Ông thì thế nào?" Đáp: “Thần thì càng nhiều càng tốt.” Hoàng thượng cười hỏi: “Càng nhiều càng tốt, sao lại bị ta bắt?” Tín đáp: “Bệ hạ không giỏi cầm quân, mà giỏi nắm tướng, thế nên Tín mới bị bệ hạ bắt. Vả bệ hạ là trời ban, không phải sức người.”
Trần Hy được phong Quận thú Cự Lộc, từ biệt Hoài Âm hầu. Hoài Âm hầu cầm tay, đuổi tả hữu, cùng Hy dạo bước trong sân, ngẩng lên trời than rằng: “Tôi có thể nói với ông chăng? Tôi có lời muốn nói.” Hy đáp: “Xin tướng quân sai bảo.” Hoài Âm hầu nói: “Chỗ ông, là chỗ tinh binh trong thiên hạ, còn ông là bề tôi được bệ hạ sủng tín. Người ta nói ông làm phản, bệ hạ nhất định không tin; nói lần nữa, bệ hạ sẽ ngờ; đến lần thứ ba, ắt nổi giận đích thân làm tướng. Tôi vì ông, âm thầm hưởng ứng, có thể cướp được thiên hạ.” Trần Hy vốn biết tài Tín, tin theo, nói: “Vâng lời chỉ dạy!” Hán Cao tổ năm thứ mười, Trần Hy quả nhiên làm phản. Hoàng thượng cầm quân đến đánh, Tín cáo ốm không theo, ngầm sai người đến chỗ Hy, nói: “Ông dấy binh, tôi ở đây giúp.” Tín bèn mưu cùng gia thần, ban đêm giả chiếu xá miễn cho tội đồ, nô bộc trong phủ quan, muốn phát binh đánh úp Lã hậu và Thái tử. Sắp đặt xong xuôi, đợi Hy báo tin. Môn khách nọ từng đắc tội với Tín, Tín bỏ tù, chực giết đi. Em trai môn khách báo lên Lã hậu, nói Tín muốn làm phản. Lã hậu muốn triệu, nhưng sợ đồ đảng của Tín không đến, bèn mưu cùng Tướng quốc Tiêu Hà, vờ sai người từ chỗ Hoàng thượng tới, nói Hy đã chết, chư hầu quần thần đều mừng. Tướng quốc lừa Tín rằng: “Tuy ốm, gắng vào chúc mừng.” Tín vào cung, Lã hậu sai võ sĩ trói Tín, chém Tín ở nhà chuông trong cung Trường Lạc. Lúc sắp bị chém, Tín nói: “Ta hối hận không theo kế của Khoái Thông, bị đàn bà con trẻ lừa dối, há chẳng phải ý trời chăng?” Rồi giết cả ba họ nhà Tín.
Cao tổ từ chỗ quân của Hy về, tới nơi, thấy Tín chết, vừa mừng vừa thương, hỏi: “Tín chết có nói gì không?” Lã hậu đáp: “Tín nói hối hận vì không theo kế của Khoái Thông.” Cao tổ nói: “Đó là biện sĩ nước Tề.” Bèn hạ chiếu cho Tề bắt Khoái Thông. Khoái Thông đến, hoàng thượng hỏi: “Ngươi dạy Hoài Âm hầu làm phản hả?” Đáp rằng: “Vâng, thần có dạy. Thằng nhãi ấy không theo kế của thần, cho nên bị diệt đến mức ấy. Nếu thằng nhãi ấy dùng kế của thần, bệ hạ sao diệt được?” Hoàng thượng giận nói: “Nấu nó!” Thông nói: “Chao ôi, bị nấu oan quá!” Hoàng thượng hỏi: “Ngươi dạy Hàn Tín làm phản, oan nỗi gì?” Thông đáp: “Mối giềng nhà Tần đứt rồi bung ra, Sơn Đông đại loạn, các họ cùng nổi lên, bậc anh tuấn tụ hội như quạ đậu. Tần mất con hươu, thiên hạ cùng tranh đuổi, như thế ai tài cao nhanh chân thì bắt được trước. Chó của Đạo Chích cắn đế Nghiêu, không phải Nghiêu không có lòng nhân, chó cắn vì không phải chủ mình. Lúc bấy giờ, thần chỉ biết Hàn Tín, không biết tới bệ hạ. Và những kẻ cầm mũi giáo, muốn làm nên nghiệp như bệ hạ làm vốn rất đông, chỉ là sức không làm nổi thôi. Có thể nấu hết được họ không?” Cao để nói: “Thả hắn.” Bèn tha tội cho Khoái Thông.
Thái sử công bàn rằng: Ta đến Hoài Âm, người Hoài Âm nói với ta, Hàn Tín tuy lúc còn hàn vi, chí hướng đã khác người thường. Mẹ Tín chết, nghèo không có gì mai táng, nhưng vẫn đặt mộ mẹ chỗ cao rộng, khiến bên cạnh có thể đặt được vạn nhà. Ta xem mộ mẹ ông ta, quả nhiên là vậy. Giả sử khiến Tín học lối khiêm nhượng của Đạo gia, không cậy mình có công, không kiêu vì mình có tài, ngõ hầu công của Hàn Tín đối với nhà Hán có thể sánh với các ông Chu công, Thiệu công, Thái công, đời sau tế cũng không dứt. Hàn Tín lại không như thế, thiên hạ đã yên định, hãy còn mưu phản nghịch, bị diệt cả họ, chẳng cũng phải sao!
[1] Chức quan nhỏ,lo việc tiếp khách.
[2] Tước vương tạm thời, chưa phải tước phong chính thức.
[3] Một lực sĩ người nước Tề thời Chiến quốc.