Sử Ký II. Liệt Truyện (Thượng)

Lượt đọc: 396 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 99 LƯU KÍNH, THÚC TÔN THÔNG LIỆT TRUYỆN

❊ ❊ ❊

Lưu Kính

Lưu Kính, người Tề. Hán vương năm thứ năm, làm lính ở Lũng Tây, qua Lạc Dương, Cao đế ở đó. Lâu Kính[1] bỏ xe nhỏ, mặc áo da dê, gặp Ngu tướng quân người Tề, nói: “Tôi muốn yết kiến hoàng thượng để nói điều lợi.” Ngu tướng quân muốn cho áo đẹp, Lâu Kinh nói: “Tôi mặc áo lụa, thì áo lụa đi yết kiến; mặc áo vải thô thì áo vải thô đi yết kiến. Quyết không dám thay áo khác.” Thế rồi Ngu tướng quân vào nói với hoàng thượng. Hoàng thượng triệu vào gặp, cho ăn uống.

Sau đó hỏi Lâu Kính, Lâu Kính nói: “Bệ hạ đóng đô ở Lạc Dương, há muốn hưng thịnh ngang nhà Chu chăng?" Hoàng thượng đáp: “Phải.” Lâu Kính nói: “Cách bệ hạ lấy thiên hạ khác nhà Chu. Tổ tiên nhà Chu từ Hậu Tắc, được đế Nghiêu phong đất Thai, tích đức tích thiện hơn mười đời. Công Lưu tránh Kiệt nên ra đất Bân. Thái vương vì Địch đánh cướp, bỏ đất Bân, ruổi ngựa đến đất Kỳ, người trong nước tranh nhau theo. Đến khi Văn vương làm Tây bá, phân xử việc kiện tụng của Ngu, Nhuế, bắt đầu nhận mệnh, Lã Vọng, Bá Di từ bãi biển đến quy phụ. Vũ Vương đánh Trụ, chẳng hẹn mà hội được tám trăm chư hầu ở trên Mạnh Tân, đều nói Trụ đáng đánh, rồi diệt Ân. Thành vương lên ngôi, bọn Chu công phụ tá, xây Thành Chu, Lạc Ấp, lấy đó làm trung tâm thiên hạ, chư hầu bốn phương vào dâng cống, lộ trình ngang nhau, có đức sẽ dễ làm vua, không đức ắt dễ diệt vong. Phàm người chốn này, muốn khiến Chu chuộng đức để người ta đến, không muốn nương chỗ hiểm khiến đời sau kiêu sa bạo ngược với dân. Đến khi Chu hưng thịnh, thiên hạ hòa hợp, người Di bốn phương đều theo phong hóa, mộ nghĩa chuộng đức, thành tâm quy phục, phụng sự thiên tử, không phải dùng một sĩ tốt đóng đồn, một binh sĩ đi đánh, dân chúng nước lớn ngoại di không ai không thần phục, dâng cống thiên tử. Đến khi Chu suy vi, bị chia làm hai, thiên hạ không ai vào chầu, Chu cũng không thể khống chế. Không phải đức họ mỏng đâu, mà hình thế suy yếu vậy. Nay bệ hạ nổi lên từ đất Phong, Bái, thu được ba nghìn người, theo lối tắt đến chiếm Thục, Hán, bình định Tam Tần, giao chiến với Hạng Vũ ở Huỳnh Dương, tranh đoạt cửa khẩu Thành Cao, đánh lớn bảy mươi trận, đánh nhỏ bốn mươi trận, khiến dân chúng thiên hạ gan óc lầy đất, cha con phơi xương trắng ngoài đồng, nhiều không kể xiết, tiếng khóc lóc chưa nguôi, vết thương chưa lành, lại muốn hưng thịnh như thời Thành, Khang, thần trộm cho không bằng được. Vả lại đất Tần lắm núi có Hoàng Hà bao bọc, biên tái bốn phía hiểm trở, thình lình nguy cấp, quân trăm vạn có thể tập hợp đủ. Dựa vào thế của Tần, lại thêm đất đai màu mỡ, đó là kho trời vậy. Bệ hạ vào Quan Trung rồi đóng đô. Sơn Đông dễu loạn, đất cũ của Tần vẫn có thể bảo toàn. Xét lẽ, đấu với người, không chen yết hầu, đánh vào sau lưng, không chắc toàn thắng. Nay bệ hạ vào Quan Trung đóng đô, chiếm đất cũ nước Tần, là chẹn yết hầu thiên hạ rồi đánh úp sau lưng đấy.”

Cao đế hỏi quần thần, quần thần đều người Sơn Đông, tranh nói nhà Chu mấy trăm năm, nhà Tần hai đời đã diệt vong, chẳng bằng đóng đô ở Chu. Hoàng thượng do dự chưa quyết. Đến khi Lưu hầu nói rõ điểm lợi nếu vào Quan Trung, ngay hôm ấy đánh xe sang tây đóng đô ở Quan Trung.

Thế rồi Hoàng thượng nói: “Người ban đầu nói đóng đô đất Tần là Lâu Kính, Lâu tức là Lưu vậy.” Bèn ban họ Lưu, phong làm Lang trung, hiệu là Phùng Xuân quân.

Hán Cao tổ năm thứ bảy, Hàn vương Tín làm phản, Cao đế tự cầm quân đánh. Tới Tấn Dương, nghe tin Tín cùng Hung Nô muốn hợp sức đánh Hán, Hoàng thượng cả giận, sai người đi sứ Hung Nô. Hung Nô giấu tráng sĩ khỏe, trâu ngựa béo, chỉ cho thấy người già trẻ nhỏ, gia súc gầy. Sứ giả qua lại mười lần, đều nói có thể đánh Hung Nô. Hoàng thượng sai Lưu Kính lại đi sứ Hung Nô, về báo rằng: “Hai nước giao tranh, đáng lý phải khoa trương thế mạnh. Nay thần sang đó, chỉ thấy gia súc gầy còm, người già trẻ nhỏ, ắt muốn ta thấy chỗ yếu, mai phục kỳ binh để tranh lợi. Ngu thần cho là không thể đánh Hung Nô.” Lúc ấy quân Hán đã qua Câu Chú, hơn hai mươi vạn quân đã xuất phát. Hoàng thượng giận, mắng Lưu Kính: “Thằng mọi nước Tề! Nhờ miệng lưỡi được làm quan, nay lại nói xằng ngăn trở quân ta.” Bèn đóng gông Kính, giải ra Quảng Vũ. Cao đế lên đường, đến Bình Thành, Hung Nô quả nhiên xuất kỳ binh bao vây Cao đế ở Bạch Đằng, bảy ngày sau mới thoát được. Cao đế đến Quảng Vũ, xá tội Kính, nói: “Ta không nghe lời ông, nên bị vây khốn ở Bình Thành. Ta đã chém mười sứ giả trước đây nói có thể đánh.” Bèn phong Kính hai nghìn hộ, làm quan Nội hầu, hiệu Kiến Tín hầu.

Cao đế bãi binh từ Bình Thành về, Hàn vương Tín trốn vào đất Hồ. Bấy giờ, Mặc Đốn làm Thiền vu, quân mạnh, cung nỏ có ba mươi vạn, nhiều lần đánh phá biên giới phía bắc. Hoàng thượng lo lắng, hỏi Lưu Kính. Lưu Kính đáp: “Thiên hạ mới yên, sĩ tốt buông binh khí, chưa thể dùng vũ lực chế phục. Mặc Đốn giết cha cướp ngôi, lấy các vợ của cha, cậy sức ra oai, chưa thể dùng nhân nghĩa thuyết phục. Chỉ có thể tính kế lâu dài để con cháu hắn xưng thần thôi, e là bệ hạ không làm được.” Hoàng thượng nói: “Nếu có thể, sao ta không làm! Vậy phải làm sao?” Lưu Kinh đáp: “Nếu bệ hạ đem công chúa dòng đích gả cho hắn, đem nhiều của cải tặng cho, hắn biết nhà Hán gả con gái đích lại đưa lễ hậu, man di ắt thích phong làm Yên chi, sinh con ắt làm Thái tử, thay làm Thiền vu. Tại sao? Tham nhiều của cải nhà Hán. Hằng năm bệ hạ đem những thứ nhà Hán thừa họ thiếu, tặng cho nhiều lần, nhân đó sai biện sĩ dùng lễ tiết khuyên dụ. Mặc Đốn còn thì vốn là con rể; chết đi thì cháu ngoại bệ hạ làm Thiền vu. Há từng nghe cháu ngoại dám chống lễ tiết của ông ngoại chăng? Dùng binh có thể không đánh lại dần khiến thần phục. Nếu bệ hạ không thể sai trưởng công chúa, lại sai người trong tông thất hoặc hậu cung giả danh công chúa, hắn mà biết được, không chịu gần gũi, vậy chẳng ích gì.” Cao để nói: “Phải.” Định sai trưởng công chúa đi, Lã hậu ngày đêm khóc lóc, nói: “Thiếp chỉ có Thái tử và một con gái, sao lại bỏ cho Hung Nô?” Hoàng thượng không thể sai trưởng công chúa đi, bèn lấy con gái nhà khác giả danh trưởng công chúa, gả cho Thiền vu. Sai Lưu Kính sang kết minh ước hòa thân.

Lưu Kính từ Hung Nô về, nhân nói: “Bạch Dương Vương, Lâu Phiền vương ở Hà Nam, Hung Nô, cách Trường An gần bảy trăm dặm, khinh kỵ đi một ngày một đêm có thể đến Tần Trung. Tần Trung mới bị phá, dân ít, đất phì nhiêu, cần tăng lực lượng. Lúc chư hầu mới nổi, không phải họ Điền ở Tề, họ Chiêu, Khuất, Cảnh ở Sở, chẳng thể hứng khởi được. Nay bệ hạ dẫu đóng đô ở Quan Trung, kỳ thực ít người. Phía bắc gần giặc Hồ, phía đông có tông tộc của sáu nước, tông tộc mạnh, ngày kia có biến, bệ hạ cũng chưa kê cao gối mà nằm được đâu. Thần xin bệ hạ dời họ Điền ở Tề, họ Chiêu, Khuất, Cảnh ở Sở, cùng hậu duệ Yên, Triệu, Hàn, Ngụy, cho tới hào kiệt danh gia đến ở Quan Trung. Vô sự, có thể phòng giặc Hồ; chư hầu có biến, cũng đủ sức dẫn quân chinh phạt phía đông. Đó là thuật gốc mạnh ngọn yếu vậy.” Hoàng thượng nói: “Phải.” Bèn sai Lưu Kính dời các họ gồm hơn mười vạn khẩu đến Quan Trung.

Thúc Tôn Thông

Thúc Tôn Thông, người đất Tiết. Thời Tần, nhờ văn tài được trưng dụng, làm Đãi chiếu bác sĩ. Mấy năm sau, Trần Thắng dấy Sơn Đông, sứ giả báo tin, Nhị thế triệu Bác sĩ cùng các nho sinh đến hỏi: “Lính thú Sở đánh đất Kỳ vào đất Trần, các ông nói xem phải làm sao?” Bác sĩ cùng các nho sinh hơn ba mươi người tiến đến nói: “Bề tôi không được mang lòng loạn nghịch, loạn nghịch tức làm phản, tội chết không thể tha. Xin bệ hạ kíp phát binh đến đánh.” Nhị thế giận, biến sắc. Thúc Tôn Thông tiến lên nói: “Lời các nho sinh đều không đúng. Thiên hạ hợp thành một nhà, hủy bỏ thành lũy ở quận huyện, nấu chảy binh khí, để tỏ cho thiên hạ sẽ không dùng nữa. Vả trên có minh chúa, dưới có pháp lệnh đầy đủ, khiến ai nấy giữ chức phận, bốn phương hướng về, sao dám làm phản! Đó chỉ là lũ trộm gà bắt chó thôi, đâu cần nói đến. Nay Quận thú, Huyện úy bắt chúng luận tội, không đáng lo ngại.” Nhị thế mừng nói: “Phải.” Hỏi khắp lượt nho sinh, các nho sinh đều nói làm phản, có người nói bọn trộm. Nhị thế liền lệnh Ngự sử đem các nho sinh nói là làm phản giao pháp quan trị tội, vì nói điều không nên nói. Các nho sinh nói là bọn trộm đều bãi miễn. Bèn ban cho Thúc Tôn Thông hai mươi xấp lụa trắng, một bộ quần áo, phong làm Bác sĩ. Thúc Tôn Thông đã ra khỏi cung, về nhà riêng, các nho sinh hỏi: “Tiên sinh sao nói nịnh bợ thế?” Thông đáp: “Các ông không biết đấy thôi, ta suýt không thoát khỏi miệng cọp!” Bèn trốn đi, đến đất Tiết, đất Tiết đã hàng Sở. Khi Hạng Lương đến đất Tiết, Thúc Tôn Thông theo. [Hạng Lương] thua ở Định Đào, theo Hoài vương. Hoài vương làm Nghĩa đế, dời đến Trường Sa, Thúc Tôn Thông ở lại thờ Hạng vương. Hán vương năm thứ hai, Hán vương thống lĩnh năm chư hầu vào Bành Thành, Thúc Tôn Thông hàng Hán vương. Hán vương thua rồi về tây, nhân đó lại theo Hán.

Thúc Tôn Thông mặc nho phục, Hán vương rất ghét. Bèn đổi y phục, mặc áo ngắn, may kiểu Sở, Hán vương thích.

Thúc Tôn Thông hàng Hán, nho sinh đệ tử hơn trăm người đi theo, nhưng Thông không tiến cử ai, chuyên tiến cử những người trước là trộm cắp, tráng sĩ. Đệ tử đều chửi thầm: “Thờ tiên sinh mấy năm, may được theo hàng Hán, nay không thể tiến cử bọn tôi, chỉ tiến cử bọn gian hoạt, là sao?” Thúc Tôn Thông nghe được, bèn bảo rằng: “Hán vương đang xông pha tên đạn tranh đoạt thiên hạ, các trò đi đánh giết được không? Nên trước hết tiến cử dũng sĩ chém tướng đoạt cờ. Các trò hãy chờ ta, ta không quên đâu.” Hán vương phong Thúc Tôn Thông làm Bác sĩ, hiệu Tắc Tự quân.

Hán vương năm thứ năm, đã thôn tính thiên hạ, chư hầu cùng tôn Hán vương làm hoàng đế tại Định Đào, Thúc Tôn Thông chế định lễ nghi danh hiệu. Cao đế bỏ hết lễ nghi pháp luật hà khắc của Tần, đổi cho đơn giản. Quần thần uống rượu tranh công, có người uống say hô hoán, tuốt kiếm chém cột, Cao đế lo lắng việc đó. Thúc Tôn Thông biết hoàng thượng ngày càng ghét cảnh đó, nói với hoàng thượng rằng: “Đám nhà nho khó có thể cùng giành thiên hạ, nhưng có thể cùng giữ thành quả. Thần xin trưng dụng nho sinh nước Lỗ, cùng đệ tử của thần thiết lập triều nghi.” Cao đế hỏi: “Có khó lắm không?” Thúc Tôn Thông đáp: “Nhạc thời Ngũ đế khác nhau, lễ hội Tam vương không giống nhau. Lễ, theo thời thế nhân tình điều chỉnh cho phù hợp. Cho nên lễ nhà Hạ, Ân, Chu dựa vào chỗ thêm bớt có thể biết được, vì không trùng lặp. Thần xin chọn rộng lễ thời cổ cùng nghi nhà Tần chế định lễ nghi mới.” Hoàng thượng nói: “Hãy làm thử, nếu dễ hiểu, xét xem điều ta thi hành được mới làm.”

Thế là Thúc Tôn Thông sai trưng dụng hơn ba mươi nho sinh nước Lỗ. Có hai nho sinh nước Lỗ không chịu đi, nói: “Ông thờ hàng chục chủ, đều ra mặt nịnh để được thân quý. Nay thiên hạ mới yên định, người chết chưa chôn, người thương chưa lành, lại muốn xướng lễ nhạc. Khởi điểm của lễ nhạc là tích đức trăm năm sau mới thực hiện. Bọn tôi không đành lòng vì ông làm việc đó. Việc ông làm không hợp lễ chế cổ, chúng tôi không làm. Ông đi đi, đừng vấy bẩn đến chúng tôi?” Thúc Tôn Thông cười nói: “Các ông đúng là nhà nho thiển cận, không biết biến đổi theo thời.”

Bèn dẫn ba mươi người trưng dụng được sang tây, cùng tả hữu của hoàng thượng theo học và các đệ tử gồm hơn trăm người luyện tập lễ nghi ngoài đồng. Tập được hơn tháng, Thúc Tôn Thông nói: “Hoàng thượng có thể xem thử.” Hoàng thượng đến xem, sai hành lễ, nói: “Ta có thể theo lễ này.” Bèn lệnh quần thần luyện tập, tháng Mười hội triều.

Hán Cao tổ năm thứ bảy, xây xong cung Trường Lạc, chư hầu quần thần đến chầu tháng Mười. Nghi chế: trước trời sáng, yết giả phụ trách lễ nghi, theo thứ tự dẫn vào Cổng điện, trong sân đình, sắp xe ngựa lính bộ bảo vệ cung điện theo hàng lối, bày binh lính giương cờ xí. Truyền rằng “Rảo bước”, Lang trung dưới điện chạy đến hai bên thềm, mỗi bên mấy trăm người. Công thần, liệt hầu, tướng quân, quan lại trong quân, theo thứ bậc đứng phía tây, quay mặt về đông; quan văn, Thừa tướng trở xuống đứng phía đông, quay mặt về tây. Bày chín người làm dẫn tiến, truyền gọi theo thứ bậc. Thế rồi hoàng đế ngồi xe từ trong phòng đi ra, trăm quan cầm cờ xí, truyền hô chuẩn bị, dẫn các vương hầu xuống đến các quan hạng sáu trăm thạch theo thứ bậc lên chúc mừng. Từ vương hầu trở xuống không ai không sợ sệt kính cẩn. Khi lễ xong, lại bày nghi lễ dâng rượu. Các quan ngồi trên điện đều phủ phục cúi đầu, theo thứ bậc cao thấp đứng lên chúc thọ Hoàng thượng. Dâng chén đủ chín lần, yết giả nói “Thôi rượu”. Ngự sử chấp pháp, ai dâng không đúng nghi thức liền bị đưa đi. Triều hội xong bày tiệc rượu, không ai dám ồn ào thất lễ. Xong xuôi, Cao đế nói: “Hôm nay ta mới biết sự tôn quý của hoàng đế.” Bèn phong Thúc Tôn Thông làm Thái thường, ban năm trăm cân vàng.

Thúc Tôn Thông nhân đó tâu: “Các nho sinh đệ tử theo thần đã lâu, cùng thần chế định lễ nghi, xin bệ hạ cho họ làm quan.” Cao đế cho hết thảy làm quan lang. Thúc Tôn Thông ra về, đem năm trăm cân vàng thưởng các học trò. Các học trò đều vui mừng nói: “Thầy Thúc Tôn thực là thánh nhân, biết việc quan trọng đời nay cần.”

Hán Cao tổ năm thứ chín, Cao đế chuyển Thúc Tôn Thông làm Thái tử thái phó. Hán Cao tổ năm thứ mười hai, Cao đế muốn cho Triệu vương Như Ý thay Thái tử, Thúc Tôn Thông can rằng: “Xưa kia, Tấn Hiến công vì nàng Ly Cơ phế Thái tử, lập Hề Tề thay, khiến Tấn loạn mấy chục năm, bị thiên hạ chê cười. Tần không sớm lập Phù Tô, khiến Triệu Cao giả chiếu lập Hồ Hợi, tự mình dứt tuyệt tế tự tông miếu, đều là việc bệ hạ chính mắt thấy. Nay Thái tử nhân hậu hiếu thuận, thiên hạ đều biết; Lã hậu cùng bệ hạ qua bao khổ cực, lẽ nào lại quay lưng? Nếu bệ hạ muốn phế đích lập thứ, thần xin chịu chết trước, lấy máu trên cổ tưới đất này.” Cao đế nói: “Ông đừng nói nữa, ta chỉ đùa thôi.” Thúc Tôn Thông nói: “Thái tử là gốc thiên hạ, gốc lung lay thiên hạ chấn động, sao coi thiên hạ như trò đùa được!" Cao đế nói: “Ta nghe lời ông.” Đến khi Hoàng thượng bày tiệc rượu, thấy tân khách Lưu hầu vời về theo Thái tử vào yết kiến, Hoàng thượng bèn bỏ ý định thay Thái tử.

Cao đế băng, Hiếu Huệ đế lên ngôi, bèn nói với Thúc Tôn sinh rằng: “Lễ nghi nơi lăng miếu tiên đế, quần thần không ai thông hiểu.” Liền đổi sang chức Thái thường, lập nghi lễ chốn tông miếu. Nghi thức pháp chế nhà Hán đều do Thúc Tôn Thông soạn khi làm Thái thường vậy.

Thái hậu ở cung Trường Lạc, khi thanh nhàn Hiếu Huệ đế thường sang, nhiều lần cấm đường gây phiền người khác, bèn làm cầu nối hai cung, đang xây ở phía nam kho quân giới. Thúc Tôn Thông tấu việc, nhân xin gặp riêng, nói: “Sao bệ hạ tự ý làm cầu chỗ Cao tẩm vậy? Tiên đế hằng tháng áo mũ xuất du ra Cao miếu, Cao miếu là tông miếu của Thái tổ nhà Hán, sao lại cho con cháu đời sau đi đường phía trên tông miếu được?” Hiếu Huệ đế cả sợ, nói: “Hủy bỏ ngay!” Thúc Tôn Thông nói: “Làm vua không thi hành việc sai lầm. Nay đã trót làm, trăm họ đều biết cả, nếu hủy đi, chứng tỏ mình làm sai. Xin bệ hạ làm Nguyên miếu ở bắc sông Vị, hằng tháng Cao tổ mũ áo xuất du ra đó. Mở rộng thêm tông miếu, là gốc của đại hiếu vậy.” Hoàng thượng bèn hạ chiếu sai hữu ty lập Nguyên miếu. Khởi dựng Nguyên miếu, là do trót làm cầu nối hai cung vậy.

Hiếu Huệ đế từng nhân ngày xuân du ngoạn ly cung, Thúc Tôn Thông nói: “Thời cổ có lệ mùa xuân tiến dâng quả mới, nay đang lúc anh đào chín, có thể đem dâng, xin bệ hạ xuất du, nhân đó lấy anh đào dâng tông miếu.” Hoàng thượng bèn đồng ý. Việc dâng tiến các loại quả bắt đầu từ đây.

Thái sử công bàn rằng: Tục ngữ có câu: “Áo cừu nghìn vàng, chẳng phải chỉ từ da nách con cáo; xà cột đài tạ, không phải chỉ từ một cành cây; thời Tam đại, không phải chỉ dựa trí tuệ một kẻ sĩ.” Đáng tin thay! Xét lẽ, Cao tổ dấy từ thuở hàn vi, bình định bốn biển, định kế dùng binh, có thể nói hết mức rồi. Thế nhưng Lưu Kính bỏ xe nói một lần, tạo sự yên định muôn đời, trí tuệ há có thể chỉ một người ư! Thúc Tôn Thông chế định pháp độ, lễ nghi tiến lùi, biến đổi theo thời, cuối cùng trở thành tông sư các nho sinh thời Hán. “Cực thẳng tựa cong, đạo vốn khuất khúc”[2], là nói về việc đó chăng?

[1] Tức Lưu Kính.

[2] Câu này từ sách Đạo đức kinh của Lão tử.

Phạm Văn Ánh (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.