Ngũ Tử Tư người nước Sở, tên là Viên. Cha Viên là Ngũ Xa, anh là Ngũ Thượng. Tổ tiên của Ngũ Tử Tư là Ngũ Cử, thờ Sở Trang vương, can gián thẳng thắn, vô cùng hiển hách, nhờ thế con cháu có danh tiếng ở nước Sở.
Sở Bình vương có thái tử tên là Kiến, sai Ngũ Xa làm Thái phó, Phí Vô Kỵ làm Thiếu phó. Vô Kỵ bất trung với thái tử Kiến. Bình vương sai Vô Kỵ dẫn thái tử sang lấy vợ ở nước Tần, con gái nước Tần rất xinh đẹp, Vô Kỵ phi ngựa về báo với Bình vương rằng: “Người con gái nước Tần ấy tuyệt đẹp, bệ hạ hãy lấy cô ta, đổi thái tử cưới cô khác.” Bình vương bèn lấy cô gái ấy, hết mực sủng ái, sinh con là Chẩn, rồi cho thái tử lấy cô vợ khác.
Vô Kỵ nhân việc cô gái nước Tần nên được Bình vương sủng ái, bèn bỏ thái tử để thờ Bình vương. Song lại sợ một ngày kia, sau khi Bình vương chết, thái tử nối ngôi sẽ giết mình, liền gièm pha thái tử Kiến. Mẹ của Kiến là người đất Sái, không được Bình vương sủng ái. Bình vương dần xa lánh Kiến, sai Kiến trấn giữ Thành Phụ, giữ việc quân phòng chốn biên cảnh.
_h4.jpg)
Không lâu sau, Vô Kỵ lại ngày đêm chê bai thái tử trước mặt Bình vương rằng: “Thái tử vì việc cô gái nước Tần, không thể không oán giận, xin bệ hạ hãy đề phòng. Từ khi thái tử ra Thành Phụ, thống lĩnh quân binh, kết giao chư hầu, ý chừng muốn kéo về làm loạn.” Bình vương bèn triệu Thái phó Ngũ Xa đến tra hỏi. Ngũ Xa biết Vô Kỵ gièm thái tử, nhân nói: “Sao bệ hạ vì lời gièm của kẻ bề tôi hèn mọn mà xem nhẹ tình cốt nhục vậy?” Vô Kỵ nói: “Nay bệ hạ không xử trí, khi việc thành rồi, ắt sẽ bị bắt.” Thế là Bình vương nổi giận, tống Ngũ Xa vào tù, rồi sai quan Tư mã ở Thành Phụ là Phấn Dương đi giết thái tử. Chưa tới nơi, Phấn Dương sai người báo trước cho thái tử rằng: “Thái tử trốn ngay đi, không sẽ bị giết.” Thái tử Kiến liền trốn đến nước Tống.
Vô Kỵ nói với Bình vương: “Ngũ Xa có hai con trai, đều giỏi, ví không giết, sẽ là mối lo của Sở. Hãy dùng cha làm con tin để triệu đến, nếu không sẽ thành tai họa của nước Sở.” Bình vương sai sứ nói với Ngũ Xa: “Ngươi gọi được hai con đến thì sống, nếu không sẽ phải chết.” Ngũ Xa nói: “Thượng là người nhân ái đôn hậu, gọi ắt đến. Viên là người cương cường kiên nhẫn, có thể làm nên đại sự, nó thấy đến sẽ bị bắt, ắt không đến đâu.” Vua không nghe, sai triệu hai người: “Đến, ta để cho các ngươi sống, không đến, hôm nay giết luôn.” Ngũ Thượng định đến, Viên nói: “Sở vương triệu anh em ta tới, không phải muốn cha ta sống đâu, chẳng qua sợ anh em ta thoát được sẽ thành mối lo sau này, nên bắt cha làm con tin, và triệu anh em ta đó. Cả hai cùng đến thì cha con đều chết, có ích gì đâu? Đến thì thù không báo được, chẳng bằng chạy sang nước khác, mượn sức họ mà rửa thù cho cha, chết cả thì vô ích.” Ngũ Thượng nói: “Ta biết là đến cũng chẳng cứu được mạng cha. Nhưng hận nỗi cha triệu ta đến để mong sống mà ta không đến, về sau ví không thể rửa nhục, rốt cuộc bị thiên hạ chê cười.” Bèn báo Viên: “Hãy trốn đi! Em có thể báo được thù cho cha, ta sẽ vào chỗ chết.” Thượng đã bị bắt, sứ giả định bắt Ngũ Tư. Ngũ Tư giương cung, nhằm thẳng sứ giả, sứ giả không dám xông lên, Ngũ Tư nhân đó trốn thoát. Hay tin thái tử Kiến ở nước Tống, Tư liền qua theo. Ngũ Xa nghe tin Tử Tư trốn thoát, bèn than: “Vua tôi nước Sở e sẽ khổ vì binh đao thôi.” Ngũ Thượng đến Sở, Sở vương giết cả hai cha con.
Ngũ Tư vừa đến, nước Tống xảy ra loạn họ Hoa, bèn cùng thái tử Kiến chạy sang nước Trịnh, được người Trịnh rất coi trọng. Thái tử Kiến lại đến nước Tấn, Tấn Khoảnh Công nói: “Thái tử được Trịnh hậu đãi, tức đã tin tưởng. Nếu Thái tử làm nội ứng, ta từ ngoài đánh vào, ắt diệt được nước Trịnh. Diệt Trịnh xong ta sẽ phong đất cho thái tử.” Thái tử Kiến bèn trở về nước Trịnh. Việc chưa thành, thái tử vì tình riêng, định giết những người đi theo, họ biết âm mưu, bèn báo với Trịnh. Trịnh Định công cùng Tử Sản giết thái tử Kiến. Kiến có con là Thắng. Ngũ Tư sợ hãi, bèn cùng Thắng chạy sang nước Ngô. Đến ải Chiêu, quân coi giữ định bắt lại. Ngũ Tư phải cùng Thắng đi bộ mà trốn, suýt không thoát thân. Quân đuổi đến sau. Tới bờ sông, trên sông có ông chài đang chèo thuyền, biết Ngũ Tư nguy cấp, bèn đưa sang sông. Ngũ Tư sang đến bờ, cởi kiếm nói: “Kiếm này đáng giá trăm lượng vàng, xin trao tặng ông.” Người đó nói: “Theo pháp lệnh nước Sở, ai bắt được Ngũ Tư sẽ thưởng năm vạn thạch thóc, ban tước Chấp khuê[1], há chỉ bằng thanh kiếm trăm lạng vàng sao?” nói rồi không nhận. Ngũ Tư chưa đến Ngô thì ốm, phải dừng giữa đường xin ăn. Đến Ngô, Ngô vương là Liêu đang nắm quyền, Công tử Quang làm Tướng quốc. Ngũ Tư bèn thông qua công tử Quang cầu kiến Ngô vương.
Lâu sau, Sở Bình vương vì việc người ấp Chung Ly ở biên giới nước Sở và người ấp Ty Lương Thị ở biên giới nước Ngô đều nuôi tằm, phụ nữ hai bên tranh chấp đất trồng dâu, bèn cả giận, đến mức hai nước giao binh. Nước Ngô sai công tử Quang đánh Sở, chiếm được Chung Ly và Cư Sào rồi rút về. Ngũ Tử Tư nói với Ngô vương Liêu: “Có thể phá được nước Sở, hãy sai công tử Quang tiếp tục cầm quân sang đánh.” Công tử Quang nói với Ngô vương: “Cha và anh của Ngũ Tư kia đều bị Sở vương giết nên khuyên bệ hạ đánh Sở, ý muốn báo thù riêng. Chứ đánh Sở chưa chắc phá được.” Ngũ Tư biết công tử Quang có dã tâm riêng, muốn giết vua để lên thay, nên chưa thể du thuyết việc khác, bèn tiến cử Chuyên Chư cho công tử Quang, rồi lui về cày ruộng cùng con thái tử Kiến là Thắng.
Năm năm sau, Sở Bình vương chết. Lúc trước, Bình vương cướp người con gái nước Tần định gả cho thái tử Kiến, sinh con là Chẩn, Bình vương qua đời, Chẩn được nối ngôi, đó là Chiêu vương. Ngô vương Liêu nhân nước Sở có tang, sai hai công tử đem quân đánh úp nước Sở. Sở đem quân chặn hậu, quân Ngô không còn đường rút. Nước Ngô trống không, công tử Quang bèn lệnh cho Chuyên Chư bất ngờ hành thích Ngô vương, tự lập làm vua, đó là Ngô vương Hạp Lư. Hạp Lư lên ngôi, đắc chí, bèn triệu Ngũ Viên, giao làm Hành nhân[2], cùng bàn việc nước.
Nước Sở giết đại thần là Khích Uyển và Bá Châu Lê. Cháu nội Bá Châu Lê là Bá Phỉ[3] chạy trốn sang Ngô, Ngô cho Phỉ làm đại phu. Trước đây, hai công tử được Ngô vương Liêu sai đem quân đánh Sở, bị chặn đường không về được. Sau, nghe tin Hạp Lư giết Liêu, tự lập làm vua, bèn đem quân hàng Sở, được Sở phong cho đất Thư. Hạp Lư lên ngôi được ba năm, bèn giao Ngũ Tư và Bá Phỉ cất quân đánh Sở, hạ được đất Thư, bắt được cả hai. Nhân đó Hạp Lư định tiến đánh Dĩnh đô nước Sở, tướng quân Tôn Vũ nói: “Dân khó nhọc, chưa thể tiến, hãy chờ đã.” Bèn rút quân về.
Hạp Lư năm thứ tư, nước Ngô đánh nước Sở, chiếm đất Lục và đất Tiềm. Năm thứ năm, lại đánh nước Việt, Việt thua trận. Năm thứ sáu, Sở Chiêu vương sai công tử Nang Ngõa đem quân đánh Ngô. Ngô sai Ngũ Viện dẫn quân đón đánh, đại phá quân Sở tại Dự Chương, chiếm được Cư Sào của Sở.
Năm thứ chín, Ngô vương Hạp Lư bảo Tử Tư và Tôn Vũ: “Khi trước, các ngươi nói chưa thể tiến đánh Dĩnh đô, nay thì sao?” Cả hai đáp: “Tướng Sở là Nang Ngõa tham lam, nước Đường và nước Sái đều hận, bệ hạ muốn cất đại quân tiến đánh, trước tiên cần được Đường, Sái ủng hộ.” Hạp Lư nghe theo, huy động quân đội cùng hai nước Đường, Sái tiến đánh Sở. Ngô và Sở bày trận hai bên Hán Thủy. Em Ngô vương là Phu Khái dẫn tinh binh xin theo, nhà vua không cho, Phu Khái bèn kén năm nghìn quân đánh tướng Sở là Tử Thường. Tử Thường đại bại, chạy đến nước Trịnh. Thế là quân Ngô thừa thắng xông lên, đánh liền năm trận, tiến đến tận Dĩnh đô. Ngày Kỷ Mão, Sở Chiêu vương chạy trốn. Ngày Canh Thìn, Ngô vương vào Dĩnh đô.
Chiêu vương trốn chạy, tiến vào đầm Vân Mộng; bị trộm cướp tấn công, phải chạy đến đất Vân. Em của Vân công là Hoài nói: “Bình vương giết cha ta, ta giết con ông ấy, thế chẳng phải lẽ ư?” Vân công sợ em giết Sở vương, bèn cùng Sở vương chạy đến đất Tùy. Quân Ngô bao vây Tùy, nói với người Tùy rằng: “Con cháu nhà Chu ở Hán Xuyên đều bị Sở giết sạch.” Người Tùy chực giết Sở vương, con Sở vương là Kỳ liền giấu vua đi, tự nhận là Sở vương để thế thân. Người Tùy bói quẻ về quan hệ giữa Sở vương với nước Ngô, điềm gở, bèn tạ lỗi nước Ngô vì đã không giao nộp Ngô vương.
Hồi đầu, Ngũ Viên và Thân Bao Tư giao du với nhau, khi Viên chạy trốn có nói với Bao Tư: “Ta nhất định lật đổ nước Sở.” Bao Tư nói: “Tôi nhất quyết bảo tồn nước Sở.” Đến khi quân Ngô vào Dĩnh đô, Ngũ Tử Tư tìm Chiêu vương. Thế nhưng không thấy, bèn đào mả Sở Bình vương, quật xác lên đánh ba trăm roi mới thôi. Thân Bao Tư chạy trốn vào trong núi, sai người nói với Tử Tư rằng: “Ông báo thù, thực quá lắm! Tôi nghe nói, người đông thì thắng trời, trời định cũng có thể phá được người. Nay ông vốn là bề tôi của Bình vương, thân ngoảnh về bắc mà xưng thần thờ vua, nay quá đến mức người chết rồi còn làm nhục, thế chẳng phải là không coi đạo trời ra gì sao?” Ngũ Tử Tư nói: “Ngươi hãy thay ta tạ lỗi với Thân Bao Tư, ta đường xa sớm tối, chỉ có thể theo cách trái lẽ thường như thế thôi.” Thế rồi Thân Bao Tư chạy sang báo tin nguy cấp và cầu cứu nước Tần. Tần không giúp. Thân Bao Tư đứng giữa sân đình nước Tần, ngày đêm khóc lóc, ròng rã bảy ngày đêm. Tần Ai công động lòng thương, nói: “Sở tuy vô đạo, nhưng có bề tôi như thế, há không bảo tồn nước Sở?” Bèn sai đem năm trăm cỗ xe sang cứu Sở, đánh Ngô. Tháng Sáu, đánh bại quân Ngô ở đất Tắc. Đúng lúc Ngô vương ở Sở tìm kiếm Chiêu vương đã lâu, còn Phu Khái, em của Hạp Lư lại trốn về tự lập làm vua. Hạp Lư nghe tin, liền bỏ Sở rút về đánh Phu Khái. Phu Khái thua chạy, trốn sang nước Sở. Sở Chiêu vương thấy Ngô có nội loạn, bèn trở lại Dĩnh đô, phong cho Phu Khái đất Đường Khê, xưng là Đường Khê thị. Sở lại giao chiến với Ngô, đánh bại quân Ngô, Ngô vương liền rút quân về.
Hai năm sau, Hạp Lư sai thái tử Phù Sai đem quân đánh Sở, chiếm được đất Bà. Sở sợ Ngô lại mang đại quân tiến sang, liền bỏ đất Dĩnh, dời sang đất Nhược. Bấy giờ, Ngô theo kế của Ngũ Tử Tư và Tôn Vũ, tây phá nước Sở hùng mạnh, bắc ra oai với Tề, Tấn, nam chế phục người Việt.
Bốn năm sau, Khổng tử làm Tướng quốc nước Lỗ.
Năm năm sau, Ngô đánh Việt. Việt vương Câu Tiễn đem quân nghênh địch, đánh bại quân Ngô ở Cô Tô, khiến Hạp Lư bị thương ở chân, Ngô phải rút lui. Vết thương của Hạp Lư phát tác, ốm nặng sắp chết, liền bảo thái tử Phù Sai: “Mày có quên việc Câu Tiễn giết cha mày không?" Phù Sai đáp: “Con không dám quên!” Đêm ấy, Hạp Lư chết. Phù Sai lên làm vua, dùng Bá Phỉ làm Tể tướng, sai tập trận, bắn cung. Năm sau, đánh nước Việt, Việt thua trận ở Phù Tưu. Việt vương Câu Tiễn bèn đem hơn năm nghìn tàn quân đóng trên núi Cối Kê, sai đại phu là Chủng mang hậu lễ đến Thái tể Bá Phỉ giảng hòa, xin đem nước Việt làm nước tôi đòi. Ngô vương định đồng ý. Ngũ Tử Tư can rằng: “Việt vương là người có thể chịu đựng cay đắng, nay không diệt đi, sau ắt hối hận.” Ngô vương không nghe, theo kế Thái tể Bá Phỉ, giảng hòa với nước Việt.
Năm năm sau, Ngô vương nghe tin Tề Cảnh công chết, đại thần tranh quyền, vua mới yếu thế, liền xuất quân lên phía bắc đánh Tề. Ngũ Tử Tư can rằng: “Câu Tiễn bữa không ăn hai món, điếu viếng người chết, han hỏi người ốm, là muốn có chỗ dùng họ vậy. Người này không chết, ắt thành mối họa cho Ngô. Nay Ngô còn nước Việt, như người có bệnh trong tim phổi, vậy mà bệ hạ không đánh nước Việt trước mà đi đánh Tề, thế chẳng phải sai lầm ư?” Ngô vương không nghe, đánh Tề, cả phá quân Tề ở Ngải Lăng xong, uy hiếp vua Trâu và vua Lỗ rồi rút về. Từ đó càng lạnh nhạt với mưu kế của Tử Tư.
Bốn năm sau, Ngô vương định kéo quân lên bắc đánh Tề, Việt vương Câu Tiễn theo kế của Tử Cống, bèn xuất quân giúp Ngô, lại đem nhiều châu báu đút lót Thái tể Phỉ. Bá Phỉ nhiều lần nhận hối lộ của nước Việt nên hết sức tin tưởng Câu Tiễn, ngày đêm nói tốt với Ngô vương. Ngô vương nghe theo kế của Bá Phỉ, Ngũ Tử Tư can gián: “Xét lẽ, nước Việt là bệnh trong tim phổi, nay tin theo những lời giả dối của họ, tham đánh Tề. Phá được Tề cũng như có mảnh ruộng đầy đá, dùng được vào việc gì. Vả thiên Bàn Canh chi cáo[4] viết: 'Có kẻ ngả nghiêng không cung kính, phải trừ diệt đi, không để mầm mống, không cho giống lạ mọc ở ấp này.' Đó là lý do khiến nhà Thương hưng thịnh. Xin bệ hạ bỏ việc đánh Tề mà đánh Việt trước; bằng không, sau hối cũng không kịp.” Ngô vương không nghe, sai Tử Tư đi sứ nước Tề. Tử Tư lên đường, nói với con rằng: “Ta can vua nhiều lần, vua đều không nghe, nay ta thấy nhà vua sắp bại vong. Con chết cùng nước Ngô, cũng vô ích thôi.” Bèn gửi gắm con cho Bào Mục ở Tề, rồi về báo cáo tình hình cho Ngô vương.
Thái tể Bá Phỉ vốn có hiềm khích với Tử Tư, nhân đó gièm pha: “Tử Tư là người cương cường tàn bạo, ít lòng nhân, hay ngờ vực, lòng oán hận của ông ta e thành đại họa. Ngày trước bệ hạ muốn đánh Tề, Tử Tư cho là không được, nhưng rốt cuộc bệ hạ lập được đại công. Tử Tư xấu hổ vì mưu kế không được dùng, bèn trở nên oán hận. Nay bệ hạ sắp đánh Tề, Tử Tư lại can ngăn quyết liệt, hủy báng việc đó, những mong nước Ngô thất bại để cho kế của mình cao minh. Nay bệ hạ thân chinh, đem hết quân binh trong nước đi đánh Tề, mà Tử Tư khuyên ngăn lại không nghe, nhân đó ông ta lấy cớ đau ốm không đi, bệ hạ không thể không phòng bị, dễ chừng dấy họa từ đó vậy. Vả Phỉ này ngầm sai người dò xét, ông ta đi sứ sang Tề, đã gửi con cho Bào Mục nước Tề rồi. Xét lẽ, làm phận bề tôi, trong lòng không như ý, bên ngoài lại dựa chư hầu, tự cho mình là mưu thần của tiên vương, nay không được dùng thì sinh oán thán. Xin bệ hạ sớm xử trí ông ta.” Ngô vương nói: “Không cần người nói, ta cũng nghi rồi.” Bèn sai sứ ban cho Tử Tư thanh kiếm Chúc Lũ, nói: “Ngươi dùng kiếm này để tự kết liễu.” Ngũ Tử Tư ngẩng lên trời mà than: “Hỡi ôi! Kẻ bề tôi sàm nịnh Bá Phỉ làm loạn nên nhà vua mới giết ta. Ta từng khiến cha ngươi làm nên nghiệp bá. Từ khi ngươi chưa được lập, các công tử tranh giành ngôi vị, ta cố chết tranh đấu trước tiên vương, ngươi thiếu chút nữa không được lập. Ngươi lên ngôi rồi, muốn chia một phần nước Ngô cho, ta đã không dám vọng tưởng rồi. Nhưng nay ngươi nghe lời bề tôi sàm nịnh mà giết bậc tôn trưởng sao?” Bèn nói với môn khách: “Hãy trồng trên mộ ta một cây tử, sau có thể lấy gỗ làm quan tài khoét mắt ta treo trên cửa đông nước Ngô, để ta tận mắt thấy quân Việt kéo vào diệt nước Ngô.” Thế rồi cắt cổ tự tử. Ngô vương nghe nói cả giận, bèn đem xác Tử Tư cho vào túi da, vứt xuống sông Giang. Người Ngô thương xót Tử Tư, bèn lập miếu thờ bên sông, nhân thế gọi tên núi là Tư Sơn.
Ngô vương giết Ngũ Tử Tư xong bèn đánh Tề. Họ Bào ở nước Tề giết vua là Điệu Công, lập Dương Sinh lên thay. Ngô vương muốn đem quân hỏi tội nhưng không thắng được, phải rút về. Hai năm sau, Ngô vương triệu vua hai nước Lỗ và Vệ hội kiến ở Thác Cao. Năm sau, nhân đã kéo lên phía bắc hội chư hầu tại Hoàng Trì, để ép nhà Chu. Việt vương Câu Tiễn đánh úp giết Thái tử nước Ngô, phá tan quân Ngô. Ngô vương nghe tin, liền rút quân về, sai sứ mang hậu lễ đến nước Việt cầu hòa. Chín năm sau, Việt vương Câu Tiễn liền diệt nước Ngô, giết vua Phù Sai, giết cả Thái tể Bá Phỉ vì cho Phỉ bất trung với vua của mình, còn nhận hối lộ của người ngoài, câu kết với nước Việt.
Trước đây, Thái tử Kiến cùng Ngũ Tử Tư trốn sang nước Sở, con là Thắng ở nước Ngô. Thời Ngô Vương Phù Sai, Sở Huệ vương muốn triệu Thắng về Sở. Diệp Công can rằng: “Thắng hiếu dũng mà ngầm cầu binh sĩ cảm tử, e có lòng riêng!” Huệ vương không nghe, bèn triệu Thắng tới, cho ở đất Yên tại biên giới nước Sở, gọi là Bạch công. Bạch công về Sở được ba năm thì nước Ngô giết Tử Tư.
Bạch Công Thắng về Sở, oán Trịnh giết cha mình, bèn ngầm nuôi dưỡng binh sĩ cảm tử, toan báo thù Trịnh. Về Sở được năm năm, liền đề nghị đánh Trịnh. Sở sai Lệnh doãn Tử Tây đi đánh. Quân Sở chưa xuất phát thì Tấn đã đánh Trịnh, Trịnh cầu cứu Sở. Sở sai Tử Tây sang cứu, kết minh rồi về. Bạch công Thắng tức giận nói: “Không thù nước Trịnh, mà thù Tử Tây.” Thắng đích thân mài kiếm, có người hỏi: “Mài kiếm làm gì?” Thắng đáp: “Muốn giết Tử Tây.” Tử Tây biết chuyện, cười nói: “Thắng như quả trứng, làm được trò gì.”
Bốn năm sau, Bạch công Thắng cùng Thạch Khất tập kích giết Lệnh doãn Tử Tây và Tư mã Tử Kỳ ngay tại triều nước Sở. Thạch Khất nói: “Không giết vua, không được.” Liền cướp vua đưa đến Cao Phủ. Kẻ theo Thạch Khất là Khuất Cố cõng Sở Huệ vương trốn vào cung Chiêu phu nhân. Diệp công nghe tin Bạch công làm loạn, thống lĩnh người trong nước tiến đánh. Bọn Bạch Công thua trận, chạy trốn vào trong núi rồi tự sát. Thạch Khất bị bắt làm tù binh, hỏi thi thể Bạch công ở đâu, không nói sẽ bị nấu chín. Thạch Khất nói: “Việc thành thì làm quan khanh, không thành thì bị nấu chín, đó vốn là chức phận vậy.” Rốt cuộc không chịu khai. Diệp công cho nấu chín Thạch Khất rồi đi tìm hậu duệ của Huệ vương để lập làm vua.
Thái sử công bàn rằng: Oán hận trong con người ta đáng sợ thay! Bậc vương giả còn không thể kết oán với bề tội dưới quyền, huống nữa là ngang hàng nhau! Ví phỏng Ngũ Tử Tư chết cùng Ngũ Xa, thì khác nào con sâu cái kiến. Bỏ nghĩa nhỏ, rửa thù lớn, lưu danh hậu thế, bi tráng thay! Đương khi Tử Tư cùng quẫn bên sông, ăn xin trên đường, tâm trí há có phút nào quên đất Dĩnh chăng? Vì thế ẩn mình nhẫn nhục để đạt được công danh, không phải bậc trượng phu lẫm liệt thì ai có thể làm được? Như Bạch công không tự lập làm vua thì công tích và mưu lược cũng không thể nói viết được vậy!
[1] Chấp khuê: cầm ngọc khuê, một chức phong tương đối cao đương thời.
[2] Hành nhân: chức quan phụ trách việc tiếp khách và nhận những vật phẩm người khác dâng biếu vua.
[3] Có chỗ phiên là "Bá Hỷ".
[4] Một thiên trong Thượng thư [sau thường gọi là Kinh Thư.]