Sử Ký II. Liệt Truyện (Thượng)

Lượt đọc: 422 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 97 LỊCH SINH, LỤC GIẢ LIỆT TRUYỆN

❊ ❊ ❊

Lịch Dị Cơ

Lịch Dị Cơ, người Cao Dương đất Trần Lưu, thích đọc sách, nhà nghèo khó, không có sản nghiệp để lo cái ăn mặc, làm viên lại coi cổng làng, nhưng hiền tài hào kiệt trong huyện không dám đụng đến, trong huyện đều gọi là kẻ ngông cuồng.

Khi bọn Trần Thắng, Hạng Lương nổi lên, các tướng chiếm đất qua Cao Dương tới mấy chục người, Lịch sinh nghe nói các tướng đều khí độ nhỏ nhen, thích lễ tiết phiền toái, lại tự cho là đúng, không thể nghe những lời cao rộng, bèn ẩn mình thật kỹ. Sau, nghe Bái công đem quân chiếm đất ngoại vi Trần Lưu, kỵ sĩ dưới cờ Bái công là con em trong làng Lịch sinh, Bái công thường hỏi trong làng có hiền sĩ hào kiệt không. Kỵ sĩ ấy về, Lịch sinh gặp bảo rằng: “Tôi nghe Bái công khinh mạn và coi thường người khác, nhưng mưu lược lớn, đó thực là người tôi muốn theo, song không ai giới thiệu tôi. Nếu gặp Bái công, nói rằng: 'Trong làng thần có Lịch sinh, hơn sáu mươi tuổi, mình cao tám thước, người ta đều gọi là kẻ ngông cuồng, nhưng sinh tự cho mình không phải kẻ cuồng.'" Viên kỵ sĩ đáp: “Bái công không thích nhà nho, những khách đội mũ nhà nho đến, Bái công liền lột mũ họ, tè vào đấy. Nói chuyện với người khác, thường chửi đổng. Không thể giới thiệu nho sinh được.” Lịch sinh nói: “Cứ nói thế thôi.” Viên kỵ sĩ nhân lúc thư thả tâu lại những lời Lịch sinh đã dặn.

Bái công đến dịch quản Cao Dương, sai người triệu Lịch sinh. Lịch sinh đến, vào yết kiến, Bái công đang ngồi trên giường sai hại hầu gái rửa chân, cứ thế gặp Lịch sinh. Lịch sinh vào, chắp tay mà không vái lạy, hỏi: “Túc hạ muốn giúp Tần đánh chư hầu chăng? Hay muốn thống lãnh chư hầu diệt Tần?” Bái công mắng rằng: “Học trò hèn mọn! Thiên hạ khổ vì Tần lâu rồi, nên chư hầu cùng dẫn nhau đánh Tần, sao lại bảo giúp Tần đánh chư hầu hử?” Lịch sinh đáp: “Nếu muốn tập hợp, tụ hội nghĩa binh để diệt Tần vô đạo, không nên ngồi xổm để tiếp kiến bậc tôn trưởng”. Bái công liền dừng rửa chân, dậy xốc áo, mời Lịch sinh thượng tọa, tạ lỗi. Lịch sinh nhân đó nói thời kỳ sáu nước hợp tung liên hoành. Bái công mừng, ban Lịch sinh đồ ăn, rồi hỏi: “Phải theo kế nào?" Lịch sinh đáp: “Túc hạ dấy quân ô hợp, thu nhặt tàn quân, chưa đầy vạn người, chực theo lối tắt xông vào Tần hùng mạnh, là tìm đến miệng cọp vậy. Trần Lưu là chỗ xung yếu của thiên hạ, thông ra bốn phía, nay thành này lại chứa nhiều lương thảo. Thần thân với Huyện lệnh ở đây, xin được sai phái, khiến họ quy thuận túc hạ. Nếu không nghe, túc hạ cất quân tiến đánh, thần sẽ làm nội ứng.” Lập tức sai Lịch sinh lên đường, Bái Công dẫn quân đi theo, hạ được Trần Lưu. Ban hiệu cho Lịch Dị Cơ là Quảng Dã quân.

Lịch sinh bảo em trai là Lịch Thương đem mấy ngàn quân theo Bái công sang tây nam chiếm đất đai. Lịch sinh thường làm thuyết khách, rong ruổi đi sứ chư hầu.

Hán vương năm thứ ba, mùa thu, Hạng Vũ đánh Hán, hạ được Huỳnh Dương, quân Hán lui về bảo vệ đất Củng Lạc. Người Sở nghe tin Hoài Âm hầu phá Triệu, Bành Việt nhiều lần làm phản đất Lương, liền chia quân đi cứu. Hoài Âm hầu sang đông đánh Tề, Hán vương nhiều lần bị khốn ở Huỳnh Dương, Thành Cao, chực tính bỏ Thành Cao để sang đông, đóng quân ở đất Củng và Lạc để chống Sở. Lịch sinh nhân đó nói: “Thần nghe nói biết trời của trời, nghiệp vương mới thành; không biết trời của trời, nghiệp vương không thành. Vương giả lấy dân làm trời, còn dân coi ăn làm trời. Từ lâu Ngao Thương là chỗ vận lương của thiên hạ, thần nghe nói nơi đây tích chứa rất nhiều thóc gạo. Người Sở hạ được Huỳnh Dương, không phòng thủ Ngao Thương, lại dẫn quân sang động, lệnh cho lính bị lưu đày chia nhau giữ Thành Cao, đó là trời giúp Hán vậy. Nay Sở dễ lấy Hán lại lui, tự để mất cái lợi, thần trộm cho là lầm. Vả hai nước mạnh không thể đứng chung, Sở Hán cầm cự lâu ngày chưa phân thắng bại, trăm họ nhớn nhác, thiên hạ không yên, nông phu bỏ cày cuốc, nữ công bỏ khung cửi, lòng người thiên hạ chưa có chỗ hướng về. Xin túc hạ cấp tốc tiến quân, thu lấy Huỳnh Dương, chiếm lương thảo ở Ngao Thương, chọn chỗ hiểm ở Thành Cao, bít đường Thái Hàng, chống cửa Phỉ Hồ, giữ bến Bạch Mã, để tỏ cho chư hầu thấy cái thế thực sự quyết định thắng lợi, vậy thiên hạ sẽ biết chỗ để theo về. Nay Yên, Triệu đã bình định, chỉ có Tề chưa bị hạ. Điền Quảng chiếm Tề xa xôi ngàn dặm, Điền Nhàn cầm hai mươi vạn quân đóng ở Lịch Thành, tông tộc họ Điền hùng mạnh, tựa biển dựa Hoàng Hà, sông Tế, nam gần Sở, người hay thay đổi gian trá, túc hạ dẫu sai mấy chục vạn quân đi đánh, cả năm cả tháng chưa chắc phả được. Thần xin được mang chiếu đến thuyết phục Tề vương, khiến ông ta làm phên giậu phía đông cho Hán.” Hoàng thượng nói: “Phải lắm.”

Bèn theo kế đó, chiếm giữ Ngao Thương, rồi sai Lịch sinh thuyết phục Tề vương: “Đại vương biết chỗ thiên hạ hướng về không?” Tề vương đáp: “Không biết.” Lịch sinh nói: “Đại vương biết chỗ thiên hạ hướng về thì Tề có thể giữ được, nếu không biết chỗ thiên hạ hướng về, Tề chưa chắc bảo toàn được.” Tề vương hỏi: “Thiên hạ hướng về đâu?” Đáp: “Về Hán.” Tề vương hỏi: “Sao tiên sinh nói vậy?” Đáp: “Hán vương và Hạng vương hợp sức sang tây đánh Tần, hẹn rằng ai vào Hàm Dương trước sẽ làm vua. Hán vương vào Hàm Dương trước, Hạng vương bội ước không cho làm vua ở Hán Trung. Hạng vương lưu đày rồi giết Nghĩa đế, Hán vương nghe tin, dấy quân Thục, Hán đánh Tam Tần, ra khỏi quan ải, trách hỏi chỗ của Nghĩa đế, thu quân binh trong thiên hạ, lập hậu duệ các chư hầu. Thành ấp nào hàng liền phong tướng tước hầu, thu được của cải liền chia cho tướng sĩ, cùng hưởng lợi với thiên hạ, anh hào hiền tài đều vui vẻ đến với Hán. Quân chư hầu bốn mặt kéo tới, lương thảo Thục Hán chở thuyền đem sang. Hạng vương mang tiếng bội ước, phụ giết Nghĩa đế; người khác có công không nhớ, có tội không quên; đánh thẳng không được thưởng, hạ thành không được phong; không phải người họ Hạng thì không được trọng dụng, cho người khắc ấn, để chơi mà không trao cho ai; đánh thành chiếm được của cải, tích chứa mà không thưởng tướng sĩ. Thiên hạ phản lại, hiền tài oán giận, không ai ra sức. Cho nên kẻ sĩ thiên hạ theo về Hán vương, dễ được nhận dụng. Hán vương xuất phát từ Thục Hán, bình định Tam Tần; vượt ngoài sông Tây Hà, viện quân ở Thượng Đảng; xuống Tỉnh Hình, giết Thành An quân; phá Bắc Ngụy, chiếm ba mươi hai thành. Ấy là quân của Xi Vưu vậy, không phải sức người thường, là phúc trời ban. Nay chiếm được lương ở Ngao Thương, chặn chỗ hiểm ở Thành Cao, giữ bến Bạch Mã, chẹn núi Thái Hàng, chống cửa Phỉ Hồ, thiên hạ ai quy phục sau sẽ bị diệt vong trước. Đại vương mau sớm quy thuận Hán vương, xã tắc nước Tề mới được bảo toàn; không quy thuận Hán vương, nguy vong có thể nhón chân mà đợi vậy.” Điền Quảng cho là phải, nghe theo Lịch sinh, bãi bỏ quân phòng giữ ở Lịch Hạ, cùng Lịch sinh ngày ngày uống rượu.

Hoài Âm hầu biết việc Lịch sinh ngồi xe hàng phục hơn bảy mươi thành nước Tề, đương đêm dẫn quân vượt Bình Nguyên đánh úp Tề. Tề vương Điền Quảng nghe tin quân Hán đến, nghĩ Lịch sinh bán đứng mình, bèn nói: “Ngươi có thể ngăn quân Hán, ta cho ngươi sống, nếu không, ta sẽ nấu ngươi!” Lịch sinh đáp: “Làm việc lớn không trọng tiểu tiết, người thịnh đức sẽ không trách người. Ông mày đây không vì mày mà thay lời!” Tề vương liền nấu chết Lịch sinh rồi dẫn quân chạy sang phía đông.

Hán Cao tổ năm thứ mười hai, Khúc Chu hầu Lịch Thương làm Thừa tướng đem quân đánh Kình Bố, lập công. Cao tổ đề bạt liệt hầu, Công thần, nhớ đến Lịch Dị Cơ. Con trai Lịch Dị Cơ là Giới nhiều lần cầm quân, công lao chưa đáng được tước hầu, hoàng thượng vì cha Giới, phong Giới làm Cao Lương hầu. Về sau, đổi thực ấp ở Vũ Toại, nối tiếp ba đời. Niên hiệu Nguyên Thú năm đầu, Vũ Toại hầu là Bình phạm tội giả chiếu ban cho Hành Sơn vương lấy trăm cân vàng, đáng chém ngoài chợ, nhưng ốm chết, nước phong bị phế.

Lục Giả

Lục Giả, người Sở, là môn khách theo Cao tổ bình định thiên hạ, nổi danh là biện sĩ có tài nói năng, ở bên Cao tổ, thường đi sứ chư hầu.

Đến thời Cao tổ, trong nước mới yên, Úy Đà bình định Nam Việt, nhân đó xưng vương. Cao tổ sai Lục Giả ban cho Úy Đà ấn Nam Việt vương. Lục sinh đến, Úy Đà búi tóc ngồi xổm tiếp kiến Lục sinh. Lục sinh nhân đó tiến đến thuyết phục Đà: “Túc hạ là người trong nước, phần mộ của thân thích anh em ở Chân Định. Nay túc hạ làm trái thiên tính, vứt bỏ đai mũ, chực đem đất Việt cỏn con làm nước đối địch thiên tử, họa vào thân đó. Vả lại Tần chính trị rối ren, chư hầu hào kiệt cùng nổi dậy, chỉ Hán vương vào Quan Trung trước, chiếm được Hàm Dương. Hạng Vũ bội ước, tự lập làm Tây Sở bá vương, chư hầu đều quy phục, có thể gọi là cực mạnh. Nhưng Hán vương nổi lên ở đất Ba, Thục, chế ngự thiên hạ, hàng phục chư hầu, thảo phạt rồi diệt Hạng Vũ. Trong năm năm, bốn bể bình định, đó không phải sức người, là do trời dựng cho. Thiên tử nghe nói quân vương làm vua Nam Việt, không giúp thiên hạ diệt kẻ bạo ngược, các tướng văn võ muốn đem quân chinh phạt quân vương, thiên tử thương trăm họ mới vất vả khốn khổ, nên cho nghỉ ngơi, sai tôi trao ấn cho quân vương, chia phù tiết để sứ qua lại. Quân vương nên ra ngoài thành nghênh đón, quay mặt về bắc xưng thần, đằng này lại muốn đem nước Việt mới dựng chưa yên, cậy mạnh ở đây ư? Nhà Hán biết được, đào đốt mồ mả tổ tiên ngài trước, rồi tru diệt tông tộc, sai một viên phó tướng đem mười vạn quân đến nước Việt, nước Việt sẽ giết quân vương rồi hàng Hán, dễ như trở bàn tay thôi.”

Nghe vậy Úy Đà vội ngồi dậy, tạ lỗi với Lục sinh: “Ở nước man di lâu, thực mất cả lễ nghĩa.” Nhân hỏi Lục sinh: “Ta với Tiêu Hà, Tào Tham, Hàn Tín, ai giỏi hơn?" Lục sinh đáp: “Quân vương giỏi như họ.” Lại hỏi: “Ta với hoàng đế ai giỏi hơn?" Lục sinh đáp: “Hoàng đế dấy lên ở đất Phong, Bái, phạt Tần bạo ngược, diệt Sở hùng mạnh, tạo lợi trừ hại cho thiên hạ, kế nghiệp của Ngũ đế Tam vương, thống trị Trung nguyên. Người trong nước có đến muôn vàn, đất vuông vạn dặm, ở chỗ đất đai màu mỡ trong thiên hạ, người đông xe lắm, muôn vật giàu thịnh, chính trị thống nhất một nhà, từ khi trời đất phân chia chưa từng có vậy. Nay quân vương binh chưa quá mấy chục vạn, đều là man di, ở chỗ non bể lô nhô, ví như một quận của Hán, quân vương sao so với Hán được?” Úy Đà cả cười nói: “Ta không dây ở Trung nguyên, cho nên làm vua ở đây. Ví thử ta ở Trung nguyên, biết đâu chẳng như nhà Hán?" Rồi rất thích Lục sinh, giữ lại uống rượu mấy tháng, nói: “Trong nước Việt không ai đáng nói chuyện, đến lúc ông tới, khiến ta hằng ngày được nghe những điều chưa từng nghe.” Ban cho Lục sinh một đãy đáng giá nghìn vàng, tặng tiễn chân cũng nghìn vàng. Lục sinh trao cho Úy Đà ấn phong làm Nam Việt vương, khiến Úy Đà hứa xưng thần thờ nhà Hán. Về báo, Cao tổ cả mừng, phong Giả làm Thái trung đại phu.

Trước mặt Cao đế, Lục sinh hay dẫn Thi, Thư. Cao đế mắng rằng: “Ông mày ngồi trên ngựa lấy được thiên hạ, đâu cần Thi, Thư!" Lục sinh nói: “Ngồi trên ngựa lấy được thiên hạ, liệu có thể ngồi trên ngựa cai trị thiên hạ không? Vả như Thành Thang, Vũ vương, lấy ngược[1] mà giữ thuận[2], dùng cả văn võ, là thuật cai trị lâu dài vậy. Xưa, Ngô vương Phù Sai, Trí bá chuộng võ quá mà bị diệt; Tần dùng hình pháp mà không thay đổi, rốt cuộc họ Triệu bị[3] diệt. Nếu sau khi Tần chiếm được thiên hạ, thi hành nhân nghĩa, theo khuôn phép tiên thánh, bệ hạ đâu đoạt được thiên hạ?” Cao đế không hài lòng nhưng có vẻ thẹn, bèn bảo Lục sinh: “Thử viết ra nguyên do khiến Tần mất thiên hạ, ta được thiên hạ, cùng sự thành bại của các nước thời xưa.” Lục sinh bèn thuật qua những điềm báo tồn vong, viết ra mười hai thiên. Mỗi lần tấu một thiên, Cao đế không lần nào không khen hay, tả hữu đều hô vạn tuế, gọi sách đó là Tân ngữ.

Thời Hiếu Huệ đế, Lã thái hậu nắm quyền, muốn phong vương người họ Lã, sợ đại thần phản đối, Lục sinh tự xét không thể can nổi, bèn thác bệnh cáo quan về nhà. Cho ruộng đất Hảo Chỉ tốt, có thể làm nhà. Có năm con trai, liền lấy đãy chứa nghìn vàng được tặng khi đi sứ Nam Việt, chia cho các con, mỗi con hai trăm vàng, sai dùng làm sinh kế. Lục sinh thường ngồi xe bốn, có mười người hát, múa, đánh đàn cầm đàn sắt đi theo, kiếm báu đáng giá trăm vàng, bảo các con rằng: “Hẹn với các ngươi: ta qua chỗ các ngươi, các ngươi cho người ngựa của ta ăn cơm uống rượu, thỏa thuê, mười ngày đổi sang nhà khác. Ta chết ở nhà nào, người đó được kiếm báu, ngựa xe, hầu cận của ta. Trong một năm lại đến làm khách ở nhà khác, đến không quá hai ba lần, gặp nhiều không tươi, đừng thấy đến nhiều mà ghét ta.”

Thời Lã thái hậu, phong vương người họ Lã, họ Lã chuyên quyền, muốn uy hiếp hoàng đế nhỏ, họ Lưu nguy. Hữu thừa tướng Trần Bình lo lắng, sức không thể cưỡng, sợ họa vào thân, khi rỗi thường ở nhà nghỉ việc đó. Lục sinh đến thỉnh an, vào thẳng chỗ ngồi, Trần thừa tướng đang chìm trong suy nghĩ, nhất thời không thấy Lục sinh. Lục sinh hỏi: “Ngài nghĩ gì suy tư thế?” Trần Bình đáp: “Ông đoán xem tôi nghĩ gì?” Lục sinh nói: “Ngài địa vị Tể tướng, thực ấp ba vạn hộ, tước liệt hầu, có thể gọi là cực giàu sang không ham muốn gì nữa. Thế mà còn lo lắng, chẳng qua lo người họ Lã, và việc hoàng đế còn nhỏ thôi.” Trần Bình nói: “Phải. Làm thế nào đây?” Lục sinh nói: “Thiên hạ yên định, trông vào Thừa tướng; thiên hạ nguy nan, trông vào võ tướng. Hai tướng hòa hợp, kẻ sĩ mến chuộng theo về; kẻ sĩ mến chuộng theo về, thiên hạ dẫu có biến, quyền lực vẫn không bị chia. Kế sách cho xã tắc, do hai vị nắm cả. Tôi luôn muốn nói với Thái úy Giáng hầu, Giáng hầu hay đùa với tôi, nên xem nhẹ lời tôi. Sao ông không kết thâm giao với Thái úy?” Rồi vạch cho Trần Bình một số cách đối phó họ Lã. Trần Bình theo kế ấy, lấy năm trăm cân vàng mang sang chúc thọ Giáng hầu, mang cả nhạc công, mỹ tửu; Thái úy cũng trả lễ tương tự. Hai người kết thâm giao, khiến mưu của họ Lã ngày một khó. Trần Bình đem trăm nô tỳ, năm mươi cỗ xe ngựa, năm trăm vạn tiền, tặng Lục sinh làm chi phí ăn uống. Lục sinh dùng những thứ đó giao du với công khanh triều đình nhà Hán, thanh danh ngày càng nổi.

Trong việc diệt họ Lã, lập Hiếu Văn đế, Lục sinh có rất nhiều công lao. Hiếu Văn đế lên ngôi, muốn sai người đi sứ Nam Việt. Bọn Trần thừa tướng đề nghị phong Lục Giả làm Thái trung đại phu, đi sứ Úy Đà, khiến Úy Đà không dùng xe che lọng lụa vàng[4], lệnh ban ra không xưng là “chế”, khiến ngang hàng chư hầu, đều như ý chỉ. Các việc ấy được ghi trong “Nam Việt Úy Đà liệt truyện”. Cuối cùng Lục Giả tuổi cao qua đời.

Chu Kiến

Bình Nguyên quân Chu Kiến, người Sở. Tiên tổ vốn làm Thừa tướng cho Hoài Nam vương Kình Bố, có tội bị bãi chức, sau lại phụng sự Kình Bố. Lúc Bố định làm phản, hỏi Bình Nguyên quân, Bình Nguyên quân không tán thành, Bố không nghe mà theo lời Lương Phủ hầu, rồi làm phản. Nhà Hán giết Kình Bố, nghe nói Bình Nguyên quân can ngăn không dự mưu, không bị giết. Việc này ghi trong phần “Kình Bố liệt truyện”.

Bình Nguyên quân giỏi biện bác, liêm khiết cương trực, nhà ở Trường An. Làm việc thì không tùy tiện a dua, vì nghĩa mà không nhún mình thỏa hiệp. Tịch Dương hầu phẩm hạnh bất chính, được Lã thái hậu sủng ái. Khi Tịch Dương hầu muốn kết giao với Bình Nguyên quân, Bình Nguyên quân không chịu gặp. Tới khi mẹ Bình Nguyên quân chết, Lục sinh vốn thân Bình Nguyên quân, qua viếng thăm. Bình Nguyên quân nhà nghèo, chưa có tiền để phát tang, đang phải đi mượn trang phục đồ đạc để phát tang, Lục sinh bảo Bình Nguyên quân cứ phát tang. Lục sinh đến gặp Tịch Dương hầu, chúc mừng rằng: “Mẹ Bình Nguyên quân chết rồi.” Tịch Dương hầu hỏi: “Mẹ Bình Nguyên quân chết, sao lại chúc mừng tôi?” Lục Giả đáp: “Ngày trước quân hầu muốn kết giao với Bình Nguyên quân, Bình Nguyên quân vì nghĩa không chịu kết giao, vì mẹ ông ta còn sống. Nay, mẹ ông ta chết, nếu ngài đem hậu lễ giúp việc tang, ông ta có thể chết vì ngài đấy.” Tịch Dương hầu bèn đem giúp trăm cân vàng cùng tang phục. Các liệt hầu, quý nhân khác vì Tịch Dương hầu, cũng mang lễ giúp đến năm trăm cân vàng.

Tịch Dương hầu được Lã thái hậu sủng ái, có người hủy báng Tịch Dương hầu với Hiếu Huệ đế, Hiếu Huệ đế cả giận, sai giao cho pháp quan, muốn giết đi. Lã thái hậu thẹn, không thể mở lời, Đại thần phần nhiều ghét phẩm hạnh Tịch Dương hầu, muốn nhân đấy giết đi. Tịch Dương hầu bí bách, sai người muốn cầu kiến Bình Nguyên quân. Bình Nguyên quân từ chối: “Việc hình ngục cấp bách, không dám gặp ngài.” Rồi đi cầu kiến Hoành Tịch Nhụ, sủng thần của Hiếu Huệ đế, thuyết phục ông ta rằng: “Ngài được hoàng đế sủng ái, thiên hạ không ai không biết. Nay, Tịch Dương hầu được Thái hậu sủng ái mà bị giao cho pháp quan, người ngoài đường đều nói do ngài gièm, muốn giết đi. Nay Tịch Dương hầu bị giết, mai Thái hậu mang giận, cũng giết ngài thôi. Sao không cởi trần vì Tịch Dương hầu cầu xin hoàng đế? Hoàng đế nghe ông, thả Tịch Dương hầu, Thái hậu cả mừng. Hai chúa đều sủng ái ngài, ngài giàu sang gấp đôi vậy.” Nghe vậy Hoành Tịch Nhụ cả sợ, theo kế đó, nói với hoàng đế, quả nhiên Tịch Dương hầu được tha. Tịch Dương hầu bị tù, muốn gặp Bình Nguyên quân, Bình Nguyên quân không gặp, Tịch Dương hầu cho ông ta quay lưng với mình, cả giận. Đến khi kế thành, được ra ngoài, hết sức kinh ngạc.

Lã thái hậu băng, đại thần muốn giết người họ Lã, Tịch Dương hầu vô cùng thân thiết họ Lã, cuối cùng không bị giết. Kế hoạch sở dĩ được thành toàn, đều nhờ công sức Lục Giả và Bình Nguyên quân.

Thời Hiếu Văn đế, Hoài Nam Lệ vương giết Tịch Dương hầu, cho có quan hệ với họ Lã. Văn đế nghe môn khách Bình Nguyên quân vạch kế, sai người đến bắt định trị tội. Nghe có viên lại đến cổng, Bình Nguyên quân định tự sát. Các con cùng viên lại đều nói: “Chưa biết sự tình thế nào, sao phải vội tự sát?” Bình Nguyên quân nói: “Ta chết thì tai họa hết, không liên lụy đến các ngươi.” Rồi tự cắt cổ. Hiếu Văn đế nghe tin thương tiếc, nói: “Ta không có ý giết ông ta.” Bèn triệu con trai Bình Nguyên quân đến, phong làm Trung đại phu. Đi sứ Hung Nô, Thiền vu vô lễ, bèn mắng Thiền vu, rồi chết ở Hung Nô.

Ban đầu, Bái công dẫn quân qua Trần Lưu, Lịch sinh đến cửa quân doanh đưa danh thiếp xin gặp, nói: “Tiện dân Lịch Dị Cơ ở Cao Dương, trộm nghe Bái công dầm sương, đem quân giúp Sở phạt kẻ bất nghĩa, kính phiền Tòng giả, xin được gặp mặt, đích thân nói về lợi ích thiên hạ.” Sứ giả vào báo, Bái công đang rửa chân, hỏi sứ giả: “Hắn ta thế nào?" Sứ giả đáp: “Dáng vẻ giống đại nho, mặc áo nhà nho, đội Trắc chú[5].” Bái công nói: “Từ chối giúp ta, nói ta đang bận việc thiên hạ, chưa rảnh để gặp nhà nho.” Sứ giả ra từ chối rằng: “Bái công kính cẩn tạ lỗi tiên sinh, ngài đang bận việc thiên hạ, chưa rảnh để gặp nhà nho.” Lịch sinh trừng mắt vỗ kiếm mắng sứ giả rằng: “Cút! Vào nói với Bái công, ta là bợm rượu Cao Dương, không phải nhà nho.” Sứ giả sợ, đánh rơi cả danh thiếp, quỳ xuống để nhặt, rồi quay đầu chạy, lại vào bảo: “Khách là tráng sĩ trong thiên hạ, quát thần, thần sợ đến mức rơi cả danh thiếp. Khách quát: 'Cút! Vào nói lại, ông mày là bợm rượu ở Cao Dương.'” Bái Công vội đi chân trần cầm giáo nói: “Mời khách vào!”

Lịch sinh vào, vái Bái công nói: “Túc hạ thật khổ, dãi nắng dầm mưa, đem quân giúp Sở phạt kẻ bất nghĩa, sao bản thân túc hạ không thấy vui? Thần xin cầu kiến, lại nói: 'Ta đang bận việc thiên hạ, chưa rảnh để gặp nhà nho.' Túc hạ muốn làm đại sự trong thiên hạ để nên đại công trong thiên hạ, nhưng nhìn vẻ bề ngoài, e để mất hiền sĩ trong thiên hạ. Vả thần đoán trí của túc hạ không bằng thần, dũng cũng chẳng bằng thần. Nếu muốn thành đại nghiệp mà không chịu gặp, trộm cho là thất sách của túc hạ vậy.” Bái công tại lỗi rằng: “Hồi nãy chỉ nghe dung mạo tiên sinh, nay đã biết ý tiên sinh rồi.” Bèn mời Lịch sinh vào ngồi, hỏi cách lấy thiên hạ. Lịch sinh đáp: “Túc hạ muốn thành đại công, chẳng bằng dừng ở Trần Lưu. Trần Lưu là chỗ xung yếu của thiên hạ, chỗ hội tụ quân binh, trữ hàng nghìn vạn thạch lương, thành trì vô cùng kiên cố. Thần vốn thân với Huyện lệnh ở đây, xin vì túc hạ đi thuyết phục. Nếu ông ta không nghe, thần sẽ vì túc hạ giết ông ta, rồi chiếm Trần Lưu. Túc hạ đem lấy quân chúng Trần Lưu, chiếm thành Trần Lưu, hưởng lương trữ ở đây, chiều tập quân trong thiên hạ, quân binh đã đầy đủ, túc hạ tung hoành thiên hạ, không ai có thể gây nguy cho túc hạ được.” Bái công nói: “Xin kính cẩn nghe lệnh.”

Thế rồi đương đêm Lịch sinh đi gặp Huyện lệnh Trần Lưu, thuyết phục rằng: “Xét, Tần làm việc vô đạo nên thiên hạ đều phản, nay túc hạ cùng thiên hạ theo thì có thể thành đại công. Nếu riêng vì Tần sắp diệt vong mà giữ thành phòng thủ thật vững, tôi trộm thấy nguy thay cho túc hạ.” Huyện lệnh Trần Lưu đáp: “Pháp luật Tần cực nghiêm ngặt, không được nói xằng, ai nói xằng sẽ bị giết, tôi không thể nghe lời được. Điều tiên sinh chỉ dạy, không phải ý của tôi, xin đừng nói nữa.” Lịch sinh ngủ lại, nửa đêm chém đầu Huyện lệnh Trần Lưu, trèo tường thành về báo với Bái công. Bái công dẫn quân đánh thành, bêu đầu Huyện lệnh lên cây sào cao để người trong thành nhìn thấy, nói: “Mau hàng, đầu Huyện lệnh đã đứt! Nay, kẻ nào không hàng ắt bị chém trước!” Người huyện Trần Lưu thấy Huyện lệnh đã chết, bèn kéo nhau ra hàng Bái công. Bái công ở trên cổng phía nam thành Trần Lưu, nhân binh khí trong kho, lương thảo tích trữ, ở lại ba tháng, quân chiêu tập lên đến hàng vạn, bèn kéo vào đánh phá Tần.

Thái sử công bàn rằng: Sách trên đời chép về Lịch sinh, phần nhiều nói Hán vương phá được Tam Tần, sang đông đánh Hạng Tịch rồi dẫn quân đến giữa đất Củng, Lạc, Lịch sinh mặc áo nhà nho đến thuyết Hán vương. Điều đó không đúng. Từ khi Bái công chưa vào Quan Trung, từ biệt Hạng Vũ rồi đến Cao Dương, có được anh em Lịch sinh rồi. Ta được mười hai thiên sách Tân ngữ của Lục Giả, ông ta đúng là biện sĩ trên đời. Đến thời con Bình Nguyên quân thân thiết với ta, nên được nói lại đầy đủ về Bình Nguyên quân.

[1] Ý nói đều đánh giết thiên tử để đoạt thiên hạ.

[2] Ý nói thuận theo tình thế sau khi đã bình định để chuyển đổi từ dùng vũ lực sang dùng cả văn lẫn võ.

[3] Nhà Tần vốn trước mang họ Doanh, sau do được phân phong nên lấy tên nước phong làm tên họ, từng được phong ở Triệu Thành nên còn mang họ Triệu.

[4] Loại xe dành cho thiên tử, lót xe và che lọng bằng lụa vàng, bên trái cắm cờ trang sức bằng đuôi một loài bò có lông đuôi dài gọi là "mao ngưu". Đoạn này ý nói Lục Giả đi sứ Nam Việt, thuyết phục Triệu Đà không tiếm dụng nghi lễ của thiên tử, không xưng đế.

[5] Trắc chú: một loại mũ thời cổ, còn gọi là mũ Cao sơn, có lẽ là loại mũ nhà nho hay đội.

Phạm Văn Ánh (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.